Thời chuyển mùa nhớ bạn

THỜI CHUYỂN MÙA NHỚ BẠN
Kim Hoàng

Hẹn uống rượu ngắm trăng
Thời chuyển mùa nhớ bạn
Vui đi dưới mặt trời
Tứ Cô Nương bạn tôi

Thời chuyển mùa nhớ bạn
Thấm thía điều phước duyên
Ban mai chào ngày mới
Tỉnh thức cùng tháng năm

Lời thương ngày hội ngộ
Tình thân bên người hiền
Bạn quý mừng gặp mặt
Chuyện đời không thể quên.

Bạn tắm mát đời tôi
Bởi những điều bình dị
Có một ngày như thế
Thầy bạn là lộc xuân.

https://khatkhaoxanh.wordpress.com/

THỜI CHUYỂN MÙA NHỚ BẠN
Hoàng Kim


Ban mai tỉnh thức chào ngày mới
Sáng sớm bình tâm luyện tinh thần
Đức độ #Thungdung vui trí huệ
Phước lành vô sự dưỡng thân tâm
Dạy trẻ chẳng cầu danh với lợi
Học già nguyện ước thiện và hay
Sống giữa thiên nhiên mưa gió mát
Vui cùng người Ngọc nắng ban mai.

““Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh/ Đường về vó ngựa dẫm mây xanh/ Qua đèo chợt gặp mai đầu suối/ Đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành“ “Thiên lý tầm quân vị ngộ quân, Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân. Quy lại ngẫu quá sơn mai thụ, Mỗi đoá hoàng hoa nhất điểm xuân” Hồ Chí Minh “Tầm hữu vị ngộ’ “Thướng sơn” là ẩn ngữ giữa đời thường. Hoàng Kim may mắn phát hiện, cảm nhận, và kết nối tâm thức này với Chương trình Sắn Việt Nam VNCP, một chuyện đời không thể quên, Văn chương ngọc cho đời lắng đọng trầm tích thời gian vận mệnh đất nước, con người. “Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân/ Mang hài đạp phá lãnh đầu vân/ Quy lai khước phá mai hoa hạ/ Xuân tại chi đầu vị thập phân”. Bài thơ “Tầm hữu vị ngộ” của Bác Hồ đối họa với bài thơ cổ này thời Tống. Bài thơ tả một ni cô mang hài trèo đèo vượt núi cực khổ tìm xuân suốt ngày mà vẫn chẳng gặp xuân. Đến khi trở về mới thấy xuân đang hiện trên những cành mai trong vườn nhà.

Mận chín trĩu cành chờ tay hái
Cây xanh lộc muộn nắng tươi xuân
Đất duyên trời cảm đời thêm quả
Đón bạn về thăm ngọt trái cầm

Tôi chép lại bài thơ “Thời chuyển mùa nhớ bạn” của chính mình với 15 bài thơ tháng Ba của các bạn Lâm Cúc, Phan Chí Thắng, Đặng Kim Oanh, Trần Đăng Khoa, Nguyên Hùng, Nguyễn Thị Kim Liên, Nguyễn Thu Thủy, Bi Bo, Lê An Tôn, Nhược Mộng, Hoa Nắng, Nguyễn Bính, Đỗ Hồng, Bình Nguyên Trang, Phạm Ngọc với bốn bài bình thơ của Trọng Toàn, Hoài Vân, Chung Lê và Nguyễn Quang Vinh. Hình cuối bài là hai ảnh có trong chùm ảnh tư liệu Dấu xưa thầy bạn quý, TTC Group Sen vào hè; Lớp 10A TT ĐHNN2 Hà Bắc;

Cuộc đời thật hạnh phúc. Thầy bạn là lộc xuân. (Hoàng Kim chuyện đời tôi) xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thoi-chuyen-mua-nho-ban :

THÁNG BA
Lâm Cúc


Tháng ba
Núi vã mồ hôi
Hổn hà hổn hển
Cõng trời oằn lưng

Gió nóng như bầy ngựa rừng
Rùng rùng tung vó, hú lưng chừng đèo.

Nắng quạt lửa dọc đường chiều
Nướng cong cả giấc mơ nghèo, dòng sông.

THÁNG BA
Phan Chí Thắng


Tháng ba
Trưa chẳng tan sương
Gió xuyên áo kép
Con đường mờ xa

Lạnh như cắt thịt xẻo da
Như ai đã nỡ bỏ ta đi rồi

Mưa giăng mảnh lưới ngang trời
Ta là con cá mắc hoài niềm yêu

CucOanhVanNga
Lâm Cúc, Kim Oanh, Hoài Vân, Bích Nga, bốn người bạn, ảnh HK

THÁNG BA
Đặng Kim Oanh


Tháng ba
Nắng òa mặt đất
Nắng lên môi cười
Thầy em, tủm tỉm gọi mời
U em, lúng liếng, tươi tươi, giòn giòn

Nửa đêm hổn hển đầu non
Sáng ra áo kép vẫn còn bỏ không

Mình ơi
Thuận vợ thuận chồng
Tháng Ba sau
Có con bồng he…he…

THÁNG BA
Trần Đăng Khoa

Sau làn mưa bụi tháng ba
Lá tre bỗng đỏ như là lửa thiêu
Nền trời rừng rực ráng treo
Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay

THÁNG BA
Nguyễn Thu Thủy

Tháng Ba mưa bụi nhạt nhòa
Dăng dăng nỗi nhớ vỡ òa câu thơ
Mùa xuân xanh biếc non tơ
Ngập ngừng gõ cửa, người ngơ ngẫn lòng

Thấy như ở đáy mắt trong
Long lanh giọt nhớ, giọt mong, giọt chờ
Thoáng buồn, thoáng giận vu vơ
Tháng Ba lặng lẽ câu thơ ướt rồi!

Em đi để lại mình tôi
Bâng khuâng cùng với đơn côi bạn bầy
Đi tìm hơi ấm đâu đây
Dáng hình em vẫn còn đầy quanh tôi

Bàn tay, ánh mắt, dáng ngồi
Nhớ em tôi lại bồi hồi …tháng Ba !

BỒI HỒI THÁNG BA
Bi Bo

Giọt chờ, giọt nhớ long lanh
Đọng trên nhánh lộc non xanh xuân lòng
Thoáng hờn ở đáy mắt trong
Thoáng buồn lặng lẽ, người mong chưa về

Đơn côi tia nắng sang hè
Câu thơ thấm ướt, gió se se vần
Chập chờn hơi ấm thương thân,
Bóng hình anh vẫn rất gần đấy thôi

Bàn tay, ánh mắt , dáng ngồi
Bâng khuâng chợt tỉnh … bồi hồi tháng Ba

THÁNG BA
Lê An Tôn

mỏng mảnh đêm chừng qua vội
thời gian cũng chợt vỡ òa
tháng ba dùng dằng như thể
giữ dùm ai đó màu hoa.

tháng ba trời như xuống thấp
ngẩn ngơ mây trắng trên đầu
se se gió mùa đông bắc
ngập ngừng một chút hương cau.

tháng ba khoét sâu vào anh
vết đau một thời trai trẻ
ba hai năm rồi có lẽ
tư cơn sóng dậy đất bằng!

tháng ba tháng ba tháng ba
em đã mãi hoài xa lắc…

THÁNG BA CỦA EM
Nguyễn Thị Kim Liên

Tháng Ba của em là tấm gương soi
Ánh mắt mình lóng lánh
Tháng Ba bất ngờ trở lạnh
Em Nàng Bân trong ký ức của anh.

Trời bất chợt xám, bất chợt trong xanh
Em bất thần thấy mình đang đắm đuối.
Tháng Ba ơi, xin đừng lìa xa vội
Đã có gì đâu! Đã nói gì đâu!

Sao mỗi lần không được bên nhau
Sông Ngân Hà xa xôi, Vàm Cỏ Đông gần lắm
Con chim sáo sang sông, xổ lồng sáo tắm
Sông tháng Ba hồng thắm một lời mời.

Những Tháng Ba đã để lại trong đời,
Mùa hoan lạc, hoa đậu thành trái cấm
Em đợi anh, trao một lần áo ấm
Em Nàng Bân trong ký ức anh.

THÁNG BA
Nhược Mộng

Tháng ba
Xuân chửa kịp qua
Mai vàng nán lại
Hiên nhà tỏa hương.

Gió mang chút nắng vấn vương
Rủ chim giục giã gọi thương nhớ về.

Đành lòng dập tắt đam mê
Giữ tâm thanh tịnh nẻo quê thanh nhàn.

THÁNG BA
Hoa Nắng


Lòng đêm ôm nỗi nhớ
Ru mùa rụng phai tàn
Ngọn đèn đường trăn trở
Bóng đổ dài miên man

Tháng ba mờ sương khói
Phủ cơn lạnh cuối mùa
Chìm dần theo bóng tối
Tuyệt mù năm tháng xưa

Cõi linh hồn mộng mị
Bay thẫn thờ lênh đênh
Nhìn đời trôi hoen rỉ
Nhớ quên rồi nhớ quên

Ðêm nay ngồi bó gối
Thương kỷ niệm phiêu bồng
Như giòng sông vời vợi
Chở nỗi buồn mênh mông

CUỐI THÁNG BA
Nguyễn Bính


Chưa hè trời đã nắng chang chang,
Tu hú vừa kêu, vải đã vàng.
Hoa gạo tàn đi cho sắc đỏ
Nhập vào sắc đỏ của hoa xoan.

Mặt hồ vua đúc khối tiền sen,
Bươm bướm đông như đám rước đèn.
Ở bãi cỏ non má lộng gió,
Bắt đầu có những cánh diều lên .

Khóa hội chùa Hương đã đông rồi,
Hội đền Hùng nữa, đám thôn tôi.
Thôn tôi vào đám hai ngày chẵn,
Chỉ có chèo không, nhưng cũng vui.

Mọi làng đặt mã lễ kỳ yên,
Mũ với hình nhân, ngựa với thuyền.
Cho khỏi bà Nàng đi rắc đậu,
Quan Ôn bắt lính khổ dân hiền.

Đường lên chợ tỉnh, xa tăm tắp …
Nắng mới ôi chao, cát bụi mù.
Các chị trong làng đi bán lụa,
Giắt đầu từng nắm lá hương nhu.

Tất cả mùa xuân rộn rã đi
Xa xôi người có nhớ thương gì ?
Sông xưa chảy mãi làm đôi ngả,
Ta biết xuân nhau có một thì !

ĐƯỜNG THÁNG BA
Đỗ Hồng


Đường về tháng ba nắng vàng cuối phố
Bàn chân nhẹ tênh rong ruổi từng ngày
Mây đã bay rồi hồn gửi lại đây
Ngồi với cỏ cây nghe lòng nghiêng ngã

Đường về tháng ba tình xuân giục giã
Áo vàng còn bay ngoài ngõ hững hờ
Vườn cũ phai tàn từng bóng ngày thơ
Xe cộ xuống lên giữa đời xa lạ

Đường về tháng ba tình yêu mọc lá
Trên những cành khô rộn rã tiếng chim
Một đời loanh quanh anh vẫn đi tìm
Trong cõi bao la vầng trăng tri kỷ

Đường về tháng ba đất trời mộng mị
Bài thơ viết dài cho đến trăm năm
Tưởng như tình xưa bên gối đang nằm
Anh dang tay ôm nỗi buồn ray rứt

KHÚC THÁNG BA
Phạm Ngọc


Nắng tháng ba ươm vàng ngọn cỏ
Ngày đầu xuân gió cũng tìm về
Ta quẩn quanh nơi thành phố cổ
Đếm thời gian vỗ nhịp lê thê

Thôi vẫy tay chào yêu thương cũ
Lối xưa giờ còn lại thinh không
Khi buổi chiều tàn bên khung cửa
Âm vọng về nốt nhạc cô đơn

Nắng tháng ba buồn như vô tận
Chẳng còn gì để giữ được nhau
Trăm ngọn sóng xô bờ lận đận
Trôi dạt đời biết sẽ về đâu

Xa thật rồi lại xa thêm nữa
Ta và em hai nửa điạ cầu
Chỉ tháng ba về đưa tay vẫy
Xuân nơi này hẹn đến mùa sau.

NỖI NIỀM THÁNG BA
Bình Nguyên Trang


Năm ấy mẹ sinh em mùa đói
Tháng ba nhọc nhằn và hoa gạo rụng hố vôi
Cha đi vắng rét nàng Bân buốt nhói
Mẹ ướt mồ hôi, em khóc chào đời.

Cây gạo ấy bây giờ em vẫn nhớ
Năm tháng đi phai sắc đỏ mỗi mùa
Tuổi thơ em với bạn bè đồng lứa
Nhặt vỏ sò trên cát vắng ven sông…

Chị lớn lên. Và chị lấy chồng
Tháng ba oằn mình hình con đê cong
Bạn bè lớn lên. Rồi lại lấy chồng
Còn em đi xa…

Mỗi độ xuân về lại thương tháng ba
Buồn sướt mướt những chiều sương nhạt quá
Bãi sông nằm thương con đò vất vả
Chị lấy chồng đã mấy mùa hoa.

Ký ức em dội ướt 1 mái nhà
Thời gian phủ nỗi niềm lên màu rạ
Mẹ khâu vá 1 đời bên bức vách
Ngọn đèn chong chưa lụi tắt bao giờ.

Con một mình lặn lội với thơ
Mười tám tuổi không về quê như chị
Mẹ ướt mắt khuyên “đừng tập làm thi sĩ
Bạc muôn chừng thân gái con ơi”.

Tháng ba đi, hoa gạo nở hết rồi
Mẹ đếm tuổi em bằng cánh hoa mùa cuối.
Thư gửi em chừng là viết vội
Mẹ giục về đi lấy chồng thôi.

Tháng ba buồn dại ý hẳn ngậm ngùi
Nhắc em ngày sinh và hố vôi đầy hoa gạo rớt
Quê em đó, cơn mưa dài không ngớt
Khóc từ lúc sinh em cho đến tận bây giờ

Đành rằng tháng ba vẫn thắp màu hoa cũ
Nhưng có những điều phải sống khác ngày xưa.

THÁNG BA
Nguyên Hùng

Tháng Hai vừa khỏi cổng làng
Nắng ùa đầy ngõ, rộn ràng tháng Ba
Trốn em ra chợ tìm quà
Cuối cùng lại chọn chùm hoa đồng tiền
Mang về hí hửng trao em
Ngỡ là sẽ được nghe khen mấy lời
Cầm hoa em chỉ cười cười
“Sao anh bày vẽ hoa tươi làm gì
Đồng tiền khô cắm phong bì
Vừa nhanh vừa gọn em thì thích hơn”

Giật mình, vẫn kịp đỡ đòn
Thế thì bông súng em còn mê không?”

THÁNG BA THƠ CỦA NHỮNG NGƯỜI BẠN
Trọng Toàn

bài đăng trên Phan Chí Thắng Blog

Có lẽ hiếm gặp trường hợp ba người bạn làm ba bài thơ dưới cùng một tên gọi “Tháng ba” với ba tâm trạng, ba lối tiếp cận chủ đề khác nhau, và bài nào cũng hay, cũng đặc sắc. Xin cảm ơn ba tác giả và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Ở một đất nước có nhiều vùng khí hậu như Việt nam, khi ở Tây Nguyên tháng ba đang là “mùa con ong đi lấy mật”, thì ở đồng bằng Bắc Bộ “tháng ba bà già chết cóng”. Còn ở Nam Bộ tháng ba là tháng nóng nực gần cuối mùa khô. Cái khác biệt về khí hậu được Lâm Cúc, Phan Chí Thắng và Kim Oanh mượn để nói lên ba tâm trạng khác nhau.

Nhà thơ Lâm Cúc làm bài thơ Tháng Ba:

Tháng ba
Núi vã mồ hôi
Hổn hà hổn hển
Cõng trời oằn lưng

Gió nóng như bầy ngựa rừng
Rùng rùng tung vó, hú lưng chừng đèo.

Nắng quạt lửa dọc đường chiều
Nướng cong cả giấc mơ nghèo, dòng sông.

Đọc bài Tháng Ba của Lâm Cúc, Phan Chí Thắng ngẫu hứng làm một bài Tháng Ba khác, với cấu trúc giống như bài của Lâm Cúc gồm ba câu lục bát, câu đầu bị bẻ vụn thành thể thơ tự do; ý định ban đầu chỉ là hoạ với bạn cho vui:

Tháng ba
Trưa chẳng tan sương
Gió xuyên áo kép
Con đường mờ xa

Lạnh như cắt thịt xẻo da
Như ai đã nỡ bỏ ta đi rồi

Mưa giăng mảnh lưới ngang trời
Ta là con cá mắc hoài niềm yêu

Kim Oanh, người không hay làm thơ, thấy vậy cũng tham gia viết một bài Tháng Ba theo cách riêng của mình:

Tháng ba
Nắng òa mặt đất
Nắng lên môi cười
Thầy em, tủm tỉm gọi mời
U em, lúng liếng, tươi tươi, giòn giòn

Nửa đêm hổn hển đầu non
Sáng ra áo kép vẫn còn bỏ không

Mình ơi
Thuận vợ thuận chồng
Tháng Ba sau
Có con bồng he…he…

Cái nắng nóng kinh người được nhà thơ nữ Lâm Cúc tả chân độc đáo một cách nghiệt ngã “Núi vã mồ hôi, hổn hà hổn hển cõng trời oằn lưng” nhưng lại khoáng đạt rất nam nhi “Gió nóng như bầy ngựa rừng”, để rồi cuối cùng vẫn quay trở lại làm người phụ nữ chua xót nhận thức một thực tế tàn nhẫn: người nghèo chỉ có tài sản duy nhất là giấc mơ mà tài sản đó cũng đã bị cái nắng kia làm cho khô cong đi. Tả nắng nóng đến như thế thì thật là tài!

Bài thơ Tháng Ba cũng như nhiều bài thơ khác của Lâm Cúc thường dẫn người đọc đến cực trị của cảm xúc, những biên độ lớn của hình ảnh và sự bất mãn. Đọc xong ta thấy choáng váng, đau đớn, day dứt không nguôi (trích cảm nhận của Hoài Vân).

Như tự mình đã viết: “Xin phép nhà thơ Lâm Cúc cho tôi viết một bài Tháng Ba, lấy cái lạnh đối với cái nóng, cái buồn cụ thể đối với cái buồn mông lung…” Phan Chí Thắng lấy giấc mơ yêu thương bất tận để cố quên đi giấc mơ nghèo vô vọng trong thơ Lâm Cúc.

Tháng ba lạnh, sương giăng đầy làm cho con đường trở thành mờ xa giống như hình ảnh người yêu xa vời vợi. Đối nghịch với cái nóng ngoại cảnh có bầy ngựa rừng tung vó là cái lạnh nội tâm thầm kín:

Lạnh như cắt thịt xẻo da
Như ai đã nỡ bỏ ta đi rồi

Ta lạnh không hẳn vì trời lạnh, mà còn vì ta cô đơn, nhưng ta cô đơn kiêu hãnh:

Mưa giăng mảnh lưới ngang trời
Ta là con cá mắc hoài niềm yêu

Ta chấp nhận sự cô đơn, ta sung sướng vì ta được buồn, vì trong cái lạnh cắt da cắt thịt kia ta có được hơi ấm từ bên trong – sự nồng nàn của tình yêu, của hy vọng. Yêu được gọi là một niềm, giống như niềm tin, niềm hy vọng.

Bài thơ Tháng Ba của Phan Chí Thắng như một sự chia sẻ với Lâm Cúc – bạn mình và cũng như một lời nhắn với bạn hãy cố thoát ra khỏi nỗi tuyệt vọng dai dẳng.

Rất hiểu điều này, Kim Oanh làm một bài thơ Tháng Ba nữa để tham gia vào cuộc chơi đối thoại giữa hai nhà thơ với giọng tinh nghịch xưa nay của mình. Tháng Ba của Kim Oanh đầy nhựa sống:

Nắng òa mặt đất
Nắng lên môi cười

Khi nắng đã lên môi cười thì hai vợ chồng tất nhiên trở nên tình tứ hơn:

Thầy em, tủm tỉm gọi mời
U em, lúng liếng, tươi tươi, giòn giòn

Và thật bất ngờ, tác giả mạnh dạn dẫn người đọc đến một “sự kiện” thú vị không thể khác được trong cái tháng ba mùa con ong đi lấy mật đó:

Nửa đêm hổn hển đầu non
Sáng ra áo kép vẫn còn bỏ không

Diễn tả cái chuyện vợ chồng như thế thật là tài hoa, thật là khéo? Nửa đêm hổn hển, sáng ra cái áo tội nghiệp kia vẫn còn bị bỏ quên đâu đó. Chuyện khó nói đã được nói ra một cách tinh tế và thơ mộng, một vài hình ảnh đủ cho người đọc hình dung ra một đêm tháng ba ân ái của cặp vợ chồng trẻ. Cái hổn hển của đất trời trong thơ Lâm Cúc được Kim Oanh dùng lại trong một bối cảnh khác và tuy bị dùng lại, hai từ đó vẫn đắt giá như thường.

Kim Oanh khẳng định hạnh phúc cao quý, ước mơ to lớn nhất của người đàn bà là:

Mình ơi
Thuận vợ thuận chồng
Tháng Ba sau
Có con bồng he…he…

Bài thơ kết thúc bằng một tiếng cười đùa “he… he…” như muốn làm vui vẻ hoá cuộc đối đáp giữa hai bạn thơ Lâm Cúc – Phan Chí Thắng, tác giả đã cố tình nghịch ngợm một cách thông minh hóm hỉnh.

Ba người làm thơ đều nói về thời tiết. Nắng mưa không còn là chuyện của trời, nắng mưa chính là chuyện của thời tiết nội tâm con người.

Ở bài thơ thứ nhất, bạn đọc không tìm thấy nhân vật “tôi”, nhân vật đó xuất hiện ảo, nó là nỗi lòng của tác giả. Ở bài thứ hai, “Tôi” được xưng là “Ta”. Là chúng ta chứ không phải một người. Tác giả cho phép mình đại diện cho cảm xúc không của riêng ai. Riêng bài thơ thứ ba, tác giả không tham gia vào câu chuyện, mà để câu chuyện tự đến với bạn đọc. Ba bài thơ, ba cách nói khác nhau.

Từ một bài thơ dữ dội, trĩu nặng đau buồn của Lâm Cúc, chúng ta có thêm bài thơ sâu lắng dịu dàng yêu thương của Phan Chí Thắng và cả bài thơ cũng rất tài hoa của Kim Oanh khi chị khẳng định rằng hạnh phúc vĩnh hằng của người đàn bà là được yêu, được làm mẹ.

Có thể nói chùm ba bài thơ Tháng Ba rất hay này là một sự lạ và vui trong thơ văn blog.

MỘT SỐ CẢM NHẬN

Cảm nhận của Hoài Vân

Một bài bình rất tuyệt, Trọng Toàn đã làm chùm thơ tháng 3 này sáng lên lấp lánh!

Cảm nhận của Thành Chung

Đọc ba bài là thấy rõ đặc điểm tính cách của từng tác giả.

Lâm Cúc lúc nào cũng trăn trở, vật lộn với từng con chữ và dù có nói đến thiên nhiên, đến thời tiết thì vẫn quay về với sự nghiệt ngã của đời thường: “nướng cong cả giấc mơ nghèo, dòng sông”. Cần phải nói thêm, lời bình của Hoài Vân cũng làm cho bài thơ của Lâm Cúc lấp lánh hẳn lên.

Lão Hâm lại là người luôn đắm đuối với “YÊU”. Trong cái se lạnh của rét Nàng Bân, Lão thấy như mình bị bỏ lại. Lão tự nhận mình “là con cá mắc hoài niềm yêu”. Nếu có đem quẳng Lão vào giữa vùng “Gió nóng như bầy ngựa rừng” của Tánh Linh, chắc hẳn thơ của Lão cũng vẫn có những “con đường mờ xa” với những “mảnh lưới ngang trời”.

Kim Oanh vốn được biết đến là một cây bút tinh nghịch, hóm hỉnh và thông minh với những “chán nhau thì cưới”; “đánh rơi một ông chồng”…Chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu ta gặp trong bài thơ Tháng Ba một Kim Oanh rất nồng nàn, đam mê, một Kim Oanh muốn đi đến tận cùng của “làm chồng làm vợ” mà vẫn rất “chân quê”: “Thầy em tủm tỉm” và “U em lúng liếng”. Chắc hẳn nhiều người sẽ muốn gặp Kim Oanh “Sáng ra áo kép vẫn còn bỏ không” và để nghe giọng cười “he he” của chị.

Tôi từng nói với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo khi anh ở thăm New York: Lâm Cúc, Hoài Vân, Kim Oanh là “bộ ba XE-PHÁO-MÔ.

Cảm nhận của Nguyễn Quang Vinh

Hình như là đọc hơn năm lần. Vì cách đây một năm, Bọ chưa biết Blog là gì. Thế mà khi ấy, các chị Hoa Lục Bình, Lâm Cúc và anh Phan Chí Thắng đã mần tháng Ba.

Thơ- theo Bọ vốn là người rất thèm làm thơ mà không biết làm – Thơ là khoảng khắc, là cái chớp mắt của cảm xúc, nó như một ánh chớp từ trái tim mình. Thơ vì thế rất dễ làm mà cũng rất mộng mị,làm mãi không xong. Một câu thơ có khi viết cả đời không được.Nhưng một bài thơ hay có khi vụt sáng trên trang giấy chỉ trong khoảnh khắc.
Cả ba bài thơ tháng Ba này là ba ánh chớp: không chuẩn bị, không toàn tính, không cố ý, không chứng tỏ, thơ vụt ra hồn nhiên, bắt đầu từ sự vỡ òa cảm xúc một cây bút thông minh nhưng đau đời là Lâm Cúc, chuyển sang bài thơ khiêm nhường như là sự sẻ chia với người bạn mình ơi nơi xa lắm của Phan Chí Thắng, rồi cuối cùng là bài của Hoa Lục Bình như cách để kéo hai người bạn kia lại, vào bàn cà phê, nói đi chuyện khác, quên đi niềm yêu, niềm đau cho bạn vui.Thế thôi mà thành thơ hay cả ba bài.

Không ai có thể tuyên bố rằng, tớ đang chuẩn bị làm thơ hay đây như có người mới vào Blog đã vội tuyên bố rằng, các bác chuẩn bị cảm nhận nhé, cảm nhận từ từ thôi để em còn kịp trả lời. He he

Hoa Lục Bình, Lâm Cúc Phan Chí Thắng làm Tháng Ba là vì nghĩa bạn bè, là vì tiếp cho nhau một niềm an ủi, một sự sẻ chia, người xứ ấm thì gửi cho bạn ở xứ lạnh mấy câu thơ sưởi ấm. Người đang vui thì gửi cho bạn đang đau đời mấy câu thơ an ủi, cười xòa với nhau để cùng nhẹ lòng.Ba bài thơ lúc đầu chỉ đơn giản thế thôi, lấy cái nghĩa bạn, tình đời làm bệ phóng cho cảm xúc.Ba bài thơ khi ấy chỉ là riêng tư với nhau, quây quần chữ nghĩa với nhau, đốt chữ thành lửa, kéo người xa lại gần bên nhau mà tâm sự.

Nhưng ba bài thơ đã thành tài sản thơ của mọi người. Vì ngay cả người thù ghét, người đố kị, người nóng mặt nóng mũi với ba tác giả này thì trong thẳm sâu lương tri của họ, ý thức của họ, chút trí tuệ cuối cùng của họ vẫn phải thừa nhận là thơ hay.

Thơ hay không cần phiên dịch.Lâm Cúc làm thơ hay vì biết vận đời mình vào từng dấu phẩu. Thơ chị là cao đời, chắt ra từ cảm nhận, từ mồ hôi nước mắt của mình, từ cái áo đẹp chần chừ không dám mặc, đến cái chốt cửa buồng riêng hàng đêm mà vẫn khao khát thương yêu. Tháng ba của chị với chữ thơ hao gầy như đời chị, sắc nhọn, lấm lem bụi đời đã viết nên những câu thơ ép ngực người đọc.

Phan Chí Thắng bị tháng Ba của Lâm Cúc đốt cháy cảm xúc, thương bạn và nghĩ đến mình, làm thơ về tháng Ba nơi mình ở nhưng cũng là thông điệp gửi đến bạn, nếu khao khát sống, khát yêu nơi bạn bị cháy như tro than, như lửa ngút thì tôi ở ngoài nay, ôm mãi một niềm yêu nhớ, như dao cắt thịt xẻo da, như ai đã bỏ ta đi rồi. Chia sẻ thế để nói với bạn rằng, dù ở đâu, nắng hạ hay đông giá, niềm đau giống nhau, nỗi nhớ giống nhau, niềm yêu thương giống nhau và tình thương mến giống nhau. Thông điệp ấy là một thông điệp lớn.

Hai bài thơ như gửi nhau, chia sẻ nhau trên tình bạn thương mến ấy sẽ không có sự lấp lánh nếu không xuất hiện Tháng Ba của Hoa Lục Bình. Trong khi Phan Chí Thắng và Lâm Cúc vịn vào tháng Ba nơi mình đang sống để làm bật lên nỗi niềm của mình thì Hoa Lục Bình lại hồn nhiên miêu tả tháng Ba trong náo nhiệt của hạnh phúc với những câu thơ hóm hỉnh, tươi tắn và vô cùng thông minh. Những câu thơ rất hay.

Và nhờ tháng Ba của Hoa Lục Bình, Lâm Cúc và Phan Chí Thắng như có cái cầu vui để bước qua lại bên nhau, cầm lấy tay nhau trong cái tình người, tình bạn đáng quí trọng. Hoa Lục Bình dùng những câu thơ hóm hỉnh, sắc sảo và chan chứa hạnh phúc giăng ra thành một vầng sáng tươi, ấm áp, mát mẻ cho hai người bạn của mình.

Thiếu một trong ba bài, hẳn không trọn vẹn cho chúng ta đọc hôm nay. Thơ như thế, thì ngoài đời, tình bạn của họ chắc chắn khiến chúng ta phải ngưỡng mộ.

Thời chuyển mùa nhớ bạn, xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thoi-chuyen-mua-nho-ban/

BinhMinhYenTu

DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Bài ca nhịp thời gian
Run away with me.
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Hẹn uống rượu ngắm trăng

Tahenemuongruoungamtrang

HẸN UỐNG RƯỢU NGẮM TRĂNG
Hoàng Kim

Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng
Mấy khi đời có một người tri kỷ?
Nâng chén nhé!
Trăng vàng như giọt lệ
Buồn ư em?
Trăng vằng vặc trên đầu!

Ta nhớ Anh ta xưa mưa nắng dãi dầu
Khi biệt thế gian chọn trăng làm bạn
“Trăng tán trời mưa, trăng quầng trời hạn”
Dâu bể cuộc đời đâu chỉ trăm năm?

Mười lăm trăng qủa thật tròn
Anh hùng thời vận hãy còn gian nan
Đêm trăng nhát cuốc xới vàng
Trăng dòm, ta hẹn, trăng càng dòm thêm
Đất vàng, vàng ánh trăng đêm
Đêm khuya, ta với nàng quên nhọc nhằn.

Ta mời em uống rượu ngắm trăng
Mấy khi đời có một người tri kỷ?
Nâng chén nhé!
Trăng vàng như giọt lệ
Vui ư em?
Trăng lồng lộng trên đầu!

Ta nhớ Bạn ta vào tận vùng sâu
Để kiếm tìm ta, người thanh xứ núi
Cởi bỏ cân đai xênh xang áo mũ
Rượu đế, thưởng trăng, chân đất, đũa tre.

Hoa mận chờ trăng nhạt bóng đêm
Trăng lên vời vợi vẫn êm đềm
Trăng qua vườn mận, trăng thêm sáng
Mận đón trăng về, hoa trắng thêm

Ta cùng em uống rượu ngắm trăng
Ta có một tình yêu lặng lẽ
Hãy uống đi em!
Mặc đời dâu bể.
Trăng khuyết lại tròn
Mấy kẻ tri âm?

Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng Người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm

Hoàng Kim

Ban mai chào ngày mới Trăng rằm Ngọc Quan Âm https://youtu.be/VMOUG20Qbnc

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là trang-ram-2.jpg

TRĂNG RẰM NGỌC QUAN ÂM
Hoàng Kim

Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng Người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm.

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-ngoc-quan-am

#Thungdung 599
QÙA XUÂN THẬT TUYỆT VỜI
Hoàng Kim

Ngọc Quan Âm Mai Bồ Đề vườn cũ
Nắng thanh tân nước biếc trúc ngàn hoa
Tâm bình hòa tương lai không vọng tưởng
#Thungdung đời mình an định cùng ta

VIẾNG MỘ CHA MẸ
Thơ anh Hoàng Trung Trực

Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát đời con từ bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là gươm đao cha một thuở đau đời

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chãi bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi tưởng
Thuở thiếu thời dưới lồng cánh mẹ cha

“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”.

MỘT GIA ĐÌNH YÊU THƯƠNG
Hoàng Kim

Tổ tiên công đức muôn đời thịnh
Con cháu thảo hiền vạn kiếp vinh
Hà Nội Đồng Nai hai bầu sữa
Hoàng Trần Lê Nguyễn một con đường
Cậu Mẹ chở che tròn Nam Bắc
Anh Em thân thiết suốt tháng năm
Làng Minh Lệ quê tôi Hoa Đất
Quảng Bình đất Mẹ ơn Người

PHO TƯỢNG NGỌC QUAN ÂM
Hoàng Kim

Sáng mãi ngọc lưu ly
Pho tượng Ngọc Quan Âm
Bài đồng dao huyền thoại
Đường xuân đời quên tuổi
Ngày mới Ngọc cho
đời

Tôi biết pho tượng Ngọc Quan Âm và định kể câu chuyện này theo trình tự bố cục chặt của lối viết khoa học, cô lập tách biệt chuyện nhỏ gọn gàng dễ hiểu, để có một món quà quê nhân mùa Rằm Đản Sinh gửi tới quý thầy bạn. Nhưng thật lạ lùng, không hiểu sao, có một nghiệp lực vô hình mạnh mẽ cuốn hút tôi, mách bảo và khai mở cho tôi, khuyên rằng vừa noi lối cũ vừa cần tiếp hợp mới. Tôi hào hứng mở đầu bằng câu chuyện cây gổ TẾCH loại gỗ rất tốt ‘bán than’ tại chính trung sau Dinh Thống Nhất (Độc Lập) Ban mai chào ngày mới https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ban-mai-chao-ngay-moi/ ; và chép lại câu chuyện cũ Ngọc cho đời của chính mình thao thức trước đây

Văn chương ngọc cho đời
BÁN THAN
Trần Khánh Dư

Một gánh kiền khôn quẩy tếch ngàn
Hỏi chi bán đó, dạ rằng than
Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt,
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn
Ở với lửa hương cho vẹn kiếp
Thử xem sắt đá có bền gan
Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác
Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn
.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tran-khanh-du-ban-than/
(Cây gỗ TẾCH rất tốt cho bán than, chính trung phía sau dinh Thống Nhất)

Ong va Hoa

CÂY TÁO BÀI CA THỜI GIAN
Hoàng Kim

William Cullen Bryant (1794-1878) nhà thơ và nhà báo Mỹ đã viết “Bài ca cây táo” rất nổi tiếng. Lời vàng của bài thơ này đã tạc cây táo vào văn chương Anh Mỹ và văn hóa nhân loại nhưng sự dịch bài thơ này sang tiếng Việt hay và chuẩn là khó đến nản lòng. Mời bạn tham gia dịch thuật. Nguyên văn bài thơ và Bài thơ này Hoàng Kim tạm dịch như dưới đây, có nguyên tác tiếng Anh:và tạm dịch ý kèm theo

Cây táo bài ca thời gian
William Cullen Bryant ((1794-1878) nguyên tác tiếng Anh
Hoàng Kim tạm dịch thơ tiếng Việt

Cây táo này của chúng ta.
Ngọt ngào trăm suối rừng hoa xuân về.
Gió trời tải cánh đam mê,
Khi hương táo ngát tình quê gọi mời
Mở toang cánh cửa đất trời
Ong say làm mật bồi hồi bên hoa,
Hoa em mòn mỏi đợi chờ,
Nhánh hoa mừng trẻ mong chờ ngày sinh,
Hoa xuân của tiết Thanh Minh
Chúng ta trồng táo gieo lành phước duyên.

Nguyên tác tiếng Anh

“What plant we in this apple tree?
Sweets for a hundred flowery springs
To load the May-wind’s restless wings,
When, from the orchard-row,
he pours Its fragrance through our open doors;
A world of blossoms for the bee,
Flowers for the sick girl’s silent room,
For the glad infant sprigs of bloom,
We plant with the apple tree”

Nguồn: Classic Quotes by William Cullen Bryant
(1794-1878) US poet and newspaper editor
http://www.arcamax.com/knowledge/quotes/s-14832?ezine=2″

Tạm dịch ý:

Cây táo này của chúng ta.
Ngọt ngào cho trăm suối hoa xuân.
Tải cánh bồn chồn của gió tháng năm,
Khi các hàng táo đưa hương thơm
qua những cánh cửa mở;
Một thế giới của hoa cho ong,
hoa cho phòng tĩnh lặng của cô gái mòn mỏi đợi chờ,
nhánh hoa mừng cho trẻ sơ sinh,
Chúng ta trồng cây táo.


Hãy đi về phía mặt trời, bóng tối sẽ khuất sau lưng bạn (Tinh hoa văn hóa cổ)

GỐC MAI VÀNG TRƯỚC NGÕ
Hoàng Kim


“Anh trồng gốc mai này cho em!” Anh cả tôi trước khi mất đã trồng tặng cho tôi một gốc mai trước ngõ vào hôm sinh nhật con tôi. Cháu sinh đêm trước Noel còn anh thì mất lúc gần nửa đêm trăng rằm tháng giêng, trùng sinh nhật của tôi. Anh trò chuyện với anh Cao Xuân Tài bạn tôi trong khi tôi cùng vài anh em đào huyệt và xây kim tỉnh cho anh. Nhìn anh bình thản chơi với các cháu, tôi nao lòng rưng rưng. Chưa bao giờ và chưa khi nào tôi thấm thía những bài thơ về hoa mai cuối mùa đông tàn bằng lúc đó. Anh đi rằm xuân1994 do căn bệnh ung thư hiểm nghèo khi các con anh còn thơ dại.

Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

Bài kệ “Cáo tật thị chúng” (Cáo bệnh với đệ tử) của thiền sư Mãn Giác (1052 – 1096) trong Thiền Uyển Tập Anh và lời bình của anh về nhân cách người hiền, cốt cách hoa mai đã đi thẳng vào lòng tôi:

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mặt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.

(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Khi Lâm Cúc và anh Đình Quang trao đổi về chủ đề hoa mai, mạch ngầm tâm thức trong tôi đã được khơi dậy như suối nguồn tuôn chảy.

Đêm qua sân trước một cành mai

Thiền sư Mãn Giác viết bài kệ “Cáo tật thị chúng” khi Người 45 tuổi, sau đó Người đã an nhiên kiết già thị tịch. Bài thơ kiệt tác vỏn vẹn chỉ có sáu câu, ba mươi tư chữ, bền vững trãi nghìn năm. Đối diện với cái chết, thiền sư ung dung, tự tại, thấu suốt lẽ sinh tử: Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết / Đêm qua sân trước một cành mai.

Lời thơ thanh thoát, giản dị một cách lạ lùng! Thực tế cuộc sống đã được hiểu đầy đủ và rõ ràng. Bản tính cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và luôn vô thường. Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười/ trước mặt việc đi mãi/ trên đầu già đến rồi. Đó là qui luật muôn đời, hoa có tàn có nở, người có diệt có sinh. Hạnh phúc cuộc sống là phong thái luôn vui vẻ và sung sướng, thanh thản và thung dung, không lo âu, không phiền muộn. Sống với một tinh thần dịu hiền và một trái tim nhẹ nhõm.

Tình yêu cuộc sống thể hiện trong ý xuân và trật tự các câu thơ.“Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là “Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng/”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn/ Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẵn câu trước.

Hoa mai là biểu tượng của mùa xuân, của sự may mắn, vui tươi và trường thọ. Cành mai ẩn tàng thông điệp của mùa xuân. Hoa mai vừa có cốt cách, vừa đẹp thanh nhã, vừa có hương thơm và nở sớm nhất trong các loại hoa xuân. Vì vậy, hoa mai đã được chọn để biểu hiện cho cốt cách thanh cao của người hiền. Hoa mai, hoa đào, hoa lê, hoa mận có nhiều loài với vùng phân bố rộng lớn ở nhiều nước châu Á nhưng chỉ riêng mai vàng là đặc sản của Việt Nam, trong khi mai trắng và hoa đào là phổ biến tại Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và các nước Trung Á.

Mai vàng hoa xuân của Tết Việt

Mai vàng là đặc sản Việt Nam. Hoa mai, hoa đào, bánh chưng là hình ảnh Tết cổ truyền của dân tộc Việt. Hoa mai là một trong bốn loài hoa kiểng quý nhất (mai, lan, cúc, trúc) của Việt Nam đặc trưng cho bốn mùa. Hoa mai gắn liền với văn hóa, đời sống, tâm linh, triết lý sống, nghệ thuật ứng xử, thơ văn, nhạc họa. Hiếm có loài hoa nào được quan tâm sâu sắc như vậy

“Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh. Đường về vó ngựa dẫm mây xanh. Qua đèo chợt gặp mai đầu suối . Đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành” (Hồ Chí Minh 1890-1969); “Đêm qua sân trước một nhành mai” (Mãn Giác 1052-1096) “Lâm râm mưa bụi gội cành mai” (Trần Quang Khải 1241-1294); Ngự sử mai hai hàng chầu chắp/ Trượng phu tùng mấy rặng phò quanh” (Huyền Quang 1254-1334); Quét trúc bước qua lòng suối/ Thưởng mai về đạp bóng trăng” (Nguyễn Trãi 1380-1442); “Cốt cách mai rừng nguyên chẳng tục”( Nguyễn Trung Ngạn 1289-1370); “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” “Một đời chỉ biết cúi đầu vái trước hoa mai” (Nguyễn Du trăng huyền thoại 1765-1820) “Nhờ chúa xuân ưu ái/ Xếp đứng đầu trăm hoa/ Chỉ vì lòng khiêm tốn/ Nên hẵng nở tà tà” (Phan Bội Châu 1867-1940); “Mộng mai đình” (Trịnh Hoài Đức 1725-1825) ; “Non mai rồi gửi xương mai nhé/ Ước mộng hồn ta hóa đóa mai” (Đào Tấn 1845-1907); “Hững hờ mai thoảng gió đưa hương” (Hàn Mặc Tử 1912-1940) “Tìm em tôi tìm/ Mình hạc xương mai”(Trịnh Công Sơn 1939-2001),…

Gốc mai vàng trước ngõ. Rằm xuân lại nhớ anh. Cành mai rung rinh quả. Xuân sang lộc biếc cành. … Vườn nhà buổi sáng mai nay. Nước xao tăm cá vườn đầy nắng xuân. Mẹ gà quấn quýt đàn con. Đất lành chim đậu lộc xuân ân tình.

Hạnh phúc đâu chỉ là đích đến
hạnh phúc là con đường trãi nghiệm
vỗ về, chờ đợi, nhớ thương …
Gốc mai vàng trước ngõ là truyện nhiều năm còn kể …

themphucngayba
Hoàng Kim và cháu Hoàng Gia Minh ra thăm Gốc mai vàng trước ngõ. Hai mươi bảy năm trước, mẹ của cháu Hoàng Gia Minh là Hoàng Tố Nguyên (người mặc áo hồng trên đứng cạnh bác Hai Hoàng Ngọc Dộ), nay đã là giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. Gốc cây xưa là kỹ niêm tuổi thơ một thời.

Tôi nhớ mãi câu nói của anh Hai: “Dặn con cháu khiêm nhu cần kiệm. Cảnh mãi theo người được đâu em. Hết khổ hết cay hết vận hèn. Nghiệp sáng đèn giời đà chỉ rõ. Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen” (Khát vọng, thơ Hoàng Ngọc Dộ).

(Kim Notes lắng ghi chú: Nguyễn Du trăng huyền thoại – Người mang bảo kiếm tước đại trung tín hộ giá bên cạnh vua Lê và đọc sách cho vua Gia Long hẵn không thể là người tài thường. Thời thế nhiễu loạn, ngọc lầm trong đá đấy thôi ! (HK cẩn bình)

Gia phả họ Nguyễn ở Tiên Điền
Thanh Hiên Công – Con thứ Bảy (Nguyễn Du)
Nguồn: Lê Xuân Lít 2005. Hai trăm năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều Nhà Xuất bản Giáo Dục, 1995 trang ‘Tôi tin rằng các độc giả sẽ tìm thấy trong tập sách này tất cả những kết quả tiêu biểu nhất mà giới nghiên cứu và phê bình văn học đã thu được trong thời gian hai trăm năm kể từ khi Truyện Kiều ra đời’ (GS Cao Xuân Hạo); Gia phả cụ Nguyễn Du ở trang 73-81 của sách này, gồm 3 trang bản dịch tiếng Việt và 6 trang bản Hán Nôm; Nguyễn Thị Thanh Xuân (dịch) Tài liệu lưu trữ tại Viện Hán Nôm.

Công tên húy là Du , lúc nhỏ húy Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh năm Ất Dậu (1765) do bà Liệt phu nhân họ Trần sinh ra. Ba tuổi được phong ấm Hoằng Tín đại trung thành môn vệ úy xuất thân Thu Nhạc công. Ông dung mạo khôi ngô, lúc nhỏ Việp Quận công trông thấy lấy làm lạ ban cho bảo kiếm. Năm lên sáu , sách vở đọc qua một lượt là nhớ. Năm Quý Mão (1783) 19 tuổi dự khoa thi Hương ở trường Sơn Nam đỗ Tam trường. Xưa kia môn hạ của Trung Cẩn công là Hà Mỗ làm Chánh Thủ hiệu quân Hùng hậu ở Thái Nguyên , già rồi không có con muốn xin ông làm hậu tự. Trung Cẩn công đồng ý. Khi Hà Mỗ mất thì ông được tập chức của Hà Mỗ. Năm Kỷ dậu (1789) vua Lê chạy sang phương Bắc ông theo hộ giá không kịp, bèn trở về quê vợ, nương nhờ anh vợ là Đoàn Khắc Tuấn (Bàn gia phả chép nhầm. Phải là Đoàn Nguyễn Tuấn mới đúng, Người dịch NTTX viết), người Hải An, Quỳnh Côi, Sơn Nam là con Hoàng giáp Phó đô ngự sử Quỳnh Châu bá Đoàn Nguyễn Thục; (Đoàn Nguyễn Tuấn) tuổi trẻ lãnh giải nguyên kỳ thi Hương, nổi tiếng văn chương, làm quan đến Lại bộ Tả thị lang thời Tây Sơn, tước Hải Phái hầu; (Nguyễn Du) tập hợp hào mục để mưu đồ báo quốc, nhưng chí không đạt được , bèn quay về quê hương, yên vui với sơn thủy, tự đặt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ, lại hiệu là Nam Hải Điếu Đồ. Mùa đông năm Bính Thìn (1796) toan đi Gia Định , nhưng việc bị tiết lộ, bị tướng trấn thủ là Thận Quận công bắt giữ. Lòng trung nghĩa của ông khích phát thành thơ, có câu rằng: “Hán mạt nhất thời vô nghĩa sĩ. Chu sơ tam kỷ hữu ngoan dân”. Lại có câu: “Đản đắc kỳ tây thánh nhân xuất, Bá Di tuy tử bất vi nhân”. Thận Quận công vốn quen thân với Quế Hiên công là anh ruột của ông nên chỉ bắt giữ vài tháng rồi thả ông về. Mùa hạ năm Nhâm Tuất (1802) tháng sáu, Cao hoàng đế đến Nghệ An , ông đáp lời triệu ra yết kiến vua, phụng mệnh xuất thủ hạ hộ giá ra Bắc. Mùa thu tháng tám , được nhậm chức Tri huyện huyện Phù Dung (thuộc phủ Mục Bình, Khoái Châu, Sơn Nam) Tháng mười một thăng Tri phủ phủ Thường Tín (thuộc xứ Sơn Nam) Mùa đông năm Quý Hợi (1803), (Y sao trang đầu, còn nữa …)

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là hoangkim1.jpg

VUI ĐI DƯỚI MẶT TRỜI
Hoàng Kim

Hãy lên đường đi em
Ban mai vừa mới rạng
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui khỏe đời cho ta.

Ngocchodoi

Vui đi dưới mặt trời
Nắng dát vàng trên đồng xuân
Mưa ướt vệt bóng mây, tím sắc trời cuối hạ
Đất ước, cây trông, lòng nhớ …

Người tốt việc tốt trốn tìm đâu
trong giấc mơ tâm tưởng
Chuyện Bác Hồ ước ao dặn lại …
Ngôi nhà con hạnh phúc trăm năm
Bếp lửa ngọn đèn khuya
Vận mệnh cuộc đời cố gắng

Tình yêu là người thầy tốt hơn trách nhiệm
Đồng lòng đất cảm trời thương
Phúc hậu minh triết tận tâm
Cố gắng làm người có ích

Tháng năm tròn đầy vườn thiêng cổ tích
Mừng ban mai mỗi ngày tỉnh thức bình an
Chào ngày mới CNM365 Tình yêu cuộc sống
Thảnh thơi vui cõi phúc được thanh nhàn.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là 2-nhatoi.jpg

HỌC MẶT TRỜI TỎA SÁNG
Phúc hậu và an nhiên
Hoàng Kim


Học mặt trời tỏa sáng
Phúc hậu và an nhiên
Biết kiên trì việc chính
Học nước chảy đá mòn
Vui đi dưới mặt trời

xem tiếp Bảy định luật cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com/category/vui-di-duoi-mat-troiChuyện đồng dao cho em https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-dong-dao-cho-emhttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-ngoc-quan-am

TRĂNG RẰM ĐÊM VU LAN
Hoàng Kim


Chẳng thể thôi quên được
Trăng rằm Đêm Vu Lan
Bài ca nhịp thời gian
Cuối dòng sông là biển

CUỐI DÒNG SÔNG LÀ BIỂN
Hoàng Kim

An nhàn sau mùa gặt
Đầy trời còn mưa bay
Ta thì quen tháng đợi
Người vẫn lạ năm chờ
Nhịp thời gian gõ cửa

Hè qua rồi Thu tới
Đông về Xuân trở lạnh
Người ngoan việc nhiều
Nhân quả trời tạo nghiệp
Phước đức đất nuôi bền

Đường xuân đời quên tuổi
Cuộc đời phúc lưu hương
Cuối dòng sông là biển
Vui đi dưới mặt trời

Thiện lai Tì Khưu Bạch Ngọc xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cuoi-dong-song-la-bien/; https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram/; https://khatkhaoxanh.wordpress.com/

Đêm muộn
trăng rằm xuân thật sáng
ánh vàng đầy trời xanh
ta thì quen tháng nhớ
người vẫn lạ năm chờ
bài ca nhịp thời gian gõ cửa.

Đông qua là xuân tới
ngại chi đêm trở lạnh
lo chi ngày việc nhiều
biết nợ duyên nhân quả trời tạo nghiệp
hiểu chí thiện phước đức đất nuôi bền
đường xuân khát khao xanh

Vui đi dưới mặt trời
Bài ca nhịp thời gian

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nho-anh.jpg

NHỚ ANH
Hoàng Kim


Gốc mai vàng trước ngõ.
Trăng rằm lại nhớ anh.
Cành mai rung rinh quả.
Xuân sang lộc biếc cành.

Bài ca nhịp thời gian Run away with me https://youtu.be/_Bs4XcVufqY

Nhớ lại vầng trăng cũ
TRĂNG RẰM
Hoàng Kim

Đêm nay trăng rằm Đông tháng cuối
đầy trời còn mưa bay
ta thì quen tháng nhớ
người vẫn lạ năm chờ
thoáng chốc tháng mười hai gõ cửa

Mùa Đông đi qua là Xuân tới
ngại chi đêm trở lạnh
ngại chi ngày việc nhiều
biết nợ duyên nhân quả trời tạo nghiệp
hiểu chí thiện phước đức đất nuôi bền

Đường xuân khát khao xanh mãi
vui đi dưới mặt trời.

hoạ đối thơ Quyen Ngo

VU VƠ
Quyen Ngo

Thôi đừng nhắc bây giờ tháng mấy
khi trời còn mưa bay
ta còn đắp đổi nhớ
người còn bận bịu chờ
mắc mớ gì réo gọi tháng mười hai

Cuộc tình nào vừa mới đan tay
lo chi câu lỗi hẹn
lo chi đường còn dài
dẫu câu hát tuổi nào xa xôi lắm
chim én về chao liệng phía ban mai

Bài thơ nửa chừng bỏ ngỏ
Tin bão xa đang về…

Gió Phương Nam 18.12

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-sen-tay-ho/

DemNguyenTieu

TRĂNG RẰM SEN TÂY HỒ
Hoàng Kim

Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm.

Rằm Tháng Giêng năm 1994 gần nửa đêm là lúc mất của anh hai tôi Hoàng Ngọc Dộ, cũng là thời khắc tôi chào đời Rằm Tháng Giêng năm Giáp Ngọ 1954. Anh hai tôi lúc sinh thời có bài thơ Cuốc đất đêm, sau nay tôi tích hợp vào bài thơ Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng.

Bài tứ tuyệt “Trăng rằm sen Tây Hồ” được anh Gia Dũng chọn đưa vào “Ngàn năm thương nhớ” tuyển thơ Thăng Long Hà Nội (1010-2010) và anh Nguyễn Chu Nhạc có bài thơ Con chim xanh với bảy chữ xanh ngẫu đối với bảy chữ trăng trong “Trăng rằm sen Tây Hồ”; Nhà thơ Nguyễn Lâm Cúc có chùm thơ Đãi trăng, Không hẹn hò đời hóa hoang vu; Hát vu vơ thật hay. Tôi đã lưu lại chung chuyên trang này để làm kỷ niệm trong thông tin ‘Trăng rằm sen Tây Hồ’ tại https://hoangkimlong.wordpress.com/2015/03/05/trang_ram-sen-tay-ho/ . Năm nay nhân cậu Hoàng Gia Cương đã bảo tồn bài thơ “Hồ Gươm” của ông Minh Sơn Hoàng Bá Chuân là em ruột của bà ngoại tôi với cậu tôi là bài “Rùa ơi”. Tôi xin được chép về ở chung trang này https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-sen-tay-ho/

Hồ Gươm
Minh Sơn Hoàng Bá Chuân

Tô điểm Hà Thành một hạt châu
Ấy hồ Lục Thủy tiếng từ lâu
Trăng vờn cổ thụ mây lồng nước
Tháp hướng trời xanh gió lộng cầu !
Kiếm bạc hưng bang rùa vẫn ngậm?
Bút son kiến quốc hạc đương chầu !
Trùng trùng lá biếc hoa phơi gấm
Kía tượng vua Lê chót vót cao !

Minh Sơn Hoàng Bá Chuân NGÀN NĂM THƯƠNG NHỚ
Gia Dũng Tuyển thơ Thăng Long Hà Nội, trang 782

Rùa ơi
Hoàng Gia Cương

Rùa ơi, quá nặng phải không
Cõng bia Tiến sĩ lưng còng vậy ư?
Mấy trăm năm gội nắng mưa
Dẫu cho mòn đá cũng chưa xao lòng!

Hoa đời như sắc phù dung
Đổi thay sớm tối, khôn lường thịnh suy
Ngàn năm còn mất những gì
Mà hàng bia vẫn rạng ghi tên người!

Biết ơn rùa lắm rùa ơi
Giữ cho ta một khoảng trời nhân văn
Để tôn vinh bậc trí nhân
Để nền văn hiến nghìn năm không nhòa

Rùa ơi ta chẳng là ta
Nếu như đạo học lìa xa đất này

Hoàng Gia Cương NGÀN NĂM THƯƠNG NHỚ
Gia Dũng Tuyển thơ Thăng Long Hà Nội, trang 932
Hoàng Gia Cương THEO DÒNG THỜI GIAN
Thơ tuyển chọn 2013. NXB Văn Học Hà Nội, tr. 266

Trăng rằm xưa và nay
TRĂNG RẮM ĐÊM NGUYÊN TIÊU
Cuốc đất đêm
Hoàng Ngọc Dộ

Mười lăm trăng qủa thật tròn
Anh hùng thời vận hãy còn gian nan
Đêm trăng nhát cuốc xới vàng
Trăng dòm, ta hẹn, trăng càng dòm thêm
Đất vàng, vàng ánh trăng đêm
Đêm khuya, ta với nàng quên nhọc nhằn.

Con chim xanh
Chu Nhạc

Con chim xanh trong tán lá xanh
Chỉ một màu xanh lay động
Tiếng hót nào trên trời xanh cao rộng
Con chim xanh bay rồi tán lá vẫn xanh.

(*) Ngẫu đối Chim xanh 7 chữ xanh và Trăng rằm 7 chữ trăng.

Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng
Hoàng Kim
Thân tặng Lâm Cúc

Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng
Mấy khi đời có một người tri kỷ?
Nâng chén nhé!
Trăng vàng như giọt lệ
Buồn ư em?
Trăng vằng vặc trên đầu!

Ta nhớ Anh ta xưa mưa nắng dãi dầu
Khi biệt thế gian chọn trăng làm bạn
“Trăng tán trời mưa, trăng quầng trời hạn”
Dâu bể cuộc đời đâu chỉ trăm năm?

Mười lăm trăng qủa thật tròn
Anh hùng thời vận hãy còn gian nan
Đêm trăng nhát cuốc xới vàng
Trăng dòm, ta hẹn, trăng càng dòm thêm
Đất vàng, vàng ánh trăng đêm
Đêm khuya, ta với nàng quên nhọc nhằn (1)

Ta mời em uống rượu ngắm trăng
Mấy khi đời có một người tri kỷ?
Nâng chén nhé!
Trăng vàng như giọt lệ
Vui ư em?
Trăng lồng lộng trên đầu!

Ta nhớ Bạn ta vào tận vùng sâu
Để kiếm tìm ta, người thanh xứ núi
Cởi bỏ cân đai xênh xang áo mũ
Rượu đế, thưởng trăng, chân đất, đũa tre.

Hoa mận chờ trăng nhạt bóng đêm
Trăng lên vời vợi vẫn êm đềm
Trăng qua vườn mận, trăng thêm sáng
Mận đón trăng về, hoa trắng thêm

Ta cùng em uống rượu ngắm trăng
Ta có một tình yêu lặng lẽ
Hãy uống đi em!
Mặc đời dâu bể.
Trăng khuyết lại tròn
Mấy kẻ tri âm?

Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm

Hoàng Kim
1) Hoàng Ngọc Dộ. Cuốc đất đêm

Đãi trăng
Nguyễn Lâm Cúc

Hôm nay nhàn ta mở tiệc mời trăng
Để thỏa thích bưng dòng sông ra uống
Bày lên mâm là dạt dào cảm hứng
Bạn tri âm, bạn có vui cùng?

Này trăng, trăng chớ ngại ngần
Cạn ly nhé. Sông có vơi cũng mặc.
Say thì say nhưng đừng khóc!
Trần gian…cứ mặc kệ trần gian.

Không hẹn hò đời hóa hoang vu
Nguyễn Lâm Cúc

Hôm nay buồn lại bày tiệc gọi trăng
Lại mời rượu
Lại bưng sông ra uống
Đặt lên mâm những quả tình nẫu chín
Hái từ vườn ấp ủ trăm năm

Nào,
Cạn ly nhé trăng!
Chớ có chau mày mà xôn xao vằng vặc
Mây bạc đầu còn lang thang như hành khách
Dưới vòm trời nơi nao chẳng cô đơn?

Chốn ồn ào chắc gì đã vui luôn?
Nói nhiều, cười nhiều. Mấy câu là thật
Đâu hay gì khi khoe sầu chất ngất
Nhưng ít ra đó là nỗi lòng ta

Nào,
Nghiêng sông, rót nữa trăng ha!
Muôn thuở tràn trên chén đầy dâu bể
Trăng ơi!
Ta có một tình yêu lặng lẽ
Không hẹn hò đời hóa hoang vu.

Hát vu vơ
Nguyễn Lâm Cúc

Trần gian một chuyến rong chơi
Thấy trăng giữa chợ, đông người vỗ tay
Mua vui một cuộc rõ hài
Gọi trăng, trăng khẽ chau mày rồi thôi…

Gõ sênh, vỗ phách, tôi cười
Nghêu ngao cất giọng hát lời bốn phương

Đó đường, đây đường, kia đường
Mà sao phải cứ đoạn trường bước đi
Buốt làm sao câu trở về
Có bằng ngồi tạm vĩa hè…mà chơi

Tình ơi! Nghĩa ơi! Thương ơi!
Bao lần ngoảnh lại gọi người khản khô
Tưởng sông rồi lại tưởng đò
Những lất phất ấy…chỉ bờ lau thưa.

TRĂNG RẰM VUI CHƠI GIĂNG
Hoàng Kim
:

Em đi chơi cùng Mẹ
Trăng rằm vui chơi giăng
Thảo thơm vui đầy đặn
Ân tình cùng nước non.

Trăng khuyết rồi lại tròn
An nhiên cùng năm tháng
Ơi vầng trăng cổ tích
Soi sáng sân nhà em.

Đêm nay là đêm nao?
Ban mai vừa ló dạng
Trăng rằm soi bóng nắng
Bạch Ngọc trời phương em

*

Trăng rằm đường sáng dạo chơi giăng,
Nhớ Bác đôi câu hỏi chị Hằng:
“Thế nước thịnh suy sao đoán định?
Lòng dân tan hợp biết hay chăng?
Vành đai thế biến nhiều mưu hiểm,
Con đường lực chuyển lắm lăng nhăng?
Dân Nam Tiếng Việt nhiều gian khó
Hưng thịnh làm sao hỡi chị Hằng?”.

*
“Bác Hồ thơ ‘Chơi giăng’ đó ông
Vầng trăng cổ tích sáng non sông,
Tâm sáng đức cao chăm việc tốt
Chí bền trung hiếu quyết thắng không?
Nội loạn dẹp tan loài phản quốc
Ngoại xâm khôn khéo giữ tương đồng.
Khó dẫu vạn lần dân cũng vượt.
Lòng dân thế nước chắc thành công”.

Nguyên vận thơ Bác Hồ
CHƠI GIĂNG
Hồ Chí Minh


Gặp tuần trăng sáng, dạo chơi giăng,
Sẵn nhắn vài câu hỏi chị Hằng:
“Non nước tơi bời sao vậy nhỉ?
Nhân dân cực khổ biết hay chăng?
Khi nào kéo được quân anh dũng,
Để dẹp cho tàn bọn nhố nhăng?
Nam Việt bao giờ thì giải phóng
Nói cho nghe thử, hỡi cô Hằng?”.

*
Nguyệt rằng: “Tôi kính trả lời ông:
Tôi đã từng soi khắp núi sông,
Muốn biết tự do chầy hay chóng,
Thì xem tổ chức khắp hay không.
Nước nhà giành lại nhờ tài sắt,
Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng.
Tổ chức, tuyên truyền càng rộng rãi,
Tức là cách mệnh chóng thành công”.

Báo Việt Nam độc lập, số 135, ngày 21-8-1942. Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-vui-choi-giang/

HÀ NỘI MÃI TRONG TIM
Hoàng Kim

Đền Ngọc Sơn Hồ Gươm
Hoàng Thành ngọc cho đời
Tháp Bút viết trời xanh
Trăng rằm sen Tây Hồ

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/den-ngoc-son-ho-guom/https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-thanh-ngoc-cho-doi/
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thap-but-viet-troi-xanh/
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-sen-tay-ho/

Sớm xuân Đại Lãnh
Bình minh Đại Lãnh
Tàu qua Đại Lãnh
Đá Dựng Đại Lãnh

SỚM MAI QUA ĐẠI LÃNH
Hoàng Kim

Vui được dịp sớm mai qua Đại Lãnh
Ngắm đất trời núi biển lúc hừng đông
Nghe vó ngựa ruổi dài đường vạn dặm
Đá Bia ơi.thăm thẳm đất Tiên Rồng

Xem tiếp: Những người bạn thân thiết của tôi


Ảnh lưu niệm Đức Linh: Đinh Đình Chiến, Phan Chí Thắng, Nguyễn Lâm Cúc. Chùm thơ Lâm Cúc: Đãi Trăng, Hát vu vơ, Không hẹn hò đời hóa hoang vu. Lâm Cúc nhà thơ nỗi đau, tản văn của Phan Chí Thắng.

ĐÃI TRĂNG
Nguyễn Lâm Cúc

Hôm nay nhàn ta mở tiệc mời trăng
Để thỏa thích bưng dòng sông ra uống
Bày lên mâm là dạt dào cảm hứng
Bạn tri âm, bạn có vui cùng?

Này trăng, trăng chớ ngại ngần
Cạn ly nhé. Sông có vơi cũng mặc.
Say thì say nhưng đừng khóc!
Trần gian…cứ mặc kệ trần gian.

HÁT VU VƠ
Nguyễn Lâm Cúc

Trần gian một chuyến rong chơi
Thấy trăng giữa chợ, đông người vỗ tay
Mua vui một cuộc rõ hài
Gọi trăng, trăng khẽ chau mày rồi thôi…

Gõ sênh, vỗ phách, tôi cười
Nghêu ngao cất giọng hát lời bốn phương

Đó đường, đây đường, kia đường
Mà sao phải cứ đoạn trường bước đi
Buốt làm sao câu trở về
Có bằng ngồi tạm vĩa hè…mà chơi

Tình ơi! Nghĩa ơi! Thương ơi!
Bao lần ngoảnh lại gọi người khản khô
Tưởng sông rồi lại tưởng đò
Những lất phất ấy…chỉ bờ lau thưa

KHÔNG HẸN HÒ ĐỜI HÓA HOANG VU

Nguyễn Lâm Cúc

Hôm nay buồn lại bày tiệc gọi trăng
Lại mời rượu
Lại bưng sông ra uống
Đặt lên mâm những quả tình nẫu chín
Hái từ vườn ấp ủ trăm năm

Nào,
Cạn ly nhé trăng!
Chớ có chau mày mà xôn xao vằng vặc
Mây bạc đầu còn lang thang như hành khách
Dưới vòm trời nơi nao chẳng cô đơn?

Chốn ồn ào chắc gì đã vui luôn?
Nói nhiều, cười nhiều. Mấy câu là thật
Đâu hay gì khi khoe sầu chất ngất
Nhưng ít ra đó là nỗi lòng ta

Nào,
Nghiêng sông, rót nữa trăng ha!
Muôn thuở tràn trên chén đầy dâu bể
Trăng ơi!
Ta có một tình yêu lặng lẽ
Không hẹn hò đời hóa hoang vu.

LÂM CÚC, NHÀ THƠ NỖI ĐAU
Phan Chí Thắng 
Tôi luôn cảm thấy mình còn mắc nợ một bài viết về thơ Lâm Cúc. Không phải nợ Lâm Cúc mà nợ chính mình.Tôi bắt đầu đọc Lâm Cúc từ bên BlogViet. Khi cả làng di cư sang vnweblogs năm 2007, tôi tiếp tục đọc nàng. Rồi tôi vượt mấy ngàn cây số, lên tận Đức Linh – Bình Thuận tìm gặp nhà thơ, ăn bữa cơm canh cá với Lâm Cúc và vài người bạn, xin được một cuốn Đãi Trăng kèm theo lời thì thầm của tác giả: “Em chỉ còn có một cuốn này thôi…

”Bên cạnh Phạm Dạ Thủy nữ tính theo kiểu truyền thống, Võ Kim Ngân đằm thắm thiết tha, Vũ Thanh Hoa bùng nổ đam mê, Huỳnh Thuý Kiều mới lạ đâm chồi, Tóc Nguyệt đa mang suy tưởng, Hoàng Thanh Trang đột phá tìm tòi, Mắt nâu chân dài thổn thức yêu đương, Đặng Mỹ Duyên tơ vò đắm đuối…cùng nhiều cây viết nữ bloggers khác,

Lâm Cúc là một hiện tượng khác biệt. Lâm Cúc làm thơ như người đàn bà sinh nở. Đớn đau quằn quại. Chính vì thế mà thơ nàng không nhiều, cho đến nay mới xuất bản vỏn vẹn có mỗi một tập Đãi trăng không dày dặn. Một người bạn yêu thơ Lâm Cúc nói rằng thơ in ra hình như nhiều chỗ bị sửa, không hay bằng nguyên bản. Lâm Cúc không cãi. Nàng không thuộc thơ mình. Việc thuộc thơ Lâm Cúc là dành cho người khác. Các nhà thơ nữ thường viết thơ yêu. Yêu và được yêu. Hết yêu hoặc hết được yêu. Nồng nàn thắm thiết vụng dại đắm đuối si mê… Có thể có đau nhưng là cái đau của tình yêu nam nữ. Nhưng chưa ai viết thơ đau như Lâm Cúc.

Trong bài “Lòng ta”, Lâm Cúc tự bạch:

Có những lúc ta ngồi như đá núi
Trầm mặc trăm năm, cô quạnh ngàn đời
Lòng thương ta, lòng khe khẽ nói
Ồn ào ngoài kia cũng là chốn không lời.

Ta vỗ về lòng,
Đừng đau nữa lòng ơi !


Nàng thừa nhận là mình đau. Vì sau đau? Đó là vì: Mồ côi

Vinh hạnh được là người
Tôi mang nỗi nhục không thành người!
Lột bỏ mọi vỏ bọc
Trầy trụa một hồn tôi!
Tôi ôm hồn ngồi khóc
Chợt hiểu hồn mồ côi!


Cái đau của Lâm Cúc là cái đau khi thấy nhiều người không muốn hoặc muốn mà không được sống làm người với đầy đủ ý nghĩa của hai từ làm người. Nàng lấy mình ra để nói thiên hạ. Thậm chí trước cảnh một đôi nam nữ hẹn hò, họ đang ngập tràn hạnh phúc mà Lâm Cúc vẫn sợ một nỗi đau sẽ đến với họ:

Người ta hẹn hò, mà lòng tôi cứ rưng rưng
Mà đứng ngồi cứ vô hồi xao xuyến
Liệu người ta có buồn lúc đưa tiễn?
Liệu người ta có đau lắm! Liệu người ta…

(Vô cớ)

Lâm Cúc ít khi viết dài. Nhiều bài thơ ngắn hoặc rất ngắn. Nó ngắn như một cái dằm, cứ cắm vào da thịt người đọc, làm người ta cứ đau hoài, day dứt. Xuân Diệu, Xuân Quỳnh và rất nhiều nhà thơ khác viết về biển. Họ ví đôi tình nhân như bờ với biển, như thuyền với biển. Biển hùng vĩ và bao la luôn là đề tài bất tận của các thi nhân.

Lâm Cúc cũng viết về biển, nhưng rất ngắn và không giống ai:

Kìa biển
Bao la
Xanh thẳm
Rạt rào


Sẽ ra sao
Một mai anh khát
Biển dường kia
Không uống được giọt nào?

Một logic bất ngờ. Một cách thể hiện tình yêu rất lạ. Yêu anh và lo cho anh một ngày nào đó sẽ khao khát vô vọng. Tứ thơ rất đàn bà và rất Lâm Cúc.

Lâm Cúc có bài thơ “Để khoe cho hết”

Khi yêu thương bỏ ta đi
Nhân gian hóa thạch những gì đang hương

Đóng đinh lên vách linh hồn
Treo trong thân xác nỗi buồn váng rêu
Đục lòng cho rỗng để kêu
Bùm, beng chiêng trống.
Người theo chân người
Nhe răng ra đếm nụ cười
Để khoe cho hết,
một đời rỗng không.

Câu thơ “Đục lòng cho rỗng để kêu” là một câu thơ đau tuyệt vời! Còn: Nhe răng ra đếm nụ cười Thì quả là đỉnh điểm của chua chát? Nghệ thuật thơ Lâm Cúc là nghệ thuật hình ảnh của ngôn  từ. Ngôn từ đậm đặc. Hình ảnh dữ dội.

Tối rất thích bài “Tháng ba”:

Tháng ba
Núi vã mồ hôi
Hổn hà hổn hển
Cõng trời oằn lưng


Gió chướng như bầy ngựa rừng
Rùng rùng tung vó, hú lưng chừng đèo.
Nắng quạt lửa dọc đường chiều
Nướng cong cả giấc mơ nghèo, dòng sông.

Mỗi câu là một hình ảnh. Ngoài sự dữ dội, nó còn rất khoáng đạt. Thật bất ngờ khi gặp sự khoáng đạt nơi một nhà thơ nữ. Đau cho mình, đau cho đời, Lâm Cúc thể hiện nỗi đau đó trong thơ. Nhưng ở ngoài đời sống thực, nàng cô đơn. Nàng phải tìm đến trăng để giải bày tâm sự:

Đãi Trăng
Hôm nay nhàn, ta mở tiệc mời Trăng
Để thỏa thích bưng dòng sông ra uống!

Rót lặng thinh vào vô biên độ lượng
Đêm giang tay trên thập tự mênh mông.

Này Trăng
Ta cũng có một tấm lòng…
Để tha thứ và để đau nông nổi
Trăng có gì riêng mà trầm tư chẳng nói?
Cứ xa xăm, cứ lẳng lặng bên trời.

Cạn ly nhé,
Sông có vơi cũng mặc
Say thì say, nhưng đừng khóc
Dẫu thế nao vẫn cứ ngả nghiêng cười.

Bứt ra khỏi hiện thực, nhà thơ vẫy vùng trong mơ. Nàng cho phép mình đại ngôn, mang cả dòng sông ra để uống. Nhưng vẫn thấy đêm chỉ là một cái thập tự mênh mông! Tưởng là đãi trăng, nào ngờ nàng thổn thức:

Ta cũng có một tấm lòng…
Để tha thứ và để đau nông nổi


Khi phải thốt lên “Ta cũng có một tấm lòng”, thi sỹ khóc nhiều hơn là cười? Nhưng vẫn cười:

Say thì say, nhưng đừng khóc
Dẫu thế nao vẫn cứ ngả nghiêng cười


Ta gặp lại ở Lâm Cúc bóng dáng những nhà thơ – nhà nho bất đắc chí, khóc với đời, khóc cho đời và cất lên tiếng cười ngạo mạn. Đời này có mấy ai biết khóc như ta? Ai quen Lâm Cúc hẳn đều luôn được nghe tiếng cười “ha ha” của nàng qua điện thoại. Nghe tiếng cười đó, không ai nghĩ Lâm Cúc là một nhà thơ đau. Thơ Lâm Cúc không rơi vào cái tầm thường nhi nữ, không sụt sùi nhớ nhớ thương thương, không oán giận hờn ghen vun vặt. Nàng lặng lẽ “đảo chính” trong thơ. Thơ nàng muốn vuơn đến những giá trị mới, phủ định những cái sáo mòn cũ kỹ, vô vị.

Nhưng không phải lúc nào Lâm Cúc cũng đau. Có những lúc nàng thanh thoát, tự nhiên, nhẹ nhàng như chính bản chất con người nàng, như chính cái điều mà nàng khao khát:

Chiều quá buồn
Chút nữa e là mưa
Cây nhớ người
Cành lá rũ ngẩn ngơ
Dáng ai giờ
Bụi sương giăng mờ che
Áo thu
Trời khoác cả sang hè.
(Cây nhớ người)

Bài thơ giàu nhạc điệu. Hồn thi sĩ trải rộng, hòa quyện với thiên nhiên mùa thu. Tôi yêu quý nhiều nhà thơ nữ mà tôi quen biết. Lâm Cúc, người đang sống và làm việc ở một huyện miền núi xa lắc của Bình Thuận, có một vị trí rất đặc biệt trong số họ. Lâm Cúc viết không nhiều. Nhưng bài thơ nào của nàng cũng thuộc loại “chết người”! Ngày đầu năm 2011, tôi loay hoay viết bài này. Viết xong vẫn không biết mình đã trả được món nợ mấy năm rồi hay chưa?

DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Bài ca thời gian
Run away with me.
I will be right here waiting for you
Run away with me

Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, hoangkim vietnam; Kim on Twitter

 
 
 

Pho tượng Ngọc Quan Âm

PHO TƯỢNG NGỌC QUAN ÂM
Hoàng Kim

Sáng mãi ngọc lưu ly
Pho tượng Ngọc Quan Âm
Bài đồng dao huyền thoại
Đường xuân đời quên tuổi
Ngày mới Ngọc cho
đời

Tôi biết pho tượng Ngọc Quan Âm và định kể câu chuyện này theo trình tự bố cục chặt của lối viết khoa học, cô lập tách biệt chuyện nhỏ gọn gàng dễ hiểu, để có một món quà quê nhân mùa Rằm Đản Sinh gửi tới quý thầy bạn. Nhưng thật lạ lùng, không hiểu sao, có một nghiệp lực vô hình mạnh mẽ cuốn hút tôi, mách bảo và khai mở cho tôi, khuyên rằng vừa noi lối cũ vừa cần tiếp hợp mới. Tôi hào hứng mở đầu bằng câu chuyện cây gổ TẾCH loại gỗ rất tốt ‘bán than’ tại chính trung sau Dinh Thống Nhất (Độc Lập) Ban mai chào ngày mới https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ban-mai-chao-ngay-moi/ ; và chép lại câu chuyện cũ Ngọc cho đời của chính mình thao thức trước đây

Văn chương ngọc cho đời
BÁN THAN
Trần Khánh Dư

Một gánh kiền khôn quẩy tếch ngàn
Hỏi chi bán đó, dạ rằng than
Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt,
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn
Ở với lửa hương cho vẹn kiếp
Thử xem sắt đá có bền gan
Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác
Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn
.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tran-khanh-du-ban-than/
(Cây gỗ TẾCH rất tốt cho bán than, chính trung phía sau dinh Thống Nhất)

OngvaHoa



Hãy đi về phía mặt trời
, bóng tối sẽ khuất sau lưng bạn (Tinh hoa văn hóa cổ)

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là hoangkim1.jpg

VUI ĐI DƯỚI MẶT TRỜI
Hoàng Kim

Hãy lên đường đi em
Ban mai vừa mới rạng
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui khỏe đời cho ta.

Ngocchodoi

Vui đi dưới mặt trời
Nắng dát vàng trên đồng xuân
Mưa ướt vệt bóng mây, tím sắc trời cuối hạ
Đất ước, cây trông, lòng nhớ …

Người tốt việc tốt trốn tìm đâu
trong giấc mơ tâm tưởng
Chuyện Bác Hồ ước ao dặn lại …
Ngôi nhà con hạnh phúc trăm năm
Bếp lửa ngọn đèn khuya
Vận mệnh cuộc đời cố gắng

Tình yêu là người thầy tốt hơn trách nhiệm
Đồng lòng đất cảm trời thương
Phúc hậu minh triết tận tâm
Cố gắng làm người có ích

Tháng năm tròn đầy vườn thiêng cổ tích
Mừng ban mai mỗi ngày tỉnh thức bình an
Chào ngày mới CNM365 Tình yêu cuộc sốn
Thảnh thơi vui cõi phúc được thanh nhàn.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là 2-nhatoi.jpg

HỌC MẶT TRỜI TỎA SÁNG
Phúc hậu và an nhiên
Hoàng Kim


Học mặt trời tỏa sáng
Phúc hậu và an nhiên
Biết kiên trì việc chính
Học nước chảy đá mòn
Vui đi dưới mặt trời

xem tiếp Bảy định luật cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com/category/vui-di-duoi-mat-troiChuyện đồng dao cho em https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-dong-dao-cho-em

HoangKim2017a

GÕ BAN MAI VÀO PHÍM
Kim Hoàng


Ta gõ ban mai vào bàn phím
Dậy đi em ngày mới đến rồi

Em đọc lại Nhà Giả Kim em nhé
Bài ca thời gian câu chuyện cuộc đời
Một giấc mơ Người đi tìm kho báu
Theo ước mơ mình tới chốn xa xôi

Bậc tiên tri biết nhìn sâu khát vọng
Khuyến khích em theo mơ ước tuổi hoa
Đi tới cuối con đường hạnh phúc
Hãy là chính mình, ta chính là ta.

Em thấu hiểu có ngôi sao may mắn
Luôn bên em lấp lánh phía chân trời
Nơi bảng lãng thơ tình Hồ núi Cốc
Giấc mơ đưa ta về cổ tích xa xôi …

BẢY ĐỊNH LUẬT CUỘC SỐNG
Chuyện đồng dao cho em
Hoàng Kim


Luật hấp dẫn
Quyết chí điều mình muốn

Luật tập trung
Việc chính biết dày công

Luật trách nhiệm
Dám làm thì dám chịu

Luật kiên trì
Không bỏ cuộc giữa chứng

Luật nhân quả
Gieo gì thì gặt nấy

Luật chấp nhận
Biết tỉnh thức mới khôn

Luật kết nối
Đoàn kết là sức mạnh

CHUYỆN ĐỒNG DAO CHO EM
Hoàng Kim


Đồng dao là chuyện tháng năm
Lời ru của mẹ Trăng rằm thảnh thơi
Biết tìm bạn quý mà chơi
Học ăn học nói làm người siêng năng

Hiểu nhàn biết đủ thời an
Thung dung minh triết thanh nhàn thảnh thơi
Người sung sướng biết sống vui
Những người hiếu hạnh được đời yêu thương.

Việc chính là học làm người
Khắc sâu nhân nghĩa nhớ đời đừng quên
Hiếu trung phải học đầu tiên
Đừng tham tưởng bở mà quên ân tình.

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên
Cứ trên là sáng cứ tiền là xong
Đừng tưởng không nói là câm
Không nghe tưởng điếc không trông tưởng mù

Đừng tưởng cứ trọc là sư
Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan
Đừng tưởng có của là sang
Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây.

Đừng tưởng cứ uống là say
Tai trâu đàn gẩy lời hay ham bàn
Đừng tưởng giàu hết gian tham
Không thời chẳng vận lạm bàn chuyện dân

Đừng tưởng cứ mới là tân
Cứ hứa là chắc cứ ân là tình
Đừng tưởng cứ thấp là khinh
Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to.

Đừng tưởng già hết hồ đồ
Cứ trẻ là chẳng âu lo buồn phiền
Đừng tưởng cứ quyết là nên
Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua.

Đừng tưởng đã dấm là chua
Sấm rền là sẽ có mưa ngập trời
Đừng tưởng vui chỉ có cười
Buồn thì ủ rũ chỉ ngồi khóc than

Đừng tưởng cứ lớn là khôn
Cứ bé là dại cứ hôn là chồng
Đừng tưởng bịa có thành không
Nhìn gà hóa cuốc lẫn ông với thằng

Lúc vui tham bát bỏ mâm
Đến khi hoạn nạn tần mần bỏ đi
Đừng tưởng không nhất thì nhì
Phò thịnh sung sướng giúp suy nghèo hèn

Gặp trăng thì vội quên đèn
Hám tiền quên nghĩa đỏ đen lạc đường
Đừng tưởng giàu hết cô đơn
Cao sang hết ốm gian tham hết nghèo.

Đừng tưởng cứ núi là cao
Cứ sông là chảy, cứ ao là tù
Đừng tưởng cứ dưới là ngu
Tham giành là được thấy tu tưởng hiền.

Đừng tưởng cứ thấp là hèn
Cứ sang là trọng cứ tiền là xong
Đừng tưởng quan chức là rồng
Dân thường thấp cổ thì không biết gì.

Đời người lúc thịnh lúc suy
Lúc khỏe lúc yếu lúc đi lúc dừng
Đắng cay chua ngọt đã từng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.

Ở đời nhân nghĩa làm đầu
Thủy chung sau trước tình sâu nghĩa bền
Học làm người việc đầu tiên
Hiếu trung phúc hậu đừng quên nối vần

“Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi , vụng tu thì chìm”

“Chồng khôn thì được vợ chiều
Vợ ngoan thì được chồng yêu suốt đời”

“Người trồng cây hạnh mà chơi
Ta trồng cây đức để đời mai sau”
(*)

(*) Ca dao người Việt cổ
xem tiếp Chuyện đồng dao cho em https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-dong-dao-cho-em

Vui đi dưới mặt trời

Học mặt trời tỏa sáng
Phúc hậu và an nhiên
Biết kiên trì việc chính

NGUYỄN KHẢI, NGỌC CHO ĐỜI
Hoàng Kim

DẠY VÀ HỌC. Tôi vẫn thường quay lại với Nguyễn Khải, với các tác phẩm văn chương ưng ý mà ông đã trao lại cho đời và những lời thương nhớ Nguyễn Khải của các bạn văn, người đọc viết về ông. Những tích lũy tư liệu về ông tại trang DẠY VÀ HỌC ở Xóm Lá và trang hoangkimvietnam ở Google.sites, thỉnh thoảng tôi lại đưa ra đọc lại, ghi chú thêm vào những tìm tòi mới với ước mong tuyển chọn điều yêu thích cho mình và cống hiến với bạn đọc một góc nhìn về Nguyễn Khải, ngọc cho đời.  Đi về phía mặt trời. Nguyễn Khải lời anh gửi lại: “Trên cuộc đời không có bước đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải vượt qua được những ranh giới ấy”. “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại! Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn“.

Nhà văn Nguyễn Khải đã vĩnh biệt thế gian ngày 15.1.2008 nhưng trang văn và cuộc đời của ông vẫn tồn tại . Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3 tháng 12 năm 1930 tại Hà Nội. Quê nội của ông ở thành phố Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiều nơi, đang học trung học thì gặp Cách mạng tháng Tám. Nguyễn Khải trong kháng chiến chống Pháp, gia nhập tự vệ chiến đấu ở thị xã Hưng Yên, sau đó vào bộ đội, làm y tá rồi làm báo. Bắt đầu viết văn từ những năm 1950, được chú ý từ tiểu thuyết Xung đột (phần I năm 1959, phần II năm 1962). Sau năm 1975 Nguyễn Khải chuyển vào sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông rời quân đội năm 1988 với quân hàm đại tá để về làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam. Nguyễn Khải từng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa 2, 3 và là Phó Tổng Thư ký khóa 3. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa VII.

Nguyễn Khải là nhà văn tư tưởng của thời đại với nghệ thuật văn chương thông tấn bậc Thầy. Nguyên Ngọc viết “Nguyễn Khải có viết một câu hết sức ưu ái đối với tôi, anh bảo tôi “là nhà tư tưởng của thế hệ chúng tôi”. Anh thương tôi quá mà nói vậy. Anh mới chính là nhà tư tưởng ấy, bởi nhà văn mà là nhà tư tưởng thì phải thể hiện các tư tưởng ấy ra trong tác phẩm của mình. Và anh mới là người làm được xuất sắc điều đó.” Trần Đăng Khoa nhận định:“Tôi đặt ông vào đúng vị trí mà ông có. Ở trường phái văn chương thông tấn này, một mình ông một vị trí độc tôn, không ai sánh được và cũng không có ai học được”. Tác phẩm của Nguyễn Khải gồm nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, ký sự, kịch với nhiều mảng chủ đề khá phong phú nhưng nổi bật nhất, lắng đọng nhất có lẽ vẫn là những vấn đề xã hội, tư tưởng, chính trị và con người. Đó là hình ảnh nông thôn trong quá trình xây dựng cuộc sống mới, bộ đội trong những năm chiến tranh chống Mỹ, “những đối mặt sinh tử của Đảng và Nhà nước Việt Nam với những quyết định hết sức hệ trọng có quan hệ tới sự tồn vong của dân tộc, của quốc gia mà Nguyễn Khải lo lắng và muốn cùng chia sẻ”. Năm 1982, Nguyễn Khải nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm. Năm 2000, nhà văn được phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II về Văn học nghệ thuật.

Những tác phẩm chính của Nguyễn Khải chắc chắn vẫn tiếp tục thức tỉnh nhiều thế hệ: Tôi viết vậy thì tôi tồn tại; Xung đột (1959-1962); Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960 được trích dạy trong sách giáo khoa phổ thông môn Văn học nhiều năm qua); Gặp gỡ cuối năm; Hãy đi xa hơn nữa (1963); Chủ tịch huyện; Ra đảo (1966); Họ sống và chiến đấu (ký sự, 1966); Chiến sĩ (1973); Tầm nhìn xa; Ngày Tết về thăm quê; Cha và Con và…(1979); Hai ông già; Sống ở đời (tập truyện ngắn, 1990); Đứa con nuôi; . Gặp gỡ cuối năm (tiểu thuyết 1982, giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam) Thời gian của người (1985); Điều tra về một cái chết; Vòng sóng đến vô cùng; Cõi nhân gian bé tí (1989);Một người Hà Nộị (truyện ngắn 1990 được trích dạy trong sách giáo khoa Ngữ văn bộ mới lớp 12); Một thời gió bụi (truyện ngắn, 1993); Ông đại tá và vị sư già (truyện ngắn, 1993), Nếp nhà (ký); Hà Nội trong mắt tôi (tập truyện ngắn, 1995); Chút phấn cho đời (kịch); Truyện ngắn Nguyễn Khải (1996); Thượng đế thì cười (tiểu thuyết 2003) và … Đi tìm cái tôi đã mất (tùy bút 2006)

NGUYỄN KHẢI LỜI ANH GỬI LẠI

“Trên cuộc đời không có bước đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải vượt qua được những ranh giới ấy”

“Tôi viết vậy thì tôi tồn tại! Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”

“Trong gần bảy chục năm sống, tôi không phàn nàn bất cứ đoạn đời nào, những năm tháng nào. Có cái trước thì mới có cái sau, có cái này mới có cái kia. Tôi quan niệm khiếm khuyết là điềm lành, không có gì phải lo nhiều; hoàn toàn là điềm dữ, không chuẩn bị trước thì tai họa có ngày. Mươi năm trở lại đây tôi đã có ý thức điều chỉnh lại cách sống của mình, cố gắng sống thật tử tế, thật đàng hoàng. Bớt đi được một nửa những cái chưa tử tế cũng là tốt rồi. Tôi tự đánh giá là một cây bút nhẫn nại trong cái nghề của mình, chứ không phải là một cây bút tài hoa, có tài bẩm sinh. Nếu không có cuộc Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến thì tôi chỉ là một kẻ vô danh, chứ không thể làm được gì nên chuyện. Cho nên chế độ chính trị hiện nay dẫu có bao nhiêu thiếu sót, có bao nhiêu chuyện đáng buồn, đáng giận, tôi vẫn gắn bó máu thịt với hôm nay. Những cái làm được là kỳ tích của dân tộc, chuộc lại những lỗi lầm trong quá khứ, (Đi tìm cái tôi đã mất ) đưa nước Việt Nam, người Việt Nam sang thế kỷ 21″.

ĐỌC LẠI THƯƠNG NHỚ NGUYỄN KHẢI

Thương nhớ Nguyễn Khải, nhà văn Nguyên Ngọc định luận: “Trước hết, tôi muốn nói điều này: đấy là Nguyễn Khải, nhà văn tài năng nhất của thế hệ chúng tôi, thế hệ những người cầm bút vậy mà hóa ra vắt qua cả mấy thời kỳ lịch sử quan trọng: một chút thời Pháp thuộc, đầy đủ Cách mạng Tháng Tám, đẫm mình trong hai cuộc chiến tranh lớn, và cả hòa bình nữa. Một đận hòa bình cũng chẳng ít khó nhọc – cả hai cuộc, hòa bình một nửa nước miền Bắc từ sau năm 1954 và hòa bình cả nước sau 1975, hòa bình nào cũng xao động bao nhiêu sóng gió. Rồi lịch sử văn học sẽ có thời gian ngẫm lại mà xem, tất cả những chuyển động bão táp, phức tạp, trăn trở đó của số phận đất nước và nhân dân, ta sẽ được đọc lại hẳn nhiều nhất, sâu nhất trong Nguyễn Khải. Đấy là một trong những nhà văn hàng đầu, quan trọng nhất của văn học ta suốt một thời kỳ cực kỳ sôi động.” Nguyên Ngọc cũng dành những lời văn đặc biệt cảm mến: “Nguyễn Khải có một số phận rất Việt Nam. Anh có một tuổi thơ buồn, éo le và cả tủi nhục nữa – cũng như cái “tuổi thơ” của nhân dân mình vậy, rất có thể đắm chìm mãi mãi nếu tự trong anh – lại cũng như tự trong nhân dân mình vậy – không có một sức tự vươn lên kỳ lạ, im lặng, nhẫn nhục, mà kiên trì, kiên định, dũng cảm một cách thực sự là dũng cảm bởi không hề ồn ào, để thành người, một con người đàng hoàng trong cuộc đời, thành đạt trong sự nghiệp và ở đỉnh cao… Cũng từ chính chìm nổi của cuộc đời mình mà Nguyễn Khải hiểu và có quan niệm rất sâu, rất nghiêm về nghề và nghiệp cầm bút. Nghề cầm bút, với anh, trước hết và sau cùng nữa, là nghề làm người. Nghiêm trang và khó nhọc như nghề làm người…Nguyễn Khải không mất, nhà văn rất thời sự ấy lại cũng là nhà văn của tương lai”.

Triệu Xuân nhận xét: “Nguyễn Khải là một trong những người tiên phong viết tiểu thuyết về cuộc sống dân sự đầy vật lộn cam go sau chiến tranh. Tôi nghĩ chính anh, nhà văn Nguyễn Khải đã khai sinh dòng tiểu thuyết viết về những chuyện thường ngày, bám sát các sự kiện nóng hổi, đầy chất trí tuệ, chính luận của văn học Việt Nam.”

Tôi đọc lại tư liệu Thương nhớ Nguyễn Khải, tuyển chọn lại năm bài của người đương thời viết về Nguyễn Khải mà tôi tâm đắc nhất để hiến tặng bạn đọc. Bao gồm các bài: Nguyễn Khải, nhà văn tài năng nhất của thế hệ chúng tôi của nhà văn Nguyên Ngọc;  Trao đổi về ĐI TÌM CÁI TÔI ĐÃ MẤT của Nguyễn Khải của nhà giáo và phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh; Thương nhớ nhà văn Nguyễn Khải của nhà văn Triệu Xuân; Nguyễn Khải thử phác họa một chân dung văn học của nhà giáo Mai Quốc Liên; Nghịch lý Nguyễn Khải của nhà văn Hoàng Đình Quang. Đó là một số góc nhìn khác nhau và những đánh giá về ông.

RỒI THẾ NÀO TÔI CŨNG CÒN VIẾT VỀ NGUYỄN KHẢI

Nguyễn Khải viết thư cho một người bạn:

“Người làm sao, văn làm vậy. Tôi quen sống trong nhân nhượng, trong dàn hòa, bằng lòng với chút hạnh phúc bé nhỏ, bằng lòng với cái hữu hạn của một kiếp người, nên văn cũng thế, thiếu triệt để, thiếu quyết liệt, không dám đi tới cái tận cùng. Bởi thế nên không thể “lớn” được, cái mà Lê Đạt bảo là “hình như còn thiếu một cái gì đó”. Một đời đã sống như thế, chỉ còn vài năm thì làm sao sống khác được. Sống không khác, thơ văn làm sao mà khác!”. Đọc lại một lá thư của Nguyễn Khải – Báo Mới.com

Lê Phú Khải Ngày Xuân nhớ Nguyễn Khải:

“Hôm đó Nguyễn Khải nói với tôi: “May quá ông ạ! Bữa trước ông Nguyên Ngọc đến đây, nếu nó đưa ông ấy lên phòng khách ở lầu 3 thì tôi xấu hổ không biết chui vào đâu!”. Tôi hỏi: “Vì sao?” Nguyễn Khải trả lời: “Vì ở lầu 3 tôi có treo cái bằng giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông Nguyên Ngọc mà không được giải thưởng HCM mà tôi lại được thì xấu hổ quá!”. (“Nó” là anh bảo vệ, người đã đưa Lê Phú Khải lên gặp Nguyễn Khảì tại phòng riêng của ông ở lầu 7 trong ngôi nhà công ty tư nhân do con làm chủ – ghi chú của HK). Ngẫm nghĩ một lúc ông nói: “Nguyên Ngọc quyết liệt lắm, tôi không thể có cái quyết liệt ấy. Tôi hèn lắm!” Nguyễn Khải là thế. Một nhà văn tên tuổi như ông mà nhận mình hèn thì ông không hèn chút nào. Ít nhất ông cũng là một con người chân thực, có liêm sỉ. Bút ký Đi tìm cái tôi đã mất của ông là một áng văn bất hủ.”

Tri âm tri kỷ, hiểu Nguyễn Khải hơn cả có lẽ là Nguyên Ngọc chăng?

Nguyên Ngọc đậy nắp quan tài định luận Nguyễn Khải:

Cách đây mấy tháng, lục lại một số tài liệu cũ, tôi tình cờ tìm thấy cái thiếp mời đám cưới của anh Khải và chị Bắc, một cái thiếp thời ấy in mực tím trên một mẩu giấy nhỏ bằng hai ngón tay. Tôi đã định mang tặng lại anh chị, vậy mà không kịp nữa rồi! Khải ơi, còn biết bao nhiêu kỷ niệm giữa chúng ta, cả yêu thương và giận hờn nhau nữa có lúc, đều quí vô cùng, vô cùng. Khải ra đi, hôm nay tôi chỉ viết được có mấy dòng này. Rồi thế nào tôi cũng còn phải viết về nhau nữa, bạn ạ. Mỗi chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong lịch sử rộng lớn. Nhưng, tôi tin vậy, những người sống trung thực, bao giờ cũng là một phần dù nhỏ nhưng không thể thiếu trong bức tranh toàn cảnh của cả một thời. Mà sự nghiệp sáng tác, cũng là tư tưởng của Khải, thì không nhỏ chút nào.“

Tôi biết ơn nhà văn Nguyên Ngọc đã nói hộ lòng mình. Tôi noi lời Thầy. Rồi thế nào tôi cũng còn viết về Nguyễn Khải,

Nguyễn Khải, ngọc cho đời.

Hoàng Kim

TRÍCH DẪN NĂM BÀI VIẾT THƯƠNG NHỚ NGUYỄN KHẢI

Nguyễn Khải, nhà văn tài năng nhất của thế hệ chúng tôi

Nguyên Ngọc

TT – Trước hết, tôi muốn nói điều này: đấy là người tài năng nhất trong thế hệ của chúng tôi, thế hệ những người cầm bút vậy mà hóa ra vắt qua cả mấy thời kỳ lịch sử quan trọng: một chút thời Pháp thuộc, đầy đủ Cách mạng Tháng Tám, đẫm mình trong hai cuộc chiến tranh lớn, và cả hòa bình nữa.

Một đận hòa bình cũng chẳng ít khó nhọc – cả hai cuộc, hòa bình một nửa nước miền Bắc từ sau năm 1954 và hòa bình cả nước sau 1975, hòa bình nào cũng xao động bao nhiêu sóng gió.

Rồi lịch sử văn học sẽ có thời gian ngẫm lại mà xem, tất cả những chuyển động bão táp, phức tạp, trăn trở đó của số phận đất nước và nhân dân, ta sẽ được đọc lại hẳn nhiều nhất, sâu nhất trong Nguyễn Khải. Đấy là một trong những nhà văn hàng đầu, quan trọng nhất của văn học ta suốt một thời kỳ cực kỳ sôi động.

Tôi gặp Nguyễn Khải lần đầu, tôi còn nhớ chắc chắn, ngày 19-8-1955. Bấy giờ Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua quân đội vừa họp ở Hà Nội. Tổng cục Chính trị gọi mỗi sư đoàn một người “biết viết” về Hà Nội để chia nhau viết về các anh hùng vừa được tuyên dương. Hóa ra đấy là cuộc tập hợp để rồi sau đó sẽ hình thành cả một thế hệ những người cầm bút chủ lực được rèn luyện trong kháng chiến chống Pháp và bắt đầu chính thức bước vào văn học sau năm 1954-1955.

Nguyễn Khải từ sư đoàn đồng bằng Bắc bộ lên, Phùng Quán, Nguyễn Khắc Thứ từ sư đoàn 325 Bình Trị Thiên ra, Hồ Phương từ sư đoàn 308 về, Nguyễn Trọng Oánh và Hải Hồ từ sư đoàn 304 Khu 4, Lý Đăng Cao từ phòng không, Hà Mậu Nhai từ sư đoàn 330 Nam bộ… Ít lâu sau, có thêm Hữu Mai từ Điện Biên Phủ, Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi từ sư đoàn 338 Nam bộ về…

Tôi là người về sau cùng, một cây bút mới tập tò đôi ba bài bút ký vô danh, từ sư đoàn 324 Khu 5 cũng được gọi về vì có ai đó tình cờ giới thiệu. Lính mới toanh, cấp thấp nhất trong nhóm, còn hoàn toàn trắng tay, gặp ai cũng sợ. Bấy giờ Hồ Phương đã có Thư nhà, chúng tôi ở chiến trường Khu 5 xa thế mà cũng từng được đọc và phục lăn. Nguyễn Khắc Thứ đã có cả bộ tiểu thuyết Đất chuyển đồ sộ. Phùng Quán vừa xáo động văn đàn bằng Vượt Côn Đảo. Nguyễn Khải thì từng đoạt giải thưởng Hội Văn nghệ VN, danh tiếng vang đến tận những chiến trường xa trong Nam của chúng tôi…

Những bước đi nhọc nhằn và dũng cảm

Tôi biết có người thường trách các nhân vật của Nguyễn Khải giống anh ấy quá, ai cũng đầy luận lý như anh. Tôi thì tôi nghĩ có hơi khác: mỗi người có một cách sống và một cách viết. Nguyễn Khải là người gửi vào các nhân vật của mình hết mọi trăn trở trên bước đường tư tưởng khó nhọc của anh – mà trên đời này người trung thực thì bao giờ các bước đường tư tưởng cũng vô cùng khó nhọc, chỉ có những anh chàng sống giả mới dễ hơn hớn hời hợt. Vậy nên, rồi bình tĩnh đọc kỹ lại hết anh mà xem, sẽ thấy đấy là người đã ghi lại được cho mai sau gần như toàn vẹn, trung thực những bước đi nhọc nhằn mà dũng cảm của con người chúng ta, cũng là của đất nước, trong suốt những năm tháng dài bão táp bên ngoài và bên trong, vừa hào hùng vừa đau đớn, như một nhà văn tài năng của dân tộc ắt phải làm.

Cái quan định luận, bây giờ thì có thể nói như thế này rồi: Nguyễn Khải đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp đồ sộ, một bức tranh toàn cảnh sẽ vô cùng cần thiết để hiểu một thời vào loại quan trọng nhất của đất nước. Và có hiểu được như vậy thì mới đi tới được, ít đau khổ hơn và ít vấp váp hơn.

Nguyễn Khải có viết một câu hết sức ưu ái đối với tôi, anh bảo tôi “là nhà tư tưởng của thế hệ chúng tôi”. Anh thương tôi quá mà nói vậy. Anh mới chính là nhà tư tưởng ấy, bởi nhà văn mà là nhà tư tưởng thì phải thể hiện các tư tưởng ấy ra trong tác phẩm của mình. Và anh mới là người làm được xuất sắc điều đó.

Tôi ở chiến trường du kích Khu 5 hẻo lánh, bao nhiêu năm sách vở chẳng có gì, về Tổng cục Chính trị chộp được một cái thư viện đầy sách tiếng Pháp, phần lớn là tiểu thuyết Liên Xô, liền lao vào đọc say mê. Một bữa Nguyễn Khải tình cờ đi qua nhìn thấy, dừng lại kêu lên: Ô, thằng này nó đọc được tiếng Pháp chúng mày ạ!… Và chúng tôi thân nhau từ đấy. Vì sao? Có lẽ vì cả hai ham tò mò mọi chuyện đời và bắt đầu muốn suy nghĩ.

Bấy giờ anh em ở trại sáng tác thường đùa, một thằng cao một thằng lùn – Khải cao lớn nhất, còn tôi thì thấp nhất trong số anh em được gọi về – mà lúc nào cũng cặp kè như vợ chồng, ngày đêm, không biết chúng nó tâm sự với nhau chuyện gì mà lắm thế! Hồi đó còn non nớt lắm, nhưng tôi cũng đã lờ mờ nhận ra điều này: Nguyễn Khải không phải là nhà văn của chủ nghĩa anh hùng, bấy giờ đang là xu thế chính thống của văn học ta. Anh là cây bút của các vấn đề xã hội, đọc kỹ lại xem, tinh một chút có thể thấy ngay ở những sáng tác trong thời chiến của anh đã manh nha những đường nét đầu tiên của xu hướng ấy. Và như vậy, anh đi sớm hơn chúng tôi rất nhiều…

Vậy mà ở trại sáng tác, Nguyễn Khải lại được phân công viết về nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi. Thất bại. Không phải cái tạng của anh. Anh không viết được ca ngợi, cái tạng của anh là moi tìm, lục lọi, vặn đi vặn lại vấn đề, luôn đặt câu hỏi, không bằng lòng với những câu trả lời của chính mình, và luận lý, tự luận lý, suy ngẫm.

Rồi chúng tôi, ba anh em, Nguyễn Khải, Nguyễn Trọng Oánh và tôi, được cử đi tham gia cải cách ruộng đất đợt 5 “để có thêm hiểu biết nông thôn”, cùng về xã Hưng Nguyên, huyện Thủy Nguyên bên bờ sông Bạch Đằng, đúng nơi Trần Hưng Đạo đánh trận thủy chiến mấy trăm năm trước. Tất nhiên loại “trí thức” mặt trắng chúng tôi thì chỉ được làm đội viên quèn thôi. Mỗi đứa ở một thôn. Cũng hăng hái lắm.

Nhưng có hôm đi họp đoàn gặp nhau, Khải thì thầm vào tai tôi: Mình thấy như có cái gì đó không phải cậu ạ. Sao lại thế này nhỉ? Hay là tại bọn mình non chính trị quá!… Chỉ dám thì thầm. Chuyến ấy đi về, Khải và Oánh bảo: May mà ở đội của mình chưa bắn ai cả. Nhờ có anh đội trưởng rất tốt, dũng cảm và trung thực!…

Rồi đến thời kỳ Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô. Khải và tôi thường lén lút đọc các tài liệu về sự kiện chấn động ấy. Và tôi tin rằng những chuyển động dẫu chưa thật hoàn toàn rõ ràng ấy đã ảnh hưởng đến các chuyến đi và các sáng tác của anh.

Có lẽ rồi đến một lúc nào đấy, các nhà nghiên cứu văn học thâm thúy sẽ lần lại các bước đường tư tưởng và sáng tác của Nguyễn Khải. Theo tôi, đấy là con đường rất tiêu biểu của chuyển động văn học ta suốt một thời kỳ lịch sử dài và không hề đơn giản, dễ dàng, tiêu biểu nhất là ở Nguyễn Khải, chính vì đấy đúng là cái tạng của anh và cũng vì anh là người tài năng nhất, cũng trung thực nhất với chính mình.

Tôi muốn nói rõ điều này: sự trung thực, cả điều gọi là dũng khí của nhà văn chủ yếu phải là ở trong sáng tác của anh, chứ không phải là, chỉ là trong ứng xử hằng ngày ở đời của anh. Mỗi người ở đời đều có những ràng buộc riêng mà sự khắc nghiệt chẳng ai giống ai, nên không thể ai cũng phải ứng xử như nhau. Duy đã là người cầm bút thì phải trung thực đến cùng trong sáng tác của mình. Tôi biết, tôi tin Nguyễn Khải là như vậy. Khi anh viết Xung đột, rồi Mùa lạc, có chút bâng khuâng, song vẫn còn khá dè dặt; khi anh viết về chuyện ông Tư Kiền, đọc kỹ lại mà xem, phê phán chuyện không chịu vào hợp tác xã đấy, nhưng là sự phê phán của người cũng đã không tin lắm về sự phê phán của mình. Và sau này Nguyễn Khải đã từng công khai nói về nỗi xấu hổ của anh trước nhân vật ấy…

Càng về sau, tầm nhìn những vấn đề xã hội của anh rộng, sâu và sắc hơn; tiếng nói cũng thẳng thắn và mạnh mẽ hơn, tự cay đắng với mình, thậm chí cả quyết liệt nữa, như trong ngòi bút chính trị gần cuối đời của anh. Anh vẫn trầm tĩnh và khiêm nhường, nhưng tiếng nói và cả bút pháp đã như tiếng kêu cuối của con chim báo bão đối với con người, với đất nước, với xã hội.

Cách đây mấy tháng, lục lại một số tài liệu cũ, tôi tình cờ tìm thấy cái thiếp mời đám cưới của anh Khải và chị Bắc, một cái thiếp thời ấy in mực tím trên một mẩu giấy nhỏ bằng hai ngón tay. Tôi đã định mang tặng lại anh chị, vậy mà không kịp nữa rồi! Khải ơi, còn biết bao nhiêu kỷ niệm giữa chúng ta, cả yêu thương và giận hờn nhau nữa có lúc, đều quí vô cùng, vô cùng. Khải ra đi, hôm nay tôi chỉ viết được có mấy dòng này. Rồi thế nào tôi cũng còn phải viết về nhau nữa, bạn ạ. Mỗi chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong lịch sử rộng lớn. Nhưng, tôi tin vậy, những người sống trung thực, bao giờ cũng là một phần dù nhỏ nhưng không thể thiếu trong bức tranh toàn cảnh của cả một thời. Mà sự nghiệp sáng tác, cũng là tư tưởng của Khải, thì không nhỏ chút nào.

Trao đổi về ĐI TÌM CÁI TÔI ĐÃ MẤT của Nguyễn Khải

Nguyễn Đăng Mạnh

Trước khi mất, Nguyễn Khải gửi lại cho đời bài viết Đi tìm cái tôi đã mất. Bài được đưa lên mạng (có thể đọc trên mạng Diễn Đàn : (1), (2), (3)). Vương Trí Nhàn và Huệ Chi có lời bình luận trên Talawas (Vương Trí Nhàn : Một cách nghĩ khác về Nguyễn Khải ; Nguyễn Huệ Chi Về bài Một cách nghĩ khác về Nguyễn Khải của Vương Trí Nhàn).Về hai bài bình luận này, tôi có chỗ nhất trí, có chỗ chưa tán thành.

Mỗi người cầm bút chúng ta hãy nhớ lại chính bản thân mình thời chiến tranh với phong trào hợp tác hóa trong sản xuất và chế độ quan liêu bao cấp mà xem. Đúng là hồi ấy chủ nghĩa tập thể bầy đàn lấn át cá nhân, thủ tiêu tự do cá nhân. Nhưng có phải hồi ấy, tuy vật chất vô cùng cực khổ, ta vẫn cảm thấy thoải mái, vui vẻ đấy chứ ! Các học thuyết về đấu tranh giai cấp, về chuyên chính vô sản, rồi đường lối văn nghệ phục vụ chính trị và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa v.v., ta có băn khoăn, nghi ngờ gì đâu !

Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước rất mạnh và lâu đời. Cho nên đánh Pháp, đánh Mỹ, giải phóng dân tộc là rất thuận lòng dân (sau này có thể phát hiện con đường khác hay hơn, nhưng là chuyện sau này, mãi sau này). Mà ai là người phát động và lãnh đạo hai cuộc kháng chiến được gọi là “thần thánh” ấy ? Đảng cộng sản và cụ Hồ chứ ai. Vậy thì tin Đảng, tin cụ Hồ là điều dĩ nhiên. Mà tin Đảng, tin cụ Hồ, tức là tin ở chủ nghĩa xã hội, ở tập thể bầy đàn, tin ở học thuyết giai cấp của Mác – Lê Nin, tin ở đường lối văn nghệ phục vụ chính trị và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra chiến tranh là hoàn cảnh rất thuận lợi cho sự phát triển tư tưởng bầy đàn và thủ tiêu ý thức cá nhân :

Một người, đâu phải nhân gian
Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi !

(Tố Hữu)

Việc hoài nghi và đi đến phủ nhận những “chân lý” ấy chỉ là chuyện sau này – sau 1975 và nhất là sau Đại hội Đảng Cộng sản thứ VI (1986).

Lòng yêu nước khiến cho nhiều người, tuy cách mạng chẳng đem lại cho một chút quyền lợi gì, cũng hăng hái tham gia kháng chiến, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, lòng đầy tin tưởng (trong số này có không ít người thuộc giai cấp địa chủ, tư sản và tầng lớp trí thức cao cấp). Huống chi Nguyễn Khải là người được cách mạng vớt lên từ cống rãnh, tắm gội cho sạch sẽ, lại cấp cho một cái nghề sang trọng, vừa có danh, vừa có lợi.

Cho nên những tác phẩm Nguyễn Khải viết thời chiến tranh đâu phải là giả dối. Một người nhát, không biết bơi, rất sợ nước, vậy mà tự nguyện vượt biển ra Cồn Cỏ để viết Họ sống và chiến đấu thì không thể nói là giả dối được.

Huệ Chi nói, có “ những người thông minh quá, tinh quái quá […] nên đã biết biến “dối” thành “thật” ”. Tôi nghĩ, làm gì có chuyện ấy ! Người ta có thể nói dối ở đâu đâu, chứ không thể nói dối trong văn chương được. Có thể diễn đạt như thế này thì đúng hơn : hồi đó họ đã nói dối một cách thành thực. Nhưng nói cho thật đúng thì lúc đó họ cũng không hoàn toàn nói dối. Nhận thức của họ có thể không phản ánh đúng sự thật, niềm tin của họ có thể mù quáng, nhưng lòng yêu nước của họ là có thật chứ ! Cho nên những tác phẩm của họ đã từng làm chúng ta xúc động thật sự, xúc động một cách thành thật. Nhớ lại mà xem có đúng thế không ?

Trong bài viết của mình, Vương Trí Nhàn có dẫn lời Dương Tường rằng trong Nguyễn Khải có hai con người “ Một Nguyễn Khải khôn khéo giả dối và một Nguyễn Khải thành thật trắng trợn. Một Nguyễn Khải hèn nhát và một Nguyễn Khải khinh ghét tay Nguyễn Khải hèn nhát kia. Và sự tranh chấp giữa hai con người ấy không bao giờ ngã ngũ ”. Và Vương Trí Nhàn nói thêm : “ Sự tranh chấp ở đây thực ra chỉ là bề ngoài, trên sàn diễn, trước mặt bàn dân thiên hạ. Chứ ở hậu trường, Nguyễn Khải yêu cả hai con người đó ở mình. Ông sống hoà hợp với cả hai. Tùy trường hợp mà ông đưa con người này hay con người kia ra để làm hàng. Lối nghĩ này đã giúp ông thành công chói lọi trong suốt đường đời ”.

Những nhận xét ấy không hẳn sai. Nhưng theo tôi, hai con người ấy ở Nguyễn Khải chỉ xuất hiện một cách thật sự rõ rệt và hoàn toàn tự giác trong tâm trí anh từ sau năm 1975. Mà cũng xuất hiện dần dần, ngày một sáng rõ hơn trong quá trình suy ngẫm nhờ trải nghiệm bản thân và những sự kiện trong nước, ngoài nước khiến anh thức tỉnh. Năm 1993, trong truyện Anh hùng bĩ vận (trong tập truyện ngắn Một thời gió bụi, nxb Lao Động, 1993), Nguyễn Khải viết : hồi ấy “ là một viên chức nhà nước ăn lương để viết văn. Không nghĩ ngợi gì nhiều, trăn trở gì nhiều, không sóng gió, không chìm nổi. Đôi lúc cũng muốn bơi ngược một tí, rẽ ngang một tý, nhưng rồi mệt quá lại khuôn mình theo dòng chảy, theo dòng mà bơi, bơi cùng với đồng đội, vừa an toàn vừa vui vẻ ”. “ Bơi ngược một tý ” có nghĩa là viết theo kinh nghiệm cá nhân. Viết được như thế trước 1975 là chỗ hấp dẫn và hơn người của Nguyễn Khải – tôi gọi là “ khoán chui ” tư tưởng. Bây giờ đọc lại, thấy những tư tưởng gọi là khoán chui ấy thực ra cũng có ghê gớm gì lắm đâu, có gì thật trái nghịch với kinh nghiệm cộng đồng đâu.

Vâng, tôi cho rằng, sự xung đột giữa hai con người ở Nguyễn Khải như Dương Tường từng nói chỉ thực sự diễn ra trong ý thức tự giác của Nguyễn Khải mãi sau này.

Còn vì sao phải đợi đến khi sắp từ giã cõi đời, Nguyễn Khải mới nói ra sự thật của lòng mình một cách “ thành thật và trắng trợn ”, thì tưởng chẳng có gì khó hiểu. Nguyễn Khải là người nhát, quá nhát. Nhưng chết rồi thì còn sợ gì nữa, còn có quyền lợi gì phải mất nữa ! Mặt khác phải nói rằng, con người ta khi đã ngộ ra được điều gì thì trong lòng bức xúc không chịu được, phải nói ra để giải tỏa. Dostoievsky nói : “ Thật là nặng nề khi phải một mình ôm giữ sự thật ”. Vả lại nói ra như thế cũng là một đóng góp cho đời chứ, cũng là trách nhiệm của một người viết văn chứ !

Nguyễn Khải đúng là một con người thông minh, khôn ngoan. Nhưng theo tôi, cũng chỉ là khôn vặt, một thứ “ tiểu trí ” mà thôi. Mà nói chung, dân tộc ta là thế, không có đại trí đâu. Một dân tộc nông dân láu cá thế thôi. Một sự khôn ngoan chỉ vừa đủ để “ biết lui biết tới ” mong được sống yên ổn với đời. Lời Trang Tử, chính Nguyễn Khải dẫn ra trong bài viết của mình, đã diễn tả rất đúng cái khôn của anh “ con chim bay cao để tránh được tên, được bẫy, con chuột đào hang sâu để tránh được hoạ bị khói hun ”. Nguyễn Khải (và những người Việt Nam khôn ngoan nhất cũng thế thôi) đâu phải là một đầu óc “ đại trí ” để có thể vượt được thời thế, thoát được ra khỏi bầu không khí tâm lý của cả cộng đồng dân tộc đang đắm đuối trong một tín ngưỡng. Anh nói đúng : “ Một trí tuệ sáng láng nhất vẫn cứ bị ràng buộc bởi nhiều vòng tự giác và không tự giác của thời thế, của cuộc đời ”. Nhất là Nguyễn Khải, con người mà cái danh cái lợi của cá nhân đều gắn với thời thế, đều nhờ vào thời thế. Cho nên anh thú nhận : “ Những năm 50, 60 của thế kỷ XX, với tôi là những năm tràn đầy niềm tin. Nhìn vào đâu tôi cũng thấy được, dân tộc tôi được […] tôi vui là chuyện có thật, những trang viết của tôi vào những năm ấy là rất thành thật ”.

Cuộc đời Nguyễn Khải, như anh nói, thật là may mắn. Anh được đủ mọi thứ : danh, lợi, địa vị cao trong làng văn, giải thưởng Hồ Chí Minh… Khi được trao giải thưởng (năm 2000), anh cảm thấy : “ Mừng thì rất mừng nhưng tôi đã nhận ra ngay đây là tấm bia mộ sang trọng cắm lên một đời văn đã tới hồi phải kết thúc ”.

Dương Tường thích câu này, nhưng Vương Trí Nhàn thì cho là dối trá. Vì theo chỗ anh viết, Nguyễn Khải mồm thì nói thế, nhưng thực bụng vẫn nâng niu, ôm ấp, vẫn rất tự hào về những gì mình đã viết. Điều này tôi cho cũng dễ hiểu. “ Văn mình vợ người ” mà. Người viết nào chả quý cái văn của mình, cũng như người mẹ nào chả quý đứa con mình đẻ ra, dù nó xấu xí, kém cỏi thế nào. Nhưng cái văn ấy có giá trị đến đâu, có thể sống lâu dài hay chết yểu lại là chuyện khác. Thông minh, tỉnh táo như Nguyễn Khải tất nhiên là thừa biết điều đó. Cho nên câu nói trên của Nguyễn Khải không hẳn là dối trá. Có điều trong giọng nói có vị chua chát cay đắng đấy. Đó là lối nói hờn, nói dỗi. Hờn dỗi với đời, hờn dỗi với cái phận của mình. Nghĩ đến sự nghiệp cả một đời có thể sẽ trở thành số không, trở thành hư vô, cay đắng lắm chứ !

Con người ta ai chả muốn sống mãi với đời. Dù đời là bể khổ, nhưng khổ vẫn hơn là chết. Khốn nỗi ai rồi cũng phải chết. Đó là tấn bi kịch lớn nhất của loài người. Vậy thì phải nghĩ ra cách gì để chống lại cái chết chứ ? Người ta tìm đến tôn giáo để được an ủi bằng đức tin : thân xác dù trở thành tro bụi nhưng linh hồn vẫn tồn tại, và nếu chịu khó tu nhân tích đức thì còn có thể được lên thiên đàng nữa kia. Vua chúa thì ướp xác và xây lăng tẩm thật đồ sộ nguy nga. Những nhà lãnh đạo quốc gia thì muốn tên mình được đặt cho phố này, phố nọ (có chuyện tranh nhau phố to phố nhỏ nữa đấy !). Những đấng anh hùng hào kiệt, những bậc thánh hiền thì lo lập công, lập đức, lập ngôn để tên tuổi lưu truyền muôn đời trong sử sách. “ Người chết thật là chết, khi nào họ chết hẳn trong lòng người sống ” (Lỗ Tấn). Có một cách thực hiện sự bất tử một cách bình dân đại chúng nhất, hầu như ai cũng có thể làm được : sinh con, đẻ cái, nhất là sinh con trai. Nó sẽ giữ mãi dòng họ cho mình và cúng giỗ, tưởng nhớ mình mãi mãi.

Còn anh viết văn thì mong sống mãi cùng tác phẩm của mình. Không dám nói ra miệng đâu, vì xấu hổ lắm ! Nhưng âm thầm trong bụng, anh nào chẳng muốn như vậy : chẳng được như cụ Nguyễn Du bất tử với Truyện Kiều thì cũng không đến nỗi bị đời quên ngay khi vừa nằm xuống. Nhưng có phải muốn mà được đâu! Mình có phải thiên tài đâu. Là “ đại tài ” cũng chưa chắc. Ôi thật là cay đắng ! “ Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập thành giấy lộn cho con cháu bán cân. Buồn nhỉ ? Nghĩ lại cũng chả có gì phải buồn, con người vốn sống trong những chiều kích hữu hạn lại mơ tưởng những gì do con người làm ra sẽ thuộc về vĩnh viễn, có hoạ rồ ! Tất nhiên vẫn có nhiều công trình của trí tuệ thuộc về cõi bất tử nhưng là của các thiên tài. Với bộ não con sâu cái kiến ngước nhìn những cái đầu khổng lồ ấy làm gì cho thêm buồn ra ”. Đúng là giọng nói hờn nói dỗi đầy vị chua chát, đắng cay của một cây bút chưa biết tuổi thọ của sự nghiệp mình được bao lăm khi thân xác sắp trở thành tro bụi.

Láng Hạ, Hà Nội, 29- 9- 2008

Thương nhớ nhà văn Nguyễn Khải

Triệu Xuân

Sáng 15-1-2008, tôi được tin nhà văn Nguyễn Khải đang trong khoảnh khắc cuối cùng của đời mình. 19 giờ, anh trút hơi thở cuối cùng. Ít phút sau, nhà văn Lê Văn Thảo đang họp ở Hà Nội, phone cho tôi, nói: Triệu Xuân thay mặt Ban chấp hành Hội Nhà văn Tp Hồ Chí Minh túc trực tại Lễ Nhập quan và sẵn sàng mọi việc trong Lễ tang. Sáng sớm 16-1- 2008, tôi có mặt tại bệnh viện 115, (quận 10, Tp Hồ Chí Minh), hỏi thăm mãi mới tìm được Nhà Vĩnh biệt. Bệnh viện trong quá trình xây dựng, nhà xác chưa có, đang dùng tạm một căn phòng còn sót lại của dãy nhà cấp bốn chưa san ủi nốt. Anh Khải nằm trong căn phòng rộng hơn hai mét, dài gần ba mét. Tôi đến, Nguyễn Khoa, con trai trưởng anh Khải ra đón. Thấy tôi đưa mắt tìm nơi anh Khải đang nằm, Quang, con trai của chị ruột vợ anh Khải nói: “Chú TX có… kiêng cữ gì không?”. Không! Chú đến chào vĩnh biệt người anh của mình, cháu đưa chú vào, không ngại gì! Cánh cửa bằng sắt hoen rỉ mở ra, anh Khải mặc bộ complet xanh đen, thắt cravat, nằm trên cái không rõ là giường hay phản gỗ, cao chừng một mét. Phòng tối quá, tôi bảo Quang mở điện lên! Nhìn thi thể anh, tôi không cầm được nước mắt. Quang nói: “Khi mổ, nội tạng chú cháu hư hết rồi”! Căn phòng lạnh lẽo quá. Một nhà văn lớn của cách mạng, suốt đời tha thiết với nhân dân, với đất nước mà bây giờ nằm đó, cô đơn, lạnh lẽo…! Bất giác tôi nhớ đến câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du: Khi tỉnh rượu lúc tàn canh/ Giật mình mình lại thương mình xót xa! Tôi bảo Quang: Cháu nói gia đình khẩn trương thắp đèn nhang hoa quả, một đĩa muối, gạo, một ly nước cho anh Khải. Rồi, tôi nắm lấy bàn tay phải lạnh cứng của anh, mắt tôi nhìn vào đôi mắt đã khép lại vĩnh viễn, vốn là cặp mắt to, sáng đuôi mắt dài, nhân hậu nhưng vô cùng sắc xảo, nhạy cảm và nói to: Anh Nguyễn Khải! Em là Triệu Xuân đến chào vĩnh biệt anh đây. Cầu cho linh hồn anh thanh thản nơi chín suối, mau siêu thoát! Anh sống khôn thác thiêng phù hộ độ trì cho gia đình anh, bạn bè thân thiết của anh được khỏe mạnh và luôn luôn may mắn! Tôi vái anh, rồi bước ra ngoài. Lúc đó là 7 giờ sáng. Còn hơn một giờ nữa mới đến giờ làm lễ nhập quan.

Có mười bốn người: ba người con anh Khải: Khoa, Thúy, Hoàn cùng hai con dâu, một con rể với mấy cháu nội, ngoại; năm người đứng tuổi là họ hàng ruột thịt và tôi, ngồi nhìn nhau, lặng lẽ. Tôi chỉ hỏi Khoa một câu về trình tự lễ nhập quan rồi hỏi thêm: Mẹ cháu đâu? “Dạ, mẹ cháu bị bệnh nặng và rất dễ xúc động, không thể ra đây được chú ạ”! Tôi se sắt lòng! Cả cuộc đời người vợ ấy thương chồng, thương con, hy sinh cho chồng cho con, nay anh ra đi trước, để lại chị bệnh tật đến nỗi không thể đến đây vĩnh biệt chồng… Tám giờ ba mươi phút, Nhà sư đến đọc kinh. Tám giờ năm mươi phút, Nhà đòn khâm liệm anh Khải, rồi đúng chín giờ, Lễ nhập quan cử hành. Người ta đổ mấy bao trà lót đáy quan tài rồi đặt thi hài nhà văn lên trên. Nắp áo quan có chừa một mảng bằng mêca trong suốt để gương mặt anh tiếp tục quan sát cuộc đời này thêm hai ngày hai đêm nữa. Có tiếng khóc của Thúy con gái anh, cùng những tiếng nấc nghẹn ngào như cố nuốt lệ vào trong của những người khác. Tôi nhận một nén nhang đã thắp sẵn từ tay Khoa, lặng lẽ vái anh và khấn thầm trước linh cữu. Chín giờ mười lăm phút, tôi cùng mọi người khênh quan tài ra xe tang. Tôi chạy xe gắn máy theo xe chở linh cữu về Nhà Tang lễ thành phố ở 25 Lê Quý Đôn, quận 3. Mười giờ, xe đến nhà Tang lễ. Anh nằm ở đó hai ngày 16 & 17. Sáu giờ sáng ngày 18-1-2008, Lễ truy điệu diễn ra trọng thể, linh cữu anh được đưa về an táng tại nghĩa trang thành phố ở Thủ Đức. Phải mất gần hết buổi sáng ngày 16-1 với rất nhiều cú điện thoại, giao dịch với nhiều cấp, nhiều người… Ban Lễ tang mới có phép để anh an nghỉ tại Thủ Đức, vì nơi đây hết đất, nghĩa trang đã dời lên Củ Chi rồi! Thế là hết! Bao nhiêu buồn vui sướng khổ, bao nhiêu vinh quang và cay đắng, bao nhiêu dằn vặt và hối tiếc, bao nhiêu tiếng cười và nỗi đau… từ nay tiêu tan trở về với cát bụi, thế là hết! Anh Khải không còn sống trong cõi nhân gian bé tý này nữa! Tất cả đã khép lại, như đôi mắt thông minh nhạy cảm của anh, vĩnh viễn! Thế nhưng, tôi tin có một thứ không bao giờ mất đi, nó còn mãi với thời gian, với lòng người yêu văn chương ở đất nước này, đó là hàng chục tác phẩm gồm truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch của Nguyễn Khải.

Với văn tài của Nguyễn Khải, người ta nói nhiều đến Gặp gỡ cuối năm, Thượng đế thì cười… Riêng tôi, tôi cũng thích những tác phẩm ấy, nhưng cái tôi thích nhất lại là những tác phẩm anh Khải viết trực tiếp về đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài, đạo Phật, nghĩa là đề tài tôn giáo, cụ thể là hai cuốn: Xung đột (1959-1961), và Điều tra về một cái chết (1985). Tôi đọc Xung đột từ khi mười hai tuổi, và, tôi bị tác phẩm ấy hớp hồn!

Năm 1963, trong hàng chục cuốn truyện bố mua về cho tôi đầu kỳ nghỉ hè có hai tập Xung đột của Nguyễn Khải do NXB Văn học ấn hành. Tập 1 ra trước tập 2 đúng hai năm, sách mỏng, chỉ có 152 trang 13 x 19; Tập 2 ra năm 1961, 212 trang). Tôi say sưa đọc liền một mạch từ sáng sớm đến khuya hết 364 trang sách. Tác phẩm viết về những người theo đạo Thiên Chúa. Phần lớn họ là những con người lương thiện, hiền hậu, chăm làm, giàu lòng nhân ái, giàu đức tin và… rất dễ bị các thế lực hắc ám lung lạc! Có lẽ chính vì Xung đột viết về nhà thờ mà ấn tượng tác phẩm này để lại trong cái đầu non nớt của một cậu học trò mới mười hai tuổi rất mạnh mẽ, sâu sắc. Trong cái làng Hỗ công giáo toàn tòng ấy, sao mà có những kẻ ác như thế! Họ ác thế mà tại sao những người dân lương thiện trong đó có không ít cán bộ như chị Nhàn, phó Chủ tịch xã cũng có lúc bị mê hoặc, nghe theo?

Quê tôi là xã An Đức, huyện Ninh Giang, Hải Dương, có ba làng và một trại. Ba làng rặt người bên lương. Trại -làng mới lập ven sông của làng Mũa nên gọi là Trại Mũa, cách làng tôi gần cây số- lại toàn những gia đình bên giáo… Gia đình tôi bên lương. Từ bé tý, không hiểu sao tôi rất tò mò, thích nhìn ngắm tháp chuông, giáo đường, thích nghe tiếng chuông nhà thờ Trại Mũa, thích chơi với trẻ con ở đó. Giáo đường Trại Mũa không lớn, xây ở phía trong đê, ven sông Lê – một nhánh của sông Luộc, đổ vào sông Thái Bình – cho nên từ xa đã hiện ra uy nghi đầy sức lôi cuốn. Lớn lên một chút, mỗi lần theo mẹ qua đò sông Lê để sang chợ Bùi, tôi cứ dán mắt vào nóc nhà thờ Bùi Hòa – một công trình kiến trúc rất đẹp ở bên sông, lớn hơn nhà thờ Trại Mũa rất nhiều- mà ngắm nghía, mà tưởng tượng. Tôi nhìn những người ra vào nhà thờ hành lễ hàng ngày ăn mặc rất đẹp như đi trẩy hội mùa xuân, như nhìn vào một thế giới khác, đầy hấp dẫn! Dân quê tôi nghèo, quanh năm lam lũ, ít khi mặc quần áo đẹp như dân bên giáo. Tôi từng xem rất nhiều lễ cưới ở nhà thờ, thuộc làu bài kinh do cha cố đọc với rất nhiều câu hay ý đẹp, là khát vọng của con người. Tôi thường tha thẩn ở các nhà thờ, chạy nhẩy chán thì múc nước mưa ở bể nước mà uống căng phình bụng mới thôi. Sau này, trong những năm Hoa Kỳ ném bom miền Bắc, tôi còn được bố, chú và cô cho đi thăm nhiều nhà thờ: Lớn nhất vùng là nhà thờ Sặt đẹp mê hồn ở thị trấn Kẻ Sặt, kế đến là nhà thờ Ba Đông thuộc huyện Gia Lộc, và tất nhiên có nhà thờ lớn ở trung tâm thị xã Hải Dương. Khi bom Mỹ san phẳng ga xe lửa Hải Dương thì bom rơi trúng nhà thờ lớn, sụp đổ tan tành. Tôi nhìn cảnh tượng tan hoang và bật khóc! Sau này, khi đã in dấu chân khắp Bắc Trung Nam, cũng như trong các chuyến đi công tác ở nước ngoài, tới đâu có nhà thờ là tôi ghé thăm, chụp thật nhiều ảnh. Tôi có một bộ sưu tập cá nhân ảnh của các nhà thờ ở châu Úc, châu Mỹ, châu Âu.. Có lẽ vì khoái nhà thờ nên khi đọc Xung đột, tôi mê say vì tác giả đã miêu tả tường tận về cuộc sống và số phận của những người bên giáo. Tôi đọc say sưa, chỗ nào không hiểu thì hỏi bố, hỏi bác tôi. Hồi ấy mà đã hơn một lần tôi tự nói thầm: sau này lớn lên, nhất quyết mình sẽ viết tiểu thuyết như ông Khải! Khi vào đại học, tôi đọc lại Xung đột cùng tất cả tác phẩm khác của Nguyễn Khải, và cảm nhận được nhiều điều mà thời kỳ mười hai mười ba tuổi mình chưa nghĩ được. Văn chương Nguyễn Khải sắc xảo, giàu chất chính luận kiểu Lỗ Tấn; khi cần thì chỉ vài dòng khắc họa tính cách nhân vật, vài dòng miêu tả bối cảnh sự kiện cũng đủ lột tả sự quyết liệt như chính mối xung đột trong làng Hỗ những năm sau cải cách ruộng đất, bước vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp. Đó là giai đoạn nhiều niềm vui mới và không ít bi kịch. “Mọi trật tự cũ bị tháo tung ra, và một trật tự mới đang được tổ chức lại. Những thói quen cũ bị sụp đổ, và những thói quen mới đang hình thành. Phá hủy và dựng xây, chấm dứt và mở đầu…”. Có người bảo tiểu thuyết anh Khải nặng về ký sự, thậm chí họ còn cho là đầy chất báo chí. Tôi không nghĩ vậy. Chất chính luận sắc nhọn, tiết tấu nhanh là lối viết hiện đại của các tiểu thuyết gia đương thời trên thế giới. Mà dù cho là tân văn đi nữa thì ở nước mình, dễ dầu gì có nhiều người viết được như Nguyễn Khải. Nếu tôi nhớ không lầm thì đến năm 1957, Xung đột là tiểu thuyết duy nhất, đầu tiên, viết về đời sống dân sự ở miền Bắc sau chiến tranh, được in từng kỳ trên báo suốt hơn một năm. Năm 1959 tập I in thành sách. Mãi đến năm 1962, Vỡ Bờ tập I của nhà văn Nguyễn Đình Thi mới xuất bản, lại cũng viết về kháng chiến (tập II Vỡ bờ ra năm 1970). Nhấn mạnh điều này để thấy Nguyễn Khải là một trong những người tiên phong viết tiểu thuyết về cuộc sống dân sự đầy vật lộn cam go sau chiến tranh. Tôi nghĩ chính anh, nhà văn Nguyễn Khải đã khai sinh dòng tiểu thuyết viết về những chuyện thường ngày, bám sát các sự kiện nóng hổi, đầy chất trí tuệ, chính luận của văn học Việt Nam.

Mãi đến năm 1983, lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Khải tại thành phố Hồ Chí Minh. Anh để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc! Từ đó, tôi thường có dịp gần gũi anh. Khi nghe tôi nói về tuổi thơ đam mê chiêm ngưỡng nhà thờ, nói về lần đầu đọc Xung đột, Nguyễn Khải cười rất tươi và từ đấy anh thường chia sẻ với tôi nhiều tri thức anh có được về nhà thờ, về các tôn giáo. Sau chuyến đi Hoa Kỳ về, tôi khoe anh những tấm ảnh chụp nhà thờ của chín tiểu bang ở Mỹ. Anh Khải bảo: “Ông nên xuất bản thành sách bộ sưu tập ảnh nhà thờ, đẹp và quý lắm; cũng như ảnh cây xanh thành phố của ông mà tôi rất thích!”. Hồi đó tôi làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam, thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh, xe cộ để đi công tác rất dồi dào. Tháng nào tôi cũng đi về các tỉnh bốn năm chuyến, từ 15 đến 20 ngày. Chính nhờ làm Đài mà tôi đã lăn lộn được hết các tỉnh miền Nam, thuộc làu tính cách, tập tục, con người, văn hóa ẩm thực các địa phương kể cả hải đảo. Mỗi lần đi xa, tôi thường rủ những bạn đồng nghiệp mà mình quý mến. Một trong những người đó là anh Khải. Giữa năm 1983, tôi mời anh Khải cùng đi huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, nơi có vô số nhà thờ… Hồi đó, chị Liên, Bí thư huyện ủy, sau được bầu vào Trung ương, lên làm việc ở tỉnh, rất quý tôi. Nửa năm sau, anh Khải cho xuất bản tiểu thuyết Thời gian của người. Năm 1984, tôi mời anh Khải đi lên Công ty cao su Tây Ninh. Giám đốc công ty là ông Huỳnh Lân, Tỉnh ủy viên tỉnh Tây Ninh, người đã coi tôi như con của gia đình. Ông Huỳnh Lân đích thân đưa anh Khải và tôi lên thăm Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh. Sau, anh Khải còn đi Tây Ninh một hai lần nữa, và được địa phương nhiệt tình giúp đỡ. Gần một năm sau anh xuất bản tiểu thuyết Điều tra về một cái chết. Anh cho tôi đọc tác phẩm ngay từ khi còn là bản thảo. Với quá trình hình thành hai tác phẩm vừa kể, tôi quan sát cách làm việc, thu thập tư liệu của anh Khải và tôi bị anh thuyết phục về sự lịch lãm khi tiếp xúc với mọi người, lúc nào anh cũng khiêm nhường và điềm đạm, không bao giờ anh lên mặt, đòi hỏi, tỏ vẻ ta đây, ngay cả khi anh được địa phương quý yêu và chiều chuộng. Quan trọng hơn, tôi phục anh về phương pháp tư duy cũng như sự khéo léo khi lồng tư tưởng mà mình tâm đắc vào trong tiểu thuyết. Điều tra về một cái chết ra đời khi mà đối trọng của phe Tư bản, tức Liên Xô, không còn nữa. Có một số ý kiến, nhất là của những người theo Cao Đài kịch liệt phản đối tác phẩm. Rồi tác phẩm rơi vào im lặng, không thấy ai lên tiếng về chủ đích sáng tác của tác giả. Đã hai lần tôi hỏi thẳng anh về điều này, anh chỉ nhìn tôi, cái nhìn rất sâu sắc, hóm hỉnh, và anh chỉ cười! Tôi biết anh Khải không chỉ viết về đạo Cao Đài, đó chỉ là cái cớ, mà anh chú tâm viết về cái cách xây dựng đức tin và sự sụp đổ của một đức tin. Xưa nay, người đọc chưa hiểu hết thông điệp chính yếu của tác giả thể hiện trong tác phẩm cũng là sự thường! Điều tra về một cái chết theo tôi, là một tác phẩm có tầm tư tưởng lớn!

Những nhân vật trong các tiểu thuyết: Xung đột, Mùa lạc, Một chặng đường, Hãy đi xa hơn nữa, Người trở về, Chủ tịch huyện, Chiến sỹ, Cha và con và…, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người, Điều tra về một cái chết, Vòng sóng đến vô cùng, Một cõi nhân gian bé tí, Thượng đế thì cười, cũng như trong rất nhiều truyện ngắn Nguyễn Khải, in đậm dấu ấn của tác giả, một người thông minh, nhạy cảm, vô cùng sắc sảo và lịch lãm. Anh có đôi mắt rất đặc biệt. Khi quan sát thực tế cuộc sống để làm nên da thịt, hơi thở cho cốt truyện đã hình thành trước đó thì đôi mắt Nguyễn Khải vô cùng nhanh nhạy, nhìn như thấu gan ruột người ta, thấu bản chất của vấn đề. Tôi nhìn vào đôi mắt ấy, khi anh trò chuyện với đồng nghiệp nhỏ tuổi hơn anh, lại thấy lấp lánh sự chân tình, bao dung và luôn luôn khuyến khích, động viên. Khi gặp các đồng nghiệp trẻ, nếu đã đọc họ, anh thường khen họ, và thường là khen quá lời! (Giá như anh đừng khen quá lời thì hay hơn cho người được khen, bởi không ít người được anh khen lại… ảo tưởng). Tôi cũng được anh đọc những thứ mình vừa xuất bản, và anh thường khen bằng những lời mà tôi nghe phải đỏ mặt vì ngượng, dù rất thích. Cũng đôi mắt ấy, khi anh nhìn những đồng nghiệp cùng trang lứa mà hay tỏ vẻ ta đây, tôi thấy rõ sự thương hại và lóe lên cả sự kiêu ngạo. Anh Khải ghét những ai giả dối và hợm hĩnh về tài năng. Anh bảo: Nhà văn chỉ nên nói bằng tác phẩm, qua tác phẩm, ngoài ra, chả cần phải nói gì! Ấy là câu anh nói tại hành lang Hội trường Ba Đình. Hôm ấy, anh Khải, anh Xuân Sách, tôi, Ngô Vĩnh Bình và vài người nữa đang trò chuyện trong giờ giải lao ở Đại hội V, Hội Nhà văn. Có một nhà văn gần bẩy mươi tuổi nói oang oang: “Tôi đang viết sắp xong tiểu thuyết này, tôi đang viết dở tiểu thuyết kia…”. Anh Khải nói nhỏ với chúng tôi: “Mười lăm năm qua còn khỏe mà ông ấy không viết được cuốn nào, nay thất thập, đi đái còn ướt giày thì viết lách gì nữa!”. Và anh nói tiếp như tôi đã dẫn ở trên: Nhà văn chỉ nên nói bằng tác phẩm… Anh ít xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, đi hội nghị, anh thường ngồi hàng ghế chót.

Kỷ niệm mà tôi nhớ mãi là lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Khải, giữa năm 1983 tại phòng làm việc của anh Hà Mậu Nhai, Giám đốc NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Hôm ấy, tôi rón rén đến nhận nhuận bút tác phẩm đầu tay: Những người mở đất. Khi viết xong tác phẩm này, tôi đã tự xóa bỏ hai chữ tiểu thuyết và thay vào chữ Truyện. Có lẽ tôi cũng học theo cách Nguyễn Khải. Phần lớn tiểu thuyết của mình, trong lần in đầu tiên Nguyễn Khải chỉ đề là Truyện! Còn một điểm nữa: Nguyễn Khải viết rất ngắn, chỉ từ 150 trang đến 250 trang là cùng. Tôi nói là rón rén đến NXB là nói thật lòng. Bởi vì tôi không hề quen biết ai, không hề được ai nâng đỡ… Đây là tác phẩm đầu tay, viết xong năm 1979 mà đến đầu năm 1983 mới được in (hồi đó việc xuất bản rất khó chứ không như bây giờ!). Hôm đó, nhận nhuận bút xong, đang tính ra về thì tôi nghe ai đó gọi tên. Thì ra anh Hà Mậu Nhai cho gọi tôi lên phòng anh. Một người đàn ông cao lớn, gương mặt nhang nhác một linh mục Thiên Chúa giáo, đang đứng giữa phòng. Tôi bước vào, anh Nhai vui vẻ bắt tay và quay qua nhìn người cao lớn, giới thiệu: Đây là Triệu Xuân, tác giả Những người mở đất mà ông Khải khen đó! Ô! Hóa ra đây là Nguyễn Khải! Người đàn ông tóc hớt cao, đôi mắt sắc, má hóp (hồi đó ai cũng gầy nhẳng) nhưng nụ cười rất hiền phô hàm răng vổ này chính là tác giả Xung đột, tôi đã đọc từ năm mười hai tuổi! Câu đầu tiên, anh Khải nói với tôi: “Sao ông không đề là tiểu thuyết? Mình đọc một mạch, ông viết khéo lắm, tiết tấu nhanh như phim! Cái đoạn ông viết về phẩm chất đảng viên là… bạo lắm, nhà xuất bản ông Nhai cũng to gan lắm!”. Tôi đỏ mặt, ấp úng, chưa biết trả lời thế nào. Một nhà văn lớp trước mà tôi ngưỡng mộ lại đọc mình, đọc rồi lại còn khen mình, lại bảo mình nên đề tác phẩm là tiểu thuyết! Phút bối rối qua mau, tôi bình tâm lại và trò chuyện lưu loát với hai người anh. Mới gặp lần đầu nhưng anh Khải khiến tôi ngỡ như anh là người nhà, thân thiết! Nửa tiếng sau, thấy anh Nhai có khách, chúng tôi chia tay chủ nhà, ra về. Tôi mời anh Khải đi uống bia để ghi nhớ ngày gặp anh. Anh cám ơn, thân mật từ chối và nói thêm: “Nhuận bút được mấy đồng mà bia bọt gì. Mang về nhà cho cô ấy nuôi con!”. Anh Khải dắt chiếc xe đạp sườn ngang cao lêu đêu và đạp băng băng trên đường Lý Chính Thắng.

Tháng 10-1979, nhà văn Nguyễn Khải chuyển cả gia đình vào sống tại quận Tư thành phố Hồ chí Minh, giữa lúc anh đang nổi như cồn ngoài Hà Nội. Đó là thời gian báo chí nói nhiều về anh sau khi sách anh liên tục ra lò: tập bút ký Tháng ba ở Tây Nguyên, tập kịch Cách mạng, tiểu thuyết Cha và con và… Những năm này đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, chiến tranh biên giới, bị cấm vận, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Câu ca Đầu đường đại tá bơm xe… xuất hiện vào thời này. Đại tá Nguyễn Khải không phải đi bơm xe nhưng sống rất chật vật. Anh viết văn bằng tay, thường bò trên phản mà viết. Cuối năm 1983, gặp anh ở cuộc họp cộng tác viên báo Sài Gòn Giải phóng, anh nói nhỏ với tôi: “TX biết không, đêm qua mình thức viết đến hai giờ, đói quá, mờ mắt, phải buông bút đi nằm. Giá mà có được một lát thịt bò bít tết và mẩu bánh mì lúc đó thì mình đã viết xong cái mạch cảm hứng đang trào đến! Tiếc quá!”. Thương thay cho kiếp nhà văn! Chính tôi cũng nhiều lần như vậy. Vậy mà anh Khải vẫn viết đều đều, sách ra đều đều, cái nào cũng ngăn ngắn, dễ đọc, bán chạy. Anh sống giản dị, lúc nào ra ngoài cũng quần tây, thường là quần bộ đội, áo sơ mi trắng ngắn tay, dép rọ có quai hậu. Rất ít khi thấy anh mang giày, và mặc áo sơ mi tay dài, thắt cravat. Anh không nghiện ngập cà phê, thuốc lá, rượu bia, gái gú lại càng không! Uống một chai bia là anh ngừng, sợ say. Thỉnh thoảng anh nể bạn, nhận một điếu thuốc lá, trông anh cầm thuốc hút y hệt khi cầm đũa! Tôi biết anh Khải quý mến và thân tình với nhiều đồng nghiệp trong đó có nhiều người trẻ. Ai cũng bảo anh xứng đáng là người anh: chân thành, bao dung, biết vui mừng cho niềm vui của người khác. Những năm cuối đời, do bệnh tật, do khoảng cách (có thời gian anh về ở quận 12), anh ít gặp gỡ mọi người. Thế nhưng mỗi lần điện thoại với anh, anh em nói hoài không muốn dứt! Tháng Mười 2006, tôi mời anh đến dự Lễ ra mắt Quỹ Phát triển Tài năng Văn học của báo Sài Gòn Giải phóng- do tôi khởi xướng- anh vui lắm. Anh khen tôi hết lời, nhưng vì bệnh nên anh không đến dự được. Đầu Xuân 2007, tôi mời anh đến dự cuộc gặp mặt của Nhóm Văn chương Hồn Việt. Anh trả lời: TX ơi, mình rất phục ông và anh chị em trong Nhóm Văn chương Hồn Việt về tiêu chí giúp nhau sáng tác, cùng nhau làm việc nghĩa. Giá như mình mới ngoài năm chục tuổi, khỏe mạnh, thì mình xin tình nguyện theo Nhóm Hồn Việt!

Mới đó mà đã hai mươi lăm năm, kể từ lần đầu tiên tôi gặp nhà văn Nguyễn Khải! Một phần tư thế kỷ đã trôi qua! Mới đó mà đã đến giỗ Một trăm ngày anh Khải. Đôi mắt anh Khải đã vĩnh viễn khép lại rồi. Đám tang anh tôi chứng kiến từ đầu chí cuối, có hơn hai trăm sáu chục đoàn và cá nhân đến viếng. Tuy không đông về số lượng như một vài đám tang khác, nhưng điều đáng ghi nhận ở đây là: Những người đến viếng rất ít người vì ngoại giao, vì nghi lễ, mà hầu hết là vì thương nhớ anh, qúy trọng anh, đau buồn khi anh qua đời. Anh Khải đã sống và sáng tác hết mình, với cả tấm lòng thành luôn hướng về nhân dân, về dân tộc và đất nước. Những tác phẩm của anh để lại là tài sản quý giá của nền văn học, văn hóa Việt Nam.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng Ba năm 2008

Nguyễn Khải thử phác họa một chân dung văn học

Mai Quốc Liên

Có lần, trong một cuộc trò chuyện giữa anh và tôi qua điện thoại, thường là hàng tiếng đồng hồ, đủ thứ chuyện trên đời, chẳng hiểu vì sao chúng tôi lại lạc vào Nguyễn Gia Thiều và Cung oán ngâm khúc. Đó là nhà văn trữ tình – triết học về nhân thế hay và lớn của văn học nước ta. Anh Nguyễn Khải đề nghị tôi tổ chức một cuộc hội thảo về Nguyễn Gia Thiều, và nếu cần, anh sẽ tài trợ. Tôi đoán chừng anh là hậu duệ của Nguyễn Gia Thiều chăng? Cái gène văn chương triết luận của anh có phải là sự kế thừa từ ông cụ tổ?

Con người nho nhã, có dáng của các “cụ đạo”, thế mà lại ham triết luận. Anh là người hay cả nghĩ, lo toan, hay “hiếu sự”, “gây sự” trong văn chương (trong đời thì có vẻ dút dát, cho qua để được yên thân). Nhất là từ sau 1975, nhiều tác phẩm của anh rất giàu tính triết luận.

Nhà văn viết là viết tư tưởng, suy tưởng của mình về cuộc sống. Mà cuộc sống của ta thì bề bộn bao nhiêu vấn đề. Từ chiến tranh sang hòa bình, chọn đường đi thế nào, người thành thị trí thức ở miền Nam nghĩ gì, làm gì trước biến cố lịch sử ghê gớm ấy…

Từ những sai lầm ấu trĩ về kinh tế tập trung – bao cấp chuyển qua kinh tế thị trường, mà vẫn kiên trì định hướng của xã hội chủ nghĩa, “tuy đích chưa đến, nhưng lòng hướng về” (Kinh Thi), có biết bao vấn đề tranh cãi, chọn lựa, nhận thức lại… Bên cạnh tính triết luận của tác phẩm, là tính đối thoại.

Trong các nhà văn sau 1945 cách mạng – kháng chiến – chủ nghĩa xã hội, Nguyễn Khải có lẽ là người duy nhất thực hiện được thành công tính đối thoại của tiểu thuyết hiện đại. Trong khi các nhà văn khác viết theo tuyến tính liền một mạch, thì Nguyễn Khải quanh co, khuất khúc hơn.

Các nhà văn khác ổn định hơn, cái nhìn, cách nhìn trong văn xuôi, định hình bởi những chân lý tuyệt đối, thì Nguyễn Khải có vẻ tương đối luận, và do đó dễ di chuyển điểm nhìn để có một sự tiếp cận đa dạng, nhiều chiều hơn với đối tượng miêu tả.

Trong khi vẫn là một nhà văn cách mạng (đi cách mạng từ 16 tuổi, qua bao chặng đường phức tạp, chông gai, phong phú của cuộc sống… mà lên đến bậc “thượng thừa” của văn chương cách mạng), Nguyễn Khải tỏ ra “sắc mắc” nghĩ ngợi, băn khoăn, hoài nghi, dày vò mình vì “những điều trông thấy” quá đỗi phức tạp, và thế là ông để nhân vật đối thoại với nhau, đối thoại với chính mình, nhân vật và tác giả không đồng nhất, mà nó được “khách quan hóa”, được “gián cách” và đôi khi lạnh lùng, “tàn nhẫn” một chút để nói lên sự thật.

Đối với nhà văn, thì sự thật là không khí. Vấn đề là cái nhìn, điểm nhìn. Nguyễn Khải có thể “lúc thế này, lúc thế kia” là vì phải đuổi theo cái sự thật luôn luôn biến đổi đến chóng mặt đó. Nhưng luôn luôn ông là người biết nghĩ và nghĩ đúng – Trong khi có người mệt mỏi và muốn phủ định cả cái chính nghĩa, cần thiết… của cuộc chiến tranh giành độc lập, cho là nó hao xương tốn máu vô ích, thì Nguyễn Khải – không phải vì hàm Đại tá quân đội – vẫn khẳng định tính tất yếu của cuộc chiến tranh ấy, bằng tác phẩm và bằng phát biểu.

Trong cuộc mạn đàm sau khi bỏ phiếu trao giải thưởng Văn học TP Hồ Chí Minh 2006, hội đồng ngồi lại với nhau, ông nói về cuộc chiến đấu ấy rồi dẫn lời của Tổng Bí thư Lê Duẩn nói với cán bộ quân đội: “Đảng ta đang phải đối mặt với những quyết định hết sức hệ trọng có quan hệ tới sự tồn vong của dân tộc, của quốc gia. Trung ương rất lo lắng và muốn các đồng chí cùng chia sẻ những lo lắng cùng Trung ương”. Câu nói một đời ông ghi nhớ! Cũng ít có nhà văn yêu kính Bác Hồ, suy tưởng về Bác nhiều như Nguyễn Khải. Tôi hiểu nhà văn hơn trong câu chuyện ấy.

Kịch Cách mạng, tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm là những suy tưởng của ông về buổi đầu của sự kết thúc chiến tranh 30 năm. Ông chọn tầng lớp trí thức – quan chức cao cấp để tiến hành đối thoại… Cuộc đối thoại dài xoay quanh chủ đề về cái kết thúc chiến thắng và những biến động, tâm trạng, phân hóa của họ… Tôi có cảm giác sự dồn nén, u uất, mâu thuẫn khắc nghiệt, lời qua tiếng lại chan chát… trong kịch Cách mạng, cái không khí nặng nề, cái sự tự mổ xẻ, tự phân thân đầy tính kịch ấy có cái gì như trong kịch Ba chị em của văn hào Nga Tchekhov (ở đây tình cờ cũng là ba chị em). Nguyễn Khải đã khai sinh một thể loại mới, thể loại kịch tâm lý – chính luận trong văn chương Việt Nam…

Trong những tác phẩm như thế, Nguyễn Khải luôn có mặt, luôn tự phác họa chân dung chính trị – đạo đức của mình, nhưng tác giả ẩn kín, không ra mặt. Đó cũng là một thủ pháp. Nguyễn Khải cũng đã để cho Biên, một sĩ quan quân đội Sài Gòn, một người thấu hiểu cái kiếp nô lệ của đời lính cho ông chủ Mỹ, nói lên thật dữ dội, chọi lại cái “cơ hội chính trị” của bà Hoàng, một nhân vật quý phái, đỏng đảnh, mãnh liệt đòi “treo cổ cộng sản lên các cột đèn”, người luôn bảo vệ những giềng mối cũ: “Chúng ta đâu phải là những chính nhân quân tử? Chỉ cần cái mạng sống của riêng mình là chúng ta sẵn sàng phản bội, phản bội mọi người và phản bội chính mình. Chỉ cần mỗi chúng ta có một chút xíu tự do là có thể bán đứt tự do của những người khác, của hàng triệu người khác. Cái tính ích kỷ của chúng ta đã trở thành tội lỗi mất rồi…” (Nguyễn Khải, Ký sự và kịch, tr. 412-413).

Chủ đề “phản bội” cũng là một chủ đề của văn học đương đại, bởi lẽ ngày nay nói như nhà văn Nga Raxputin, có người đang nâng những cung bậc khác nhau của sự phản bội lên thành giá trị. Nhưng chính Nguyễn Khải cũng lại là người hết lòng hòa giải, hòa hợp: ông đến với người khác mình bằng tấm lòng thành, và ông là bậc thầy của sự hòa giải.

***

Nguyễn Khải đã tìm ra cho mình một ngôn ngữ tiểu thuyết của riêng mình. Trong văn chương Việt Nam sau Nam Cao và Vũ Trọng Phụng (nhất là Số đỏ), thì Nguyễn Khải là người khám phá ra được đặc trưng ngôn ngữ mang tính tiểu thuyết hiện đại. Tính đối thoại đã được thực hiện trong tác phẩm Nguyễn Khải trên nhiều cấp độ: cấp độ xã hội, giữa chính – tà, ta – địch (trong Gặp gỡ cuối năm) cấp độ cá nhân và cá nhân, cấp độ tác giả và nhân vật, tôn giáo và phi tôn giáo (Cha và con và…), cấp độ siêu hình học (con người và không gian, thời gian trong Cõi nhân gian bé tí).

Chất đối thoại, suồng sã, giễu nhại ngay chính bản thân mình – làm cho tác phẩm nhạt đi chất “quyền uy” của một số tác giả viết nhân danh lịch sử, tư tưởng… Nguyễn Khải vẫn không thôi là một “cán bộ chính trị quân đội”, vẫn mang “chất tuyên giáo”… nhưng có điều là ông biết đan xen nó với ngôn ngữ tự vấn, với ngôn ngữ đời thường, thông tục; chất trào tiếu dân gian, chất hoài nghi triết học trộn vào nhau. Nên nó mở ra qua những trùng trùng chi tiết cuộc sống vốn rất giàu có ở Nguyễn Khải một bút pháp hiện đại, mang được chiều sâu nghệ thuật, khác với nhiều tác giả đương đại cùng lứa, cùng thời. Đó là chỗ mạnh của ông.

Thế còn chỗ yếu? Nói đi cũng nên nói lại. Ông không phải là “vô địch”… Ông đuổi theo thời sự, nóng, hấp dẫn vô cùng, nhưng “chất báo chí, chất thông tấn” (như có người nói) đôi khi lấn át chất nhân văn vĩnh cửu, đáy sâu xao động lòng người bền lâu của văn chương. Cả đời ông đi, nghe nhìn, quan sát… nhanh nhạy, lý giải thông minh; nhưng ít chất nghệ sĩ bẩm sinh, như ông có lần tự thú nhận.

So với Nguyễn Đình Thi, ông không thể đọ được chất trữ tình sâu lắng, chất triết luận tinh tế trong kịch và thơ, nhưng có lẽ hơn Nguyễn Đình Thi cái gai góc, xù xì của truyện. So với Nguyễn Minh Châu, ông ít xao xác hơn, mặc dù ông “tung hoành” hơn…

Có gì cần nói thêm về Nguyễn Khải? Ông là một con người, một nhân vật của thời đại chúng ta với tất cả mặt mạnh, mặt yếu của nó. Nguyễn Khải là người tinh khôn, không dễ bị lôi kéo (ông “lôi kéo người khác thì có!”). Nói về sự khác biệt giữa chính trị – chính quyền – chính chức và văn nghệ, ông nói rất hay ở nhiều nơi vì ông đã thể nghiệm mối quan hệ này suốt cả một đời. Nhưng có suy nghĩ này về văn học, hồi ông làm Phó tổng thư ký Hội Nhà văn, nhân xảy ra “sự cố” báo Văn Nghệ, ông viết thật hay:

“Tôi không thích một lần nữa Hội Nhà văn và lãnh vực văn nghệ lại trở thành một trận địa quyết chiến của mấy ông tranh bá đồ vương. Tôi không nói vu đâu, cái sự chửi bới, bôi nhọ, vu khống tất cả những ai dám nói ngược, viết ngược; đe dọa ra mặt hoặc bắn tin đe dọa bất cứ ai tỏ vẻ lạnh nhạt, hoài nghi, cái sự tàn sát tận diệt, gây một không khí căng thẳng, hung bạo ấy sặc mùi chính trị. Cứ bảo văn nghệ và chính trị phải chia ra, không được nhập làm một, chúng ta chỉ làm có văn nghệ thôi, nói thế tức là chính trị lắm đấy, chính trị từ gót chân đến đỉnh đầu, vì những người hò hét phải xua đuổi chính trị ra khỏi văn nghệ lại rất thích nắm quyền, rất thích quyền lực, nói ra miệng chứ không phải nghĩ thầm, mà quyền lực là mục tiêu cao nhất của chính trị rồi. Rõ thật cái vòng luẩn quẩn… Một lần nữa, với mấy anh muốn mượn Hội Nhà văn để xây mộng công hầu, tôi xin có lời kêu gọi khẩn thiết: “Hãy buông tha chúng tôi, đừng xúi giục anh em chúng tôi đánh lẫn nhau, đừng quấy nhiễu chúng tôi, đừng lợi dụng chúng tôi!” (trích thư đề ngày 1-9-1988 gởi Ban Chấp hành Hội Nhà văn). Như thế là quyết liệt, rạch ròi lắm đấy chứ, đâu phải “tay mơ”! Chân đế của giàn khoan văn chương Nguyễn Khải vẫn là và bao giờ cũng là chính trị – xã hội với những suy tư đích thực của một văn nghệ sĩ. Tôi tin rằng người đọc, người nghiên cứu vẫn sẽ còn quay lại với Nguyễn Khải lâu dài vì những đặc tính của tác phẩm ông.

Nghịch lý Nguyễn Khải

Hoàng Đình Quang

Do sự phân công của Hội nhà văn, tôi và Triệu Xuân được chỉ định thay phiên nhau ngồi thường trực đón những đoàn thể và cá nhân đến viếng nhà văn Nguyễn Khải, tại đám tang ông vào các ngày 16-17/01/2008. Công việc nhiều quá, bận bịu thế, ngồi đấy mà như lửa đốt, nhưng chúng tôi vẫn làm tròn bổn phận của mình. Sau 3 ngày tang lễ, tôi lại thấy trong đầu ốc xuất hiện những cảm giác lạ, cảm thấy mình như vừa có một chuyến đi thực tế, không kém phần phong phú và nghĩ ngợi.

***

Gần đây, nhiều nhà văn ra đi quá, mà toàn những người tiếng tăm, có cảm giác là vơi đi mất một góc chiếu. Trong số ấy, tôi muốn nói đến Trần Quốc Thực, một người từ biệt thế giới này vào những phút cuối cùng của năm 2007.

Tôi với Trần Quốc Thực là bạn, nhưng không thân. Năm 1990, tôi ở Hà Nội khá nhiều. Lúc đó Hà Nội chưa đông như bây giờ, và Văn Miếu – Quốc tử giám còn rất hoang phế. Hàng bia tiến sĩ bỏ hoang, tôi vào một cách tự nhiên, và những con rùa đá cụt đầu cùng với phân chó và phân người rải rác. Tôi gặp Trần Quốc Thực trong bầu không khí như thế. Thực rủ tôi đến 19-Hàng Buồm (trụ sở Hội Văn Nghệ Hà Nội và báo Người Hà Nội lúc bấy giờ) để lấy tiền nhuận bút 2 bài thơ của anh rồi đi uống bia hơi. Thực rủ tôi về nhà anh ăn cơm, nhưng tôi ngại nên thôi. Tôi nhớ, lúc đó đang có dư luận về việc xét giải Văn học năm 1990. Thực có tập thơ Miền chờ mỏng thôi, nhưng có nhiều tìm tòi, nên cũng hy vọng. Chúng tôi xôn xao lắm. Không khí thì nghèo nàn, nhưng thơ ca thì sôi động. Năm ấy, Nguyễn Quang Thiều với chiếc xe đạp cuốc Liên Xô và tập thơ Ngôi nhà tuổi mười bảy, đã chủ trì một đêm mạn đàm thơ của Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ tốn mất mấy con ngan và 20 lít rượu trắng. Trần Quốc Thực rủ rỉ thuyết phục tôi: thơ phải thay đổi. Tôi ậm ừ, nhưng thấy mình không thể theo được thơ nữa rồi.

Sau này có nhiều lần gặp nhau, nhưng chúng tôi không bàn gì nữa, Thực như một đạo sĩ, chậm chạp, mệt mỏi. Gần đây nhất, với đôi mắt buốn bã, Thực nói với tôi: Quang gửi ra một chùm thơ nhé. Tôi cười: có biết làm thơ nữa đâu! Và thôi. Cho đến khi nghe tin anh ra đi…

Năm ấy, tôi về Sài Gòn in xong tập Nói thầm thì thôi, không làm thơ nữa và chuyển hẳn sang viết văn xuôi.

Tôi viết truyện ngắn rất nhanh, hơn chục truyện ngắn ra đời chỉ trong vòng một năm (in thành tập Mùa chim ngói). Tiểu thuyết cũng nhanh, Những ngày buồn chỉ trong 2 tháng. In trên báo Văn Nghệ, tạp chí VNQĐ… hay hay không, chưa dám nghĩ, nhưng bạn bè và đặc biệt các bậc thầy, đàn anh nhắc đến. Tôi nhớ là Nguyễn Quang Sáng gọi cho tôi chỉ nói mỗi một câu: Mày viết cái Mùa chim ngói được quá! Lê Văn Thảo thì khen Cái roi. Và… Nguyễn Khải! Tôi chưa gặp ông bao giờ, cho đến khi tôi đánh bạo gõ cửa nhà ông, tặng ông cuốn tiểu thuyết vừa in xong. Tôi nghĩ tặng thế thôi, chắc gì ông đã đọc. Nhưng không phải, mấy tháng sau ông gặp tôi và nói: cứ thế mà viết! Có điều, người “anh hùng” hơi có vẻ không tưởng ! Khi cuốn tiểu thuyết ấy được giải thưởng, nhà văn Trần Quốc Toàn về nói lại cho tôi nghe: Nguyễn Khải bảo: thằng này được giải oan ! Tôi không hiểu thế nào. Sau này, được họp cùng chi bộ, ngồi cạnh ông, tôi định hỏi, nhưng không dám, cho đến hôm nay, khi ông mất.

***
Ngồi thường trực ở đám ma ông, tôi thấy nhiều người nói: Nguyễn Khải đã rút ruột ra nói với tôi… Hoá ra, ai cũng thế, nói chuyện với Nguyễn Khải, luôn có cảm giác được ông trút hết cả ruột gan cho mình xem. Tôi rất liều, bạn bè ở đâu xa, muốn đến gặp Nguyễn Khải, tôi đều đưa đến và được ông… rút ruột cho nghe, về chuyện đời, chuyện nghề. Phạm Quốc Ca từ Đà Lạt xuống, tôi đưa đến, Nguyễn Khải tiếp chúng tôi có cả bia và thuốc lá Jet (ông hút loại khá nặng). Có một người bạn tôi, đọc bài ký của ông về dâu tằm Lâm Đồng, muốn hỏi cách đưa người nhà ở quê vào, tôi cũng đưa đến gặp Nguyễn Khải, và ông cũng tiếp một cách nồng ấm… Tôi chưa bao giờ được nghe Nguyễn Khải khen tôi, nhưng một người khác kể lại, ông nói về tôi: nó (và hai thằng nữa) viết truyện ngắn khá ở trong Nam (thời điểm năm 1995). Điều này tôi quý hơn những giải thưởng.

Một lần, giữa những năm đổi mới sôi nổi (và toàn diện) tôi đến thăm ông và hỏi: “Người ta đang bàn luận um sùm về lý thuyết văn chương, theo anh thì nên theo lý thuyết nào?”. Ông vừa pha nước vừa nói, hình như với cái xuyến chứ không phải với tôi (nguyên văn): Làm thằng nhà văn thì làm chó gì có lý thuyết, trông nhau mà viết! Tôi im lặng và xem đây là bài học cơ bản và cụ thể mãi mãi trong đời viết của mình! Tôi chắc sẽ không đủ can đảm để đi tiếp bước đường văn, nếu không nhận được bài học này của ông.

***
263 đoàn, tập thể và cá nhân đến viếng và gửi vòng hoa đến đám tang Nguyễn Khải, tôi tỉ mận chọn ra:

Chủ tịch quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban tuyên huấn trung ương Tô Huy Rứa, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân gửi vòng hoa. Bí thư thành uỷ gửi vòng hoa, do phu nhân bí thư đem tới viếng.

Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi vòng hoa và đứng gần 1 tiếng đồng hồ từ lúc 5:30 AM ngày 18 để dự lễ truy điệu.

Có những bức điện hoa, điện chuyển tiền (cao nhất là 1triệu đồng) gửi đến. Bà con láng giềng của ông Khải ở quận 4, TP HCM và nhiều người hàng xóm của ông ở bãi Phúc Xá – Hà Nôi từ hơn 30 năm về trước, người vào đây thì đến viếng, người ở xa thì gửi hoa…

Hoá ra ông không có nhiều bạn văn: chỉ độ hơn 30 người! Trong số bạn cùng thời, tôi thấy có Nguyên Ngọc, Trần Kim Trắc, Đoàn Minh Tuấn… đến viếng, còn lại gửi vòng hoa. Bạn văn lớp trẻ hơn cũng ít quá. Hội văn nghệ địa phương chỉ có Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai.

Trong số này, có nhiều bạn ông (già như ông hoặc hơn kém vài tuổi) làm đủ thứ ngành nghề, xa lạ với văn chương nghệ thuật, lại thường hay có mặt ngày đêm, và tiện đưa ông đến tận miệng huyệt. Bác sĩ, nhà giáo, hội người tiêu dùng, ngân hàng… và cả những người làm nghề gì đó mà không ai biết… (nhà văn Ngô Vĩnh Bình thống nhất với tôi: những người ất ơ). Số này đến quá nửa!

Sao thế nhỉ? Cuộc đời ông có cái gì đó chênh vênh với nghiệp dĩ chăng?

Nguyễn Khải có 60 năm tuổi Đảng, có Huân chương Độc lập Hạng nhì, có quân hàm Đại tá, là đại biểu Quốc hội, có người đọc sách, mua sách của ông… Các con ông thành đạt, giàu có hàng đại gia.

Trong số các nhà văn Việt Nam, số người tài mà thành đạt và yên ổn, được tôn vinh, được trọng dụng như Nguyễn Khải, có lẽ đếm không quá số ngón tay của một bàn tay!

Phải chăng, trong con mắt của các nhà văn, những bạn văn lớn nhỏ thì: một người tài, không được phép thành đạt? Và ngược lại: anh không thành đạt vì anh có tài? Anh thành đạt vì anh không có tài?

Văn chương Nguyễn Khải nặng về lý.

Ôi! Chân lý hay nghịch lý đây?

Tôi viết vậy thì tôi tồn tại.
Vui đi dưới mặt trời !

 
Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là hoangkim1.jpg

VUI ĐI DƯỚI MẶT TRỜI
Hoàng Kim

Hãy lên đường đi em
Ban mai vừa mới rạng
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui khỏe đời cho ta.

Vui đi dưới mặt trời
Nắng dát vàng trên đồng xuân
Mưa ướt vệt bóng mây, tím sắc trời cuối hạ
Đất ước, cây trông, lòng nhớ …

Người tốt việc tốt trốn tìm đâu
trong giấc mơ tâm tưởng
Chuyện Bác Hồ ước ao dặn lại …
Ngôi nhà con hạnh phúc trăm năm
Bếp lửa ngọn đèn khuya
Vận mệnh cuộc đời cố gắng

Tình yêu là người thầy tốt hơn trách nhiệm
Đồng lòng đất cảm trời thương
Phúc hậu minh triết tận tâm
Cố gắng làm người có ích

Tháng năm tròn đầy vườn thiêng cổ tích
Mừng ban mai mỗi ngày tỉnh thức bình an
Chào ngày mới CNM365 Tình yêu cuộc sốn
Thảnh thơi vui cõi phúc được thanh nhàn.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là 2-nhatoi.jpg

HỌC MẶT TRỜI TỎA SÁNG
Phúc hậu và an nhiên
Hoàng Kim


Học mặt trời tỏa sáng
Phúc hậu và an nhiên
Biết kiên trì việc chính
Học nước chảy đá mòn
Vui đi dưới mặt trời

xem tiếp Bảy định luật cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com/category/vui-di-duoi-mat-troiChuyện đồng dao cho em https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-dong-dao-cho-em

HoangKim2017a

GÕ BAN MAI VÀO PHÍM
Kim Hoàng


Ta gõ ban mai vào bàn phím
Dậy đi em ngày mới đến rồi

Em đọc lại Nhà Giả Kim em nhé
Bài ca thời gian câu chuyện cuộc đời
Một giấc mơ Người đi tìm kho báu
Theo ước mơ mình tới chốn xa xôi

Bậc tiên tri biết nhìn sâu khát vọng
Khuyến khích em theo mơ ước tuổi hoa
Đi tới cuối con đường hạnh phúc
Hãy là chính mình, ta chính là ta.

Em thấu hiểu có ngôi sao may mắn
Luôn bên em lấp lánh phía chân trời
Nơi bảng lãng thơ tình Hồ núi Cốc
Giấc mơ đưa ta về cổ tích xa xôi …

BẢY ĐỊNH LUẬT CUỘC SỐNG
Chuyện đồng dao cho em
Hoàng Kim


Luật hấp dẫn
Quyết chí điều mình muốn

Luật tập trung
Việc chính biết dày công

Luật trách nhiệm
Dám làm thì dám chịu

Luật kiên trì
Không bỏ cuộc giữa chứng

Luật nhân quả
Gieo gì thì gặt nấy

Luật chấp nhận
Biết tỉnh thức mới khôn

Luật kết nối
Đoàn kết là sức mạnh

CHUYỆN ĐỒNG DAO CHO EM
Hoàng Kim


Đồng dao là chuyện tháng năm
Lời ru của mẹ Trăng rằm thảnh thơi
Biết tìm bạn quý mà chơi
Học ăn học nói làm người siêng năng

Hiểu nhàn biết đủ thời an
Thung dung minh triết thanh nhàn thảnh thơi
Người sung sướng biết sống vui
Những người hiếu hạnh được đời yêu thương.

Việc chính là học làm người
Khắc sâu nhân nghĩa nhớ đời đừng quên
Hiếu trung phải học đầu tiên
Đừng tham tưởng bở mà quên ân tình.

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên
Cứ trên là sáng cứ tiền là xong
Đừng tưởng không nói là câm
Không nghe tưởng điếc không trông tưởng mù

Đừng tưởng cứ trọc là sư
Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan
Đừng tưởng có của là sang
Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây.

Đừng tưởng cứ uống là say
Tai trâu đàn gẩy lời hay ham bàn
Đừng tưởng giàu hết gian tham
Không thời chẳng vận lạm bàn chuyện dân

Đừng tưởng cứ mới là tân
Cứ hứa là chắc cứ ân là tình
Đừng tưởng cứ thấp là khinh
Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to.

Đừng tưởng già hết hồ đồ
Cứ trẻ là chẳng âu lo buồn phiền
Đừng tưởng cứ quyết là nên
Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua.

Đừng tưởng đã dấm là chua
Sấm rền là sẽ có mưa ngập trời
Đừng tưởng vui chỉ có cười
Buồn thì ủ rũ chỉ ngồi khóc than

Đừng tưởng cứ lớn là khôn
Cứ bé là dại cứ hôn là chồng
Đừng tưởng bịa có thành không
Nhìn gà hóa cuốc lẫn ông với thằng

Lúc vui tham bát bỏ mâm
Đến khi hoạn nạn tần mần bỏ đi
Đừng tưởng không nhất thì nhì
Phò thịnh sung sướng giúp suy nghèo hèn

Gặp trăng thì vội quên đèn
Hám tiền quên nghĩa đỏ đen lạc đường
Đừng tưởng giàu hết cô đơn
Cao sang hết ốm gian tham hết nghèo.

Đừng tưởng cứ núi là cao
Cứ sông là chảy, cứ ao là tù
Đừng tưởng cứ dưới là ngu
Tham giành là được thấy tu tưởng hiền.

Đừng tưởng cứ thấp là hèn
Cứ sang là trọng cứ tiền là xong
Đừng tưởng quan chức là rồng
Dân thường thấp cổ thì không biết gì.

Đời người lúc thịnh lúc suy
Lúc khỏe lúc yếu lúc đi lúc dừng
Đắng cay chua ngọt đã từng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.

Ở đời nhân nghĩa làm đầu
Thủy chung sau trước tình sâu nghĩa bền
Học làm người việc đầu tiên
Hiếu trung phúc hậu đừng quên nối vần

“Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi , vụng tu thì chìm”

“Chồng khôn thì được vợ chiều
Vợ ngoan thì được chồng yêu suốt đời”

“Người trồng cây hạnh mà chơi
Ta trồng cây đức để đời mai sau”
(*)

(*) Ca dao người Việt cổ
xem tiếp Chuyện đồng dao cho em https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-dong-dao-cho-em

Vui đi dưới mặt trời

Học mặt trời tỏa sáng
Phúc hậu và an nhiên
Biết kiên trì việc chính
Học nước chảy đá mòn
Một niềm tin thắp lửa

Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

VTV1 19 9 2022 Lúa Thoại Sơn An Giang https://youtu.be/itIT6_cI470
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Quà Xuân thật tuyệt vời

#Thungdung 599
QÙA XUÂN THẬT TUYỆT VỜI
Hoàng Kim

Ngọc Quan Âm Mai Bồ Đề vườn cũ
Nắng thanh tân nước biếc trúc ngàn hoa
Tâm bình hòa tương lai không vọng tưởng
#Thungdung đời mình an định cùng ta


Quà xuân thật tuyệt vời! Hoàng Kim cảm bình và có thơ họa vần, xem tiếp :https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dua-vui-cung-thuan-nghia/

Sắn Việt và Sắn Thái Pho Tượng Ngọc Quan Âm

Bảo tồn và phát triển sắn https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chon-giong-san-viet-nam/

dav
Đùa vui cùng Thuận Nghĩa

ĐÙA VUI CÙNG THUẬN NGHĨA
Hoàng Kim

Ta về lại thăm rừng xưa Thuannghia (*)
Cùng Lão Phu đàm đạo chuyện Thần Thông
Thập nhị nhân duyên mười hai tuyệt kỹ
Khả năng thích nghi năng lực siêu phàm

Tha tâm thông hiểu hành vi người khác
Thiên nhãn thông nhìn thấu suốt nơi xa
Thiên nhĩ thông nghe những lời kín tiếng
Khinh công thông nhanh gió dục mây vần

Thủy thượng phiêu lướt bay trên mặt nước
Tâm thức chuyển di thoắt ở thoắt về
Huyền nhiệt luyện ngọn lửa thiêng Tam muội
Lôi hỏa điện thân phát điện ngàn vôn

Thiết bố sam luyện mình đồng, thân sắt
Sư tử hống tiếng gầm chúa sơn lâm
Truyền âm nhập mật thâm sâu thấu tỏ
Năng lực thích nghi bí ẩn sinh tồn

Ta chợt thấu những chuyện đời khó giải
Tình thế Biển Đông tiến thoái lưỡng nan
Mèo vờn chuột thuận thiên và kế hiểm
Bức tranh nhân gian thiện ác khó bàn.

Ta về lại rừng xưa cùng Thuannghia
Gặp Lão Phu múa gậy dưới trăng rằm
Thuận thời Càn Khôn, Hàm Hằng chính đạo
Kí Tế xong rồi, Vị Tế chưa xong …

Thích Tiếu Ngạo Giang Hồ qua bể ái
Cưỡi hạc tung tăng chơi chốn Bồng Lai
Thung dung cuộc đời, thảnh thơi trời đất
Vô sự an nhàn sống giữa thiên nhiên.

Thích cùng lão
dạo chơi VÔ PHƯƠNG CÚ
Dấu chân hoang
Thong thả lạc non ngàn
Chẳng e ngại chông chênh hay tâm bão
Bởi tâm hồn tĩnh lặng thật an nhiên

Hoa của Đất
duyên may còn sức khỏe
Nẻo Âm Dương xin Bụt ước ba điều
Con và cháu
thêm ba nguồn trí huệ
Ngọc cho đời
Thành Phước Đức cho Dân

Tâm an định
nên lòng không vướng bận
trí an hòa xử thế thật thung dung
khi kho báu
trong lòng ta đã rõ
chẳng Ưu Tư mặc gió dục mây vần

dẫu như vậy
đôi khi bâng khuâng hỏi
cửa Thần Phù
khéo giữ trọn đường tu
lênh đênh nước
lênh đênh con thuyền nhỏ
chốn nhân gian ước được thế nhân phù.

những lúc ấy
mới hay duyên tiền định
trong thâm tâm
mới tỏ sự luân hồi
luật Nhân Quả
lật Sách Trời gạn hỏi
Mới hiểu đời học mãi vẫn chưa thôi

Vô Phương Cú
Câu thơ thần tĩnh lặng
Vòm trời xanh
thăm thẳm một thinh không
Ta chợt ngộ
Ban mai chào trước ngõ
Bình minh lên
Trời đất thật VÔ CÙNG…

ĐÙA VUI CÙNG THUẬN NGHĨA
Hoàng Kim

I
Ta thích được đùa vui cùng Thuận Nghĩa
Lắng nghe tiêu, học trực tuyến cùng thầy
Học xong bài thấy bình an dễ chịu
Hơi thở an lành khoan khoái phiêu diêu

Nhớ cụ Hưởng thầy dưỡng sinh luyện thở
Phương pháp Dưỡng sinh hay giữa đời thường
Nhớ cụ Nguyễn Khắc Viện luyên thở
Thầy Nguyễn Bình Khiêm với Dưỡng sinh thi

Giữ khí, gìn tinh, lại dưỡng thần
Ít lo, ít muốn, ít lao thân.
Cơm nên vừa bụng, đừng nhiều vị,
Rượu chỉ vài phân, chớ qúa từng.
Miệng cứ câu đùa, vui miệng mãi,
Bụng thường nghĩ tốt, bụng lâng lâng.
Bốc đồng, biến trá, thôi đừng hỏi,

Để tớ tiêu dao đến tuổi trăm.”
(Bản dịch của GS. Lê Trí Viễn


“TRUNG DUNG THUYẾT MỘNG” LUẬN GIẢI.
Lê Thuận Nghĩa


Khác với tiêu Shakuhachi hiện đại, các thang âm được chia theo quảng 7: Đồ- rê- mi- pha- son- la- xi/ C- D-E- F- G- A- B. Tiêu Shakuhachi cổ truyền của Nhật Bản theo truyền thống của phái Thiền Hư Vô từ thế kỷ 7 được chia thành hệ thống âm thanh Ngũ Âm, như nhạc dân ca cổ truyền của Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Châu Á khác… Tiêu Shakuhachi cổ truyền trước đây của Nhật Bản thường chỉ dùng cho các Lễ hội Phật giáo và chủ yếu là hỗ trợ việc tụng Kinh, Chú.Mà tiêu Shakuhachi cổ truyền của Nhật Bản lại có xuất xứ từ loại tiêu Lục Mạch, một loại Pháp khí của Phật Giáo Tây Vực. Tiêu Lục Mạch của Tây Vực chia thang âm thành 6 nốt theo hệ thống Lục Mạch trong học thuyết Thai Tạng của Mật Tông. Bao gồm các nốt: Thức- Địa- Thủy- Hỏa- Phong- Không (Địa đại, Thủy đại, Hỏa đại, Phong đại, Không đại và Thức đại)Tiêu lục mạch của Tây Vực chủ yếu dùng để trì luyện Tantra (Mật chú), ngày xưa chỉ truyền thừa trong giới Hành giả của Mật Tông Tôi sẽ có bài viết kỹ càng về đề tài này sau, hôm nay tôi chỉ luận bàn sơ về tiêu phổ Trung Dung Thuyết Mộng mà hôm trước tôi đã có đưa lên Youtube.Trung Dung Thuyết Mộng là bản tiêu phổ chỉ dành riêng cho loại Tiêu lục mạch, tiêu Shakuhachi hiện đại hay cổ truyền đều không thể thổi được bản tiêu phổ này vì cấu trúc thang âm hoàn toàn khác nhau. Trung Dung Thuyết Mộng là bản phổ do tôi dựa vào bản tiêu phổ trì tụng Chú Dược Sư (Medicine Buddha Mantra) trên tiêu Lục Mạch của kinh cổ.Bản phổ này do có một sự cố về mối quan hệ trong bổn môn, nên tôi tùy cảm mà phối ra nó. Sau này tôi hoàn thiện lại cảm âm và viết thành tiêu phổ dành cho Thất thương tiêu. Thất thương tiêu là một biến tấu khác của Tiêu lục mạch, gần hệ âm với tiêu Shakuhachi cổ truyền của Nhật Bản hơn. Sở dĩ tôi phối bản phổ “Trung dung Thuyết mộng” trên Thất thương tiêu là vì biến tấu cho phù hợp với cách phát âm khi trì Chú “Dược Sư Quán Đảnh Chân Ngôn” của người Việt và người Hoa.Bản phổ “Trung dung Thuyết mộng” hôm tôi đưa lên trên Youtube thực ra là một bản “Dao động âm thanh” dựa trên nền tảng của “Chú Dược Sư” có tác dụng “Bình tâm, giải uất”… giúp loại bỏ các hiệu ứng bệnh lý do áp lực Tâm lý, Thần kinh đưa lại và cũng giúp người nghe có giấc ngủ được sâu hơn… Vì là bản “Dao động Âm thanh” được phát ra trên nền tảng của nội hàm Hơi thở, cho nên tôi có lồng thêm tiếng sóng biển để phá vỡ bớt âm lực tương tác lên người nghe.Bản tiêu phổ này, cũng là nền tảng kỹ thuật cho người sử dụng tiêu Lục mạch. Vì vậy học viên của “Thuận Nghĩa Dưỡng Sinh Đường”, ai đã nhận tiêu Lục mạch từ tôi, thì nên có sự quan tâm đặc biệt với bản tiêu phổ này.Khoảng 16 giờ, giờ Châu Âu hôm nay, tức là 21 giờ Việt Nam, tôi sẽ trực tiếp lý giải về Âm lực của bản tiêu phổ này trên Livestream. Ai có hứng thú thì vào xem nhé.Để tiện cho việc theo giỏi các bạn có thể tìm hiểu về “Chú Dược Sư” và “Dược Sư Lưu Ly Quang Phật” trước nhé.Bản “Dược Sư Quán Đảnh Chân Ngôn” phiên âm theo tiếng Việt dưới đây: “Nam mô bạt đà phạt đế, bệ sát xả, lụ rô Thích lưu ly, bát lạc hà, hắc ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hắt đế, tam miệu tam bột đà da, đắc diệt tha, Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yến đế tá ha”Bản “Trung Dung Thuyết Mộng” dựa vào Âm lực của bản Chân ngôn này để thiết lập các tiết tấu của Âm thanh. Vì vậy các bạn phải có sự chuẩn bị tham khảo trước.Nhớ theo dõi buổi Livetream hôm nay nhé.

04.09.20
Thuận Nghĩa

Kim Hoàng

LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim


Ta đi về chốn trong ngần
Để thương sỏi đá cũng cần có nhau.


Chép lại chùm thơ Lời thương 9 bài, có dấu ấn sâu sắc của Thuannghia Le và Phan Chi . Hiểu và thầm lặng học hỏi nhau là lời cám ơn chân thành nhất https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=355111612334209&id=100035061194376

ĐÙA VUI CÙNG THUẬN NGHĨA
Hoàng Kim


II

Ta về lại thăm rừng xưa Thuận Nghĩa
Chuyện cùng Lão Phu đàm đạo Thần Thông
Thập nhị nhân duyên mười hai tuyệt kỹ
Khả năng thích nghi năng lực siêu phàm

Tha tâm thông hiểu hành vi người khác
Thiên nhãn thông nhìn thấu suốt nơi xa
Thiên nhĩ thông nghe những lời kín tiếng
Khinh công thông nhanh gió dục mây vần

Thủy thượng phiêu lướt bay trên mặt nước
Tâm thức chuyển di thoắt ở thoắt về
Huyền nhiệt luyện ngọn lửa thiêng Tam muội
Lôi hỏa điện thân phát điện ngàn vôn

Thiết bố sam luyện mình đồng, thân sắt
Sư tử hống tiếng gầm chúa sơn lâm
Truyền âm nhập mật thâm sâu thấu tỏ
Năng lực thích nghi bí ẩn sinh tồn

Ta chợt thấu những chuyện đời khó giải
Tình thế Biển Đông tiến thoái lưỡng nan
Mèo vờn chuột thuận thiên và kế hiểm
Bức tranh nhân gian thiện ác khó bàn.

Đùa vui cùng Thuận Nghĩa

ĐÙA VUI CÙNG THUẬN NGHĨA
Hoàng Kim


III

Ta về lại rừng xưa cùng Thuận Nghĩa
Gặp Lão Phu múa gậy dưới trăng rằm
Thuận thời Càn Khôn, Hàm Hằng chính đạo
Kí Tế xong rồi, Vị Tế chưa xong …

Thích Tiếu Ngạo Giang Hồ qua bể ái
Cưỡi hạc tung tăng chơi chốn Bồng Lai
Thung dung cuộc đời, thảnh thơi trời đất
Vô sự an nhàn sống giữa thiên nhiên.

Thích cùng lão dạo chơi VÔ PHƯƠNG CÚ
Dấu chân hoang Thong thả lạc non ngàn
Chẳng e ngại chông chênh hay tâm bão
Bởi tâm hồn tĩnh lặng thật an nhiên

Người Hoa Đất duyên may còn sức khỏe
Nẻo Âm Dương xin Bụt ước ba điều
Con và cháu thêm ba nguồn trí huệ
Ngọc cho đời Thành Phước Đức cho Dân

Tâm an định nên lòng không vướng bận
trí an hòa xử thế thật thung dung
khi kho báu trong lòng ta đã rõ
chẳng Ưu Tư mặc gió dục mây vần

dẫu như vậy đôi khi bâng khuâng hỏi
cửa Thần Phù khéo giữ trọn đường tu
lênh đênh nước lênh đênh con thuyền nhỏ
chốn nhân gian ước được thế nhân phù.

những lúc ấy mới hay duyên tiền định
trong thâm tâm mới tỏ sự luân hồi
luật Nhân Quả lật Sách Trời gạn hỏi
Mới hiểu đời học mãi vẫn chưa thôi

Vô Phương Cú Câu thơ thần tĩnh lặng
Vòm trời xanh thăm thẳm một thinh không
Ta chợt ngộ Ban mai chào trước ngõ
Bình minh lên Trời đất thật VÔ CÙNG…

DSC00929

HOÀNG KIM VÀ HOÀNG LONG
CNM365 TÌNH YÊU CUỘC SỐNG


Note 5
THẾ GIỚI TRONG MẮT AI
Hoàng KimHoang Long

Thế giới trong mắt ai (*)
Trung Quốc một suy ngẫm

Đi thuyền trên Trường Giang
Đi bộ trong đêm thiêng
Đi như một dòng sông
Đi để hiểu quê hương

(*) Hoa Kỳ news

Kim Notes lắng ghi chú
CHỐN VƯỜN THIÊNG CỔ TÍCH

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chon-vuon-thieng-co-tich/https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dua-vui-cung-thuan-nghia/

Duyên khởi, mười hai nhân duyên và Vô ngã (zh. 無我, sa. anātman, pi. anattā) là hai giáo lý rường cột cho tất cả các tông phái Phật giáo. Trong giáo lý Duyên khởi đức Phật dạy về 12 duyên hỗ tương lệ thuộc lẫn nhau trong một vòng xích có 12 khoen.

Giáo lý duyên khởi được ghi lại trong kinh như sau (Chân Nguyên dịch Pāli-Việt): Imasmiṃ sati, idaṃ hoti; imass`uppādā, idaṃ uppajjati; imasmiṃ asati, idaṃ na hoti; imassa nirodhā, idaṃ nirujjhati. (MN II.32, SN II. 28) “Nếu cái này tồn tại thì cái kia hình thành. Cái này phát sinh thì cái kia phát sinh. Cái này không tồn tại thì cái kia không hình thành. Cái này diệt thì cái kia diệt”.

Mười hai nhân duyên khởi

Theo kinh Duyên khởi, mười hai nhân duyên cụ thể như sau:

  1. Vô minh (zh. 無明, sa. avidyā, pi. avijjā) : Sự nhận thức sai lầm về cuộc đời. Không thấy rõ đời là bể Khổ hay Tứ Diệu Đế, không thấy rõ bản chất của sự vật, hiện tượng đều Vô thường, Vô ngã;
  2. Vô minh sinh Hành (zh. 行, sa. saṃskāra, pi. saṅkhāra) : Hành động tạo nghiệp từ thân, khẩu, ý. Hành này có thể tốt hoặc xấu hay trung tính;
  3. Hành sinh Thức (zh. 識, sa. vijñāna, pi. viññāṇa), làm nền tảng cho một đời sống mới: Thức lựa chọn cha mẹ đúng như hành tốt xấu quy định;
  4. Thức sinh Danh sắc (zh. 名色, sa., pi. nāmarūpa) : Là toàn bộ tâm lý và vật lý của bào thai mới, do Ngũ uẩn tạo thành;
  5. Danh sắc sinh Lục nhập (zh. 六根, sa. ṣaḍāyatana, pi. saḷāyatana) : Là toàn bộ các giác quan và đối tượng của chúng. Lục nhập = 6 căn + 6 trần;
  6. Xúc (zh. 觸, sa. sparśa, pi. phassa) : Lục căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là Xúc.
  7. Xúc sinh Thụ (zh. 受, sa., pi. vedanā) : Cảm giác, cảm nhận, lãnh thọ. Ví dụ như: yêu, thích, ganh ghét, đố kỵ, lo sợ, hạnh phúc, ưu sầu, thất vọng, hối tiếc, khó chịu, sân giận,…;
  8. Thụ sinh Ái (zh. 愛, sa. tṛṣṇā, pi. taṇhā) : Sự ham muốn từ các giác quan như mắt ưa thích sắc đẹp, mũi thích hương thơm, tai ưa tiếng hay, lưỡi đắm vị ngọt, thân ưa xúc chạm êm ái hay Ngũ dục : Tiền tài; Danh vọng; Sắc đẹp; Ăn ngon; Ngủ nghỉ;
  9. Ái sinh Thủ (zh. 取, sa., pi. upādāna) : Giành giữ lấy, chiếm lấy cho mình;
  10. Thủ dẫn đến Hữu (zh. 有, sa., pi. bhava) : Là toàn bộ những gì ta gọi là tồn tại, sự sống, thế giới;
  11. Hữu dẫn đến Sinh (zh. 生, sa., pi. jāti) : Là cuộc sống hằng ngày bao gồm dục lạc, tham ái hay lòng ham muốn;
  12. Sinh dẫn đến Già & Chết (zh. 老死, sa., pi. jarāmaraṇa) : Có sinh ắt có diệt.

Kinh nghiệm giác ngộ lý duyên khởi bao gồm Mười hai nhân duyên của Phật được ghi lại trong Luật tạng (sa., pi. vinayapiṭaka), phần Đại phẩm (pi. mahāvagga) như sau (Chân Nguyên dịch Pāli-Việt):

Nguyên văn tiếng Pāli: Tena samayena buddho bhagavā uruvelāyaṃ viharati najjā nerañjarāya tīre bodhirukkhamūle paṭhamābhisambuddho. atha kho bhagavā bodhirukkhamūle sattāhaṃ eka-pallaṃkena nisīdhi vimutti-sukha-paṭisaṃvedī.atha kho bhagavā rattiyā paṭhamaṃ yāmaṃ paṭiccasamuppādaṃ anulomapaṭilomaṃ manas’ ākāsi: avijjāpaccayā saṃkhārā, saṃkhārapaccayā viññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ, nāmarūpaccayā saḷāyatanaṃ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṃ, upādanapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ soka-parideva-dukkha-domanass-upāyāsā sambhavanti. evam etassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.avijjāya tv eva asesa-virāga-nirodhā saṃkhāranirodho, saṃkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatana-nirodhā phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādananirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṃ soka-paridevadukkha-domanass-upāyāsā nirujjhanti. evam etassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotīti.atha kho bhagavā etam atthaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imaṃ udānaṃ udānesi: yadā have pātubhavanti dhammā ātāpino jhāyato brāhmaṇassa, ath`assa kaṃkhā vapayanti sabbā yato pajānāti sahetu-dhamman`ti”

Dịch nghĩa: Thời nọ, Phật Thế Tôn an trú tại Ưu-lâu-tần loa (zh. 優樓頻螺, sa. uruvilvā, pi. uruvelā), bên bờ sông Ni-liên-thiền (zh. 尼連禪, sa. nairañjanā, pi. nerañjarā, nirañjarā) dưới gốc một cây bồ-đề, lần đầu tiên đạt chính đẳng giác (sa., pi. abhisambuddha). Phật Thế Tôn ngồi chân tréo kết già bảy ngày dưới gốc cây bồ-đề, thưởng thức sự an lạc của giải thoát.Vào canh thứ nhất, Phật quán chiếu trong thâm tâm nguyên lý duyên khởi hướng xuôi chiều và ngược chiều : Từ vô minh mà các hành phát sinh, từ các hành mà thức phát sinh, từ thức ra danh sắc, từ danh sắc là sáu giác quan (cùng với sáu đối tượng của chúng), từ sáu giác quan sinh ra xúc, từ xúc sinh ra thụ, từ thụ ra tham ái, từ tham ái ra thủ, từ thủ ra hữu, từ hữu ra sinh, từ sinh ra lão tử, ưu sầu, hoạn nạn, bất hạnh, tuyệt vọng. Sự hình thành của nguyên khối khổ này là như thế.Qua sự chấm dứt và tiêu diệt của vô minh mà các hành chấm dứt, qua sự chấm dứt của hành mà thức chấm dứt, qua sự chấm dứt của thức mà danh sắc chấm dứt, qua sự chấm dứt của danh sắc mà sáu giác quan chấm dứt, qua sự chấm dứt của sáu giác quan mà sự chạm xúc chấm dứt, qua sự chấm dứt của sự chạm xúc mà thụ chấm dứt, qua sự chấm dứt của thụ mà tham ái chấm dứt, qua sự chấm dứt của tham ái mà thủ chấm dứt, qua sự chấm dứt của thủ mà hữu chấm dứt, qua sự chấm dứt của hữu mà sinh chấm dứt, qua sự chấm dứt của sinh mà lão tử, ưu sầu, hoạn nạn, bất hạnh, tuyệt vọng chấm dứt. Sự chấm dứt của nguyên khối khổ này là như vậy.Lúc ấy, sau khi nhận thức rõ điều này, Thế Tôn thốt lên một cách cảm kích: “Thật như thế, khi các pháp hiện rõ cho một người tinh tiến, một hiền nhân đang quán chiếu thì tất cả những nghi hoặc của ông ta tan biến, bởi vì ông ta đã nhận thức được Pháp với nguyên nhân của nó (pi. hetu).”

Thầy Khải Toàn Thiền Định & Kinh Dịch luận giải về Tý Ngọ Mão Dậu vận mệnh và nhân duyên như sau https://youtu.be/cXOXVczN37o

tuổi Ngọ

12 con giáp,

• Tài lộc, tính cánh, tình duyên tuổi NGỌ: Giáp Ngọ 1954, Bính Ngọ 1966, Mậu Ngọ 1978,  Canh Ngọ 1990…

Hãy xem video chi tiết  về tài lộc, tính cánh, tình duyên tuổi Ngọ.

https://www.youtube.com/embed/-DI0MX2gUAo?rel=0&amp
Xem thêm các con Giáp khác tại đây

• Tính cách: là một trong tứ mật mã cực đoan, tượng trưng cho lửa cháy rừng tực, khi nổi giận có thể thái quá. Người cầm tinh Ngọ giỏi trong giao tiếp và được nhiều người yêu quý, kính trọng. Họ có óc thẩm mỹ cao, luôn biết cách phối hợp những bộ trang phục của mình sao cho sành điệu, đẹp mắt và hợp mốt nhất.

Sống lạc quan, dũng cảm xông vào đói nghèo, giỏi tự lực cánh sinh, có đầu óc quan sát trực quan, thích sống tự do thoải mái ung dung tự tại. Một số ham thích chơi bời hay sinh hoạt xa hoa, buông thả, tình cảm dễ bị kích động tùy hứng, có lòng ham muốn nhục cảm tột độ khó kiềm chế, khó ràng buộc. Tuổi Ngọ cả thèm chóng chán, luôn bị thu hút bởi những thứ mới lạ bởi vậy cuộc sống của họ thay đổi chỉ trong chớp mắt.

• Tình duyên tuổi Ngọ:
Phụ nữ tuổi Ngọ năng động, tài giỏi và rất đảm đang.Trong chuyện tình yêu đối với nam giới tuổi Ngọ họ coi đó chỉ là một phần của cuộc sống nhưng đối với nữ giới thì ngược lại, họ coi đó là cả cuộc đời.

Nữ tuổi Ngọ nhìn chung luôn mong ước có được tình yêu hiện thực. Họ có thể vừa làm tốt vai trò của một người phụ nữ nội trợ vừa tham gia xây dựng kinh tế gia đình, là cánh tay phải đắc lực cho công việc của chồng. …

•  Người tuổi Ngọ và Mệnh Khuyết cải vận
sinh vào mùa Xuân: 19/2 đến 4/5 thường Dư MỘC – Thiếu  KIM. /
sinh vào mùa : 5/5 đến 7/8 thường  dư Hoả – Thiếu  THUỶ.
sinh vào mùa Thu: 8/8 đến 7/11  thường Dư Kim – Thiếu  MỘC .
Sinh vào mùa Đông: 8/11 đến + 18/2  thường Dư Thủy – thiếu HOẢ.

Xem thêm về Mệnh khuyết Cải vận tại đây https://phongthuykhaitoan.com/phong-thuy-cai-van


https://www.youtube.com/embed/tALW8fL_bUI?rel=0&amp
Đăng ký kên Youtube để nhận video mới nhất


hoc_phong_thuy
thầy Khải Toàn

Xem mệnh 12 con Giáp tại đây

Khải Toàn Phong thuỷ

• Chánh niệm: “Thành công nhờ kiên trì – Trí tuệ nhờ Chánh niệm”, nghĩa rằng muốn thành công phải thật kiên trì, có những việc thực hiện cả vạn lần, tư duy luôn hướng tới những điều tích cực trong mọi hoàn cảnh sẽ sinh ra trí tuệ.

• Nhân quả: Giả dụ mỗi ngày bạn bỏ vào ống heo 100 ngàn đồng, một năm sau heo sẽ mập, mỗi ngày hành thiền 10 phút, một năm sau tâm trí sẽ thành cây đại thụ an tịnh. Đạo lý này nói lên “quả của hôm nay, hoàn toàn là Nhân của hôm qua”.

• Khải Toàn không phải thầy phong thủy nổi tiếng, dùng kiến thức phong thủy chân chính, dùng khả năng tu tập của bản thân, để trợ duyên những vị đủ duyên và đủ phước để cải vận, trong kết quả luôn kèm theo lời khai thị về sống chân thiện, mở lòng bố thí, khuyến nghị hành thiền, đó là những phương tiện gia tăng vận may ngoài ứng dụng phong thủy

• Phong thủy: là phương tiện trợ duyên giúp công danh thăng tiến. Không gian là phong thủy, tâm lý là phong thủy, sạch sẽ gọn là là phong thủy tốt, tâm trạng phấn khởi là phong thủy tốt, vị nào có tấm lòng vị tha không chấp trước hẵn là người có phúc đức.

a Thay Phong thuy gioi 2

| Hãy theo dõi kên “Khải Toàn Phong thủy” trên Youtube / Tik TiokFacebook |


Bài viết hay liên quan Khải Toàn Thiền Định Phong Thủy

Thẻ:Dần, Dậu, Hợi, Mão, Mùi, Ngọ, Sửu, tài lộc, Thân, Thìn, Tị, tình duyên, Tuất,

ngayxuandocthohanhloan

HÃY NÓI YÊU KHI HOA HỒNG NỞ của Nguyễn Thị Hạnh Loan là quà xuân tuyệt vời. “Và anh hãy tin. Trên trái đất này. Không có nơi nào để hoa hồng đẹp như Ecuador. Trên cõi người này, không ai yêu anh bằng em. (Hoa hồng Ecuador). Tác phẩm thơ nói lên khát khao xanh Giấc mơ hạnh phúc, dường như mạch ao ước ấy ta đã thấy trong cuốn sách “Nhà Giả Kim” . Cám ơn tác giả Hạnh Loan. Cám ơn bài bình thơ tuyệt hay của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo dưới đây và bản nhạc hay When I Dream Of You … ANDY IORIO – Rush của  Andreea Petcu vừa gửi tặng sớm nay, quà xuân tuyệt vời tình yêu cuộc sống. (Hoàng Kim)

TRÁI TIM HOA HỒNG

Nguyễn Trọng Tạo

Người ta thường nghĩ, thơ nữ giới là phải thầm kín, ý nhị và thậm chí yếu đuối như là một bản chất của phái yếu. Đọc Hạnh Loan, tôi cũng nghe tiếng khóc, hơi thở cô đơn và cả tiếng kêu gào kìm nén phía sau con chữ, nhưng tôi cũng đọc thấy trong thơ nàng cả một trời khát khao, mơ mộng cùng với những mệnh lệnh thức nổi loạn trong con người nữ quyền của thời hiện đại. Đó là sự khám phá lật tẩy những mặc cảm tự ti trong tình yêu của nữ giới để bước đi tự tin trên con đường đầy cạm bẫy về phía hoa hồng.

Ai cũng biết, hoa hồng là biểu tượng của tình yêu bất tử. Màu hoa đồng sắc với trái tim, và hương hoa thì thơm tho tinh khiết luôn âm thầm lan tỏa. Trong câu chuyện tình yêu của nữ hoàng Cleopatra và Anthoni từ thời xa xưa khiến người đời nhớ mãi, bởi vì nàng quá yêu hoa hồng đến nỗi, khi xa nàng, chàng vẫn cảm thấy mùi hoa hồng luôn bên cạnh mình. Chọn tựa đề “Hãy nói yêu khi hoa hồng nở” để đặt tên cho tập thơ, là một chọn lựa trẻ trung và tinh tế của Hạnh Loan. Phải chăng nàng cũng đang mang một “trái tim hoa hồng” trước tình yêu vĩnh cửu?

Hãy gắn chặt môi nhau bằng nụ hôn da diết
Khi tim ta đã bừng nở những đóa hồng…

Và mãnh liệt hơn, Hạnh Loan còn làm thơ về “Hoa hồng Ecudor” bởi nó nở bên miệng núi lửa gần đường xích đạo chan hòa ánh sáng.

Hoa lắng nghe những thanh âm của thiên hà bất tận
Hoa chắt ra từ miệng núi lửa phun trào bao giọt sống
Để bừng dậy sắc hồng Ecuador

Và anh hãy tin
Trên trái đất này
Không có nơi nào để hoa hồng đẹp như Ecuador
Trên cõi người này, không ai yêu anh bằng em.

Bìa tập thơ.

Bìa tập thơ.

Người ta thường nghĩ, thơ nữ giới là phải thầm kín, ý nhị và thậm chí yếu đuối như là một bản chất của phái yếu. Đọc Hạnh Loan, tôi cũng nghe tiếng khóc, hơi thở cô đơn và cả tiếng kêu gào kìm nén phía sau con chữ, nhưng tôi cũng đọc thấy trong thơ nàng cả một trời khát khao, mơ mộng cùng với những mệnh lệnh thức nổi loạn trong con người nữ quyền của thời hiện đại. Đó là sự khám phá lật tẩy những mặc cảm tự ti trong tình yêu của nữ giới để bước đi tự tin trên con đường đầy cạm bẫy về phía hoa hồng.

Người con gái nào sẽ thay em hôn lên mắt
Anh hãy nói với cô ấy rằng:
“Em mới là người anh yêu nhất ”
Bởi cô ấy cũng như em
Yêu anh chân thật
Và cũng nghẹn ngào
Khi anh nói chia ly…

Nỗi đau chia ly dường như được giải thoát khi dám chập nhận mất người mình yêu? Nhưng sự chấp nhận lại mang về cho mình nước mắt đau thương. Có thể đó là một tâm lý phức tạp mà ai cũng phải trải qua trong tình trường, và nàng đành thỏa hiệp: “Giữ sao được/ Bước chân lữ thứ/ Người xa người/ Khuất bóng mới thương hơn”.

Vào đầu thế kỷ trước, phụ nữ làm thơ đã là một sự dấn thân can đảm vì thường bị phụ, mẫu cấm đoán. Nữ sĩ Anh Thơ đã từng trốn cha mẹ để viết nên tập thơ “Bức tranh quê” đoạt giải thưởng khuyến khích của Tự Lực Văn Đoàn, dù nội dung chỉ tả những vẻ đẹp của cảnh quê. Đến thời nay thì phụ nữ làm thơ như một phong trào rộng rãi đến nỗi có người phải thốt lên như một nhận xét tổng kết “Văn học âm thịnh”. Điều đó cũng chẳng có gì lạ. Nhưng cái lạ là thơ nữ giới ngày nay không chỉ tả cảnh, mà còn công khai những bí mật tâm hồn không hổ thẹn. Đó là điều cần quan tâm hơn cả. Dám công khai bí mật trước bàn dân thiên hạ, dù chỉ bằng thơ cũng là điều đáng nể. Người khoét sâu vào những bí mật thầm kín. Người táo bạo tiết lộ những bí mật phòng the. Người tuyên ngôn về tự do ái tình. Thơ tỏ tình, thơ sex xuất hiện nhiều chưa từng thấy với ngôn ngữ ma mị hay ngôn ngữ bình dân, v.v… Hạnh Loan cũng xuất hiện trong trào lưu ấy, nhưng nàng có một đặc tính can đảm riêng. “Nói gần nói xa chẳng qua nói thật”, phải chăng đó cũng là đặc tính của thơ nàng?

Đó không phải bài thơ em viết cho anh
Bài thơ ấy em viết cho người khác
Người đến bên em khi tình anh phai nhạt
Và yêu em thật nhiều như anh đã từng yêu.

Hoặc:

Dẫu anh yêu em em vẫn chỉ người thứ hai
Đừng an ủi, nước mắt em vẫn chảy
Giọt lệ yêu anh, giọt lệ ghen tuông
Đông đặc tim em nỗi buồn hoang dại

…Anh hãy để một lần em câm lặng
Nghẹn nuốt nỗi buồn của kẻ đến sau….

Dù nhiều lúc “nghẹn tình” thì người thơ vẫn can đảm chấp nhận, vì tình không chỉ một.

Nếu quan niệm thơ nữ quyền (feminist poet) là thuốc giải độc cho sự nhẫn nhục, quẫn trí hay tuyệt vọng về chính trị xã hội thì đó là thơ của những nhà thơ phụ nữ khác chứ không phải Hạnh Loan. Hạnh Loan thể hiện tính nữ quyền về tình yêu trong những bài thơ của mình. Nàng thoát khỏi hai từ “gái ngoan” để trở thành một người thơ khát khao tình yêu tự do đích thực, kêu đòi quyền yêu cho phái đẹp. Nàng thoát khỏi hai từ “kìm chế” để nói về tình yêu từ trong vô thức. Đó là bản ngã của nàng: Quẳng hết đi những lụy phiền, những cô đơn, những hanh hao, những cay đắng gặm nhấm tâm hồn em như một thứ a xít ăn mòn kim loại/ Em thanh tao, em kiêu hãnh bởi trái tim người phụ nữ biết yêu và biết sống riêng mình… Và nàng tuyên bố: “Hãy yêu thương thật nhiều đừng chờ tới ngày mai!!!”.

Hạnh Loan

Hạnh Loan

Quan niệm sống cho hiện tại, sống gấp đã được những nhà hiện sinh phương Tây giữa thế kỷ XX đưa lên thành một trào lưu, thành chủ nghĩa. Đến thi sĩ Xuân Diệu cũng kêu lên: “Nhanh với chứ, vội vàng lên với chứ/ Em ơi em tình non sắp già rồi”. Sự nghiệt ngã của thời gian đã khiến con người lo sợ, và quan niệm “sống gấp” như một quan niệm triết học “sống-chết” thế nào cho ý nghĩa. Trong chủ đề tình yêu, Hạnh Loan muốn cháy tận cùng niềm khao khát, say mê mà con người đáng được thụ hưởng. Nhiều bài thơ của nàng nói đến thời gian và cái chết với một tinh thần nhân văn. Có lẽ nhờ thế mà động chạm đến trái tim và thức nhận của người đọc. “Hãy hôn em đi/Giây phút nào cũng là/Giây phút cuối”; “em sẽ yêu anh Bằng tất cả những người đàn bà của đời anh cộng lại”; “Nếu anh chết bia mộ anh sẽ gió”… Nhưng nói nhiều về nỗi sợ thời gian, nói nhiều về cái chết lại chính là để đề cao tình yêu, khẳng định tình yêu là bất tử: “tình yêu trong tim ta ngự trị/ Cháy lên kiêu bạc như loài hoa dẫu đối diện với u linh/ Để cái chết sẽ cúi đầu cô độc”…

Nhà thơ Nguyễn Thị Hạnh Loan

Nhà thơ Nguyễn Thị Hạnh Loan

Thơ Hạnh Loan thường dùng những từ to tát, sáng loáng vẻ đẹp, và thường dùng từ mệnh lệnh thức “hãy” như là những vỏ chữ bên ngoài, nhưng đọc kỹ, ta thấy phía sau những vỏ chữ ấy là tiếng kêu đòi giải cứu những khát vọng cuồng cháy luôn nổi lên trong lòng người thơ đa đoan phận kiếp đàn bà. Sau sự cuồng điên của phong ba bão tố là sự dịu dàng của biển. Sau niềm đam mê mãnh liệt yêu thương là nỗi buồn cô đơn tưởng như kiệt sức. Và nàng tự thú khi cầm lên chiếc điện thoại để gọi cho người mình yêu:

Phone cho anh sao đo đắn trước sau
Sao cứ phải dùng dằng trước dòng tên quen thuộc
Trong im lặng em nghe tim mình thức
Vẫn thương nhớ thật nhiều

không
gọi
cho
Anh…

Đọc thơ Hạnh Loan, ta gặp đủ loại hoa hồng: đỏ, trắng, hồng, vàng, xanh, đen. Vâng, cả hoa hồng đen tượng trưng cho cô đơn, lạnh lùng và bí ẩn vẫn được yêu, được viết thành thơ:

Bông hồng đen kỳ bí và lạnh lùng
Kiêu hãnh dẫu bầm dập trong tim
Dẫu đen mà hương nồng thơm ngát
Lặng lẽ để tang cho chính mình

Những câu thơ trân trọng ngợi ca cô đơn của hoa hồng đen đã nói lên sự bình đẳng của mọi loài hoa trước tình yêu cuộc sống. Điều đó chứng tỏ Hạnh Loan luôn chấp nhận thực tiễn và hòa mình vào cuộc sống để khám phá vẻ đẹp muôn màu, không thiên vị. Bởi vậy nên tôi tin ngay sau khi đọc tập thơ “Hãy nói yêu khi hoa hồng nở”, trái tim của người thơ cũng chính là “trái tim hoa hồng”, mang hương sắc tình yêu dâng tặng cuộc đời này?

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG TẠO
(Nguồn: Hội ngộ Văn chương)

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Linh Giang sông quê hương

LINH GIANG SÔNG QUÊ HƯƠNG
Hoàng Kim

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con

“Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn “

Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/linh-giang-song-que-huong

HOME RIVER

Learning the attitude of water that goes like the river

My house is near a confluence
Rao Nan, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh River charming Mountain River
The place where I was born.

“Rowing far away the SON wharf
Not to see our village that makes me sadder “
Lullaby makes me heart- rending
My parents died early when I was a baby.

Leaving our village since then
Diving in smog from the wharf of our river
Keeping full oath in Spring days
When the country unify, we’ll live together in the South

English translation
by NgocphuongNam



LINH RIVER

Hoang Kim
Learning the attitude of water that goes like the river

By confluence sited is my home
Rao Nam, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh river of charming
That is place releasing a person

Rowing out of the Son
Let is the upset not involved in my mind
Such a sad lunlaby
Parents is dead left five child barren

Leaving home since then
Smog of wharf is driven my life
When Vietnam unified
The South chosen the homeland to live.

English translation
by Vu Manh Hai

😍https://hoangkimlong.wordpress.com/category/linh-giang-song-que-huong Linh Giang sông quê hương “Chèo thuyền cho khuất bến Son Để con khỏi chộ nước non thêm buồnCảm ơn anh Bu Nguyễn Quốc Toàn và anh Ruc Hung để thấm thía đọc lại Tỉnh thức cùng tháng năm Gia Cát Mã Tiền Khóa Thành tâm với chính mình https://youtu.be/t-el5mFWkjU để thấu hiểu vì sao Lưu Bị nhói trong tim thụp lạy tôn hiền tài nặng lòng Son đến vậy!

ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG
Hoàng Kim

1
Linh Giang sông quê hương
Lời thề trên sông Hóa
Đá Đứng chốn sông thiêng
Đại Lãnh nhạn quay về.
2
Lời dặn của Thánh Trần
Minh triết Hồ Chí Minh
Thầy nghề nông chiến sĩ
Đồng xuân lưu dấu hiền
3
Chuyện đời tôi Hoàng Kim
Chín điều lành hạnh phúc
Chim Phượng về làm tổ
Chung sức trên đường xuân
4
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Tô Đông Pha Tây Hồ
Nguyễn Hiến Lê sao sáng
5
Việt Nam con đường xanh
Cây Lương thực Việt Nam
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Sóc Trăng Lương Định Của.
6
Dạo chơi non nước Việt
Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng
Lên Trúc Lâm Yên Tử
An Viên Ngọc Quan Âm
7
Trường tôi nôi yêu thương
Dấu xưa thầy bạn quý
Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi
8
Đi như một dòng sông
Giấc mơ thiêng cùng Goethe
Châu Mỹ chuyện không quên
Ấn Độ địa chỉ xanh
Trung Quốc một suy ngẫm
9
Giấc mơ lành yêu thương
Cuối dòng sông là biển
Sự chậm rãi minh triết
Cây đời mãi tươi xanh

(*) Linh Giang sông quê hương là nôi Đất Anh hùng, làng sinh Tướng nơi sinh thành của trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Binh đoàn 559 (Binh đoàn Trường Sơn)

HỌC ĐI MÀ NHỚ MÃI
Hoàng Kim


Trên bục giảng mùa xuân
Chuyện nước phân cần giống
Nghề nhà nông hạt gạo
Chuyện đời không thể quên

Học đi em
Học đi mà nhớ mãi
Có một thời để nhớ
Có một thời để thương …

Linh Thủy làng Kim Linh
Thọ Linh đập Rào Nan
Đá Đứng chốn sông thiêng
Tích xưa và chuyện mới

Nghe nhạc Trịnh Công Sơn
Mẹ ở làng Thọ Linh
Chuyện cụ Nguyễn Tư Thoan
Khát vọng đập Rào Nan

Linh Giang sông quê hương
Quảng Bình với Trường Sơn
Quảng Bình đất và người
Đọc mà nước mắt chảy …

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/quang-binh-dat-va-nguoi/

KHÁT VỌNG RÀO NAN
Tùy bút của Hoàng Minh Đức


Cả làng tôi ngày xưa nghèo đói
Cày thuê không kiếm nổi bát cơm
Cơm “củ to cha ơi” con gọi(*)
Một thìa cơm cõng đọi khoai vằm

Nam Quảng Trạch mất mùa nắng hạn
Lúa nghẹn đòng lau trắng phất phơ
Rào Nan hững hờ trôi về biển
Để ngàn năm khát cháy đôi bờ…

Ai đã từng đi theo đoàn làm phim tài liệu “Khát vọng Rào Nan”, đi từ đầu nguồn cho đến cuối cửa Gianh mới cảm nhận hết dư vị ngọt ngào pha lẫn niềm đau nỗi buồn của dòng nước ngọt Rào Nan. Không biết cái tên Rào Nan có tự bao giờ, chỉ biết rằng đó là một trong ba nhánh của hệ thống sông Linh Giang đổ ra biển cả. Trước khi vua Chế Củ dâng 3 châu Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý từ dãy Hoành Sơn đến dãy Bạch Mã cho Đại Việt thì Rào Nan có tên là Linh Thủy. Con sông Linh Thủy chạy qua làng Kim Linh xuống làng Minh Lệ, La Hà rồi đến cửa Gianh.

Sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước thì làng Kim Linh phải đổi tên thành làng Thọ Linh vì kiêng tên húy chúa Nguyễn Kim. Chính tại nơi đây, làng Thọ Linh đã chứng kiến một thuở vui buồn của đập Rào Nan. Miền đất vùng Nam Quảng Trạch trước đây (nay thuộc thị xã Ba Đồn) đồng chua nước mặn, đồng ruộng luôn bị nước biển xâm nhập bao vây, là nơi thiếu nước ngọt trầm trọng nhất tỉnh Quảng Bình. Trước Cách mạng Tháng Tám, những năm hạn hán các làng đổ nhau đi cầu đảo. Ngay tri phủ Quảng Trạch, Đặng Hiếu An cũng về miếu Thần Cụt bên Rú Cấm lập đàn tràng, cầu đảo, bơi trải hai, ba ngày liền.

Từ sau năm 1965, chiến tranh ngày càng ác liệt thì niềm khát vọng chinh phục Rào Nan ngày càng lớn.

Chiến tranh. Hạt gạo cần thiết hơn bao giờ hết. Gạo một phần để tự túc lương thực cho dân 10 xã vùng Nam Quảng Trạch. Gạo để gửi ra các chiến trường. Ấy thế mà hầu hết các mặt hàng thiết yếu và ngay cả hạt gạo Quảng Trạch cũng do Trung ương chi viện. Hạt gạo đất lửa Quảng Bình phải cắn ra làm ba, làm tư cho chiến trường Trị – Thiên và các bạn Lào, Căm pu chia. Quảng Trạch lúc đó dân số 20 vạn người, gấp đôi, gấp ba các huyện khác. Ông Nguyễn Tư Thoan, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình nói “Quảng Trạch đủ ăn là cả tỉnh đủ ăn”. Hai vựa lúa Quảng Ninh, Lệ Thủy đủ cung cấp cho thị xã Đồng Hới và các huyện Bố Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa. Ông đã phát biểu tại hội nghị tổng kết cuối năm 1967: “Vũ khí trang phục không làm được, còn lương thực ăn hàng ngày mà không lo được là một nỗi nhục của Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta”.

Ngay từ khi ông manh nha ý tưởng thay trời làm mưa, cùng Sơn Tinh trị thủy vùng Nam Quảng Trạch đã không ít người phản đối. Nhà báo, nhà thơ Phan Văn Khuyến, người chứng kiến cuộc họp dưới nhà hầm Huyện ủy Quảng Trạch thời ấy đã kể lại rằng: “Ông Đoàn Tiến Khứ, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch, người có học vấn cao nhất tỉnh thời bấy giờ về khoa học kỹ thuật thủy lợi đã dẫn lời của Lê Nin: Nếu chỉ có nhiệt tình mà thiếu tri thức thì trở thành kẻ phá hoại. Ông nói “Cách đây bảy năm ta mời đoàn chuyên gia Hung-ga-ri đến khảo sát vùng Đồng Đâu trên thượng nguồn để xây đập thủy điện kết hợp với lấy nước tưới ruộng. Nhưng do chiến tranh công việc bỏ dở. Bây giờ muốn làm cũng phải mời chuyên gia nước ngoài hoặc từ Bộ Thủy lợi về khảo sát chứ không nên làm theo ý chủ quan như thế này”.

Nghe trái ý, ông Thoan làm động tác phứt râu liên tục, mặc dù trên cằm ông chẳng có một sợi râu nào. Ông đứng phắt dậy: “Đừng lý luận dài dòng nữa. Anh hãy nói ý kiến của mình đồng tình hay phản đối. Ta không còn thời gian để nên thế này, nên thế khác nữa. Nếu không tìm cách giải quyết lương thực tại chỗ theo tinh thần của Trung ương thì chưa chết vì bom đạn cũng đã chết vì đói, còn đâu nữa mà “vì miền Nam thân yêu, vì Trị – Thiên ruột thịt”.

Vốn tính khảng khái, không hề run sợ trước cấp trên, ông Khứ vẫn không chịu: – Tôi vốn sinh ra và lớn lên giữa vùng đất Quảng Trạch. Tôi biết khi cây lúa đông xuân đang lên xanh tốt, gặp cự đòng đòng đúng lúc gió nam về, nếu thắp một mồi lửa là cháy sạch. Tôi là một người làm khoa học, nhưng biết mà không nói thì sẽ ân hận cả đời. Là một đảng viên, thường vụ quyết thì tôi phải chịu, chứ bảo tôi đồng tình dễ dàng sao được.

Một vài đại biểu cũng mạnh dạn phản đối theo ông Khứ nhưng chỉ nói chung chung, chẳng có một luận cứ, luận chứng nào sáng tỏ thêm. Giữa lúc không khí hội nghị đang căng thẳng thì từng đợt máy bay liên tiếp rạt qua trên hội trường, tiếng đạn rốc két xé gió bắn xối xả xuống làng, tiếng bom sát thương nổ ầm ầm bên bãi tập kết hàng để chở sang bến Mới, cách đó chừng một cây số. Dứt loạt bom, ông Thoan đứng bật dậy như cái lò xo:

– Tôi không hiểu nhiều về lí thuyết, nhưng thực tế đã dạy cho tôi nhiều bài học. Ở các ngầm Đá Mài, Khe Sâu, Long Đại, ngay cả các con sông Lý Hòa, Chánh Hòa, cầu Dài Đồng Hới ta đổ gạch đá xuống cho xe ra chiến trường mà các trận lụt lớn có trôi hết cả đâu. Thế là nửa tháng sau, như một ông thầy địa lí đi tìm long mạch cùng các thổ thần đất đai, ông Nguyễn Tư Thoan chống gậy đi dọc bờ sông và tìm được một địa điểm bên động Ngùi để đắp đập.


Hơn một năm sau, với sức mạnh của một vạn lượt người được huy động từ 7 huyện, thị, đến giữa năm 1969, con đập bằng đá lèn nổi lên sừng sững như một hòn núi vĩnh viễn chặn ngang dòng nước mặn từ biển vào. Khi hoàn thành công trình, làng Thanh Thủy mất hẳn một hòn lèn cung cấp vật liệu chính cho đập Rào Nan. Con đập dài 135 mét, chân rộng hơn 30 mét, cao 6 mét ( không tính phần lún dưới bùn), ngạo nghễ thách thức với thời gian. Ngày khánh thành đập không có bia rượu liên hoan, không có cờ hoa, biểu ngữ, cả 8 chiếc máy bơm ầm ầm đổ nước vào bể chứa. Dòng nước ngọt theo các con mương chạy về làng quê. Nước đi đến đâu lũ trẻ con chạy theo hò reo đến đó. Nhiều người hớn hở chạy ra đón nước chảy qua mương bên hồi nhà, vục tay xuống nước mà ứa nước mắt. Có người bụm tay đưa nước lên miệng uống ừng ực như chưa bao giờ được uống. Lũ trẻ con thì khỏi phải nói. Chúng trần truồng nhảy xuống dòng nước xô đẩy, té nước, reo hò như điên như dại.

* * *

Năm 1969, giặc Mỹ đã ngừng ném bom miền Bắc. Tôi đang sơ tán (K8) ngoài Thanh Hóa trốn về theo xe bộ đội vào Quảng Bình. Bố tôi theo trường Sư phạm chuyển về xã Quảng Phương (Quảng Trạch). Mỗi khi ghé thăm nhà là ông lại cùng mẹ con tôi tát nước. Mẹ tôi làm trong đội thủy lợi của xã Quảng Minh. Mẹ theo các cô, các chú xây cống thủy lợi trên cánh đồng làng. Tôi đang là học sinh cấp 2, lao động phụ mỗi ngày công được tính 7 điểm. Trước mùa mưa bão, các xã lên lao động gia cố lại đê Rào Nan. Làng nào, xã nấy trống dong cờ mở đào đất đắp đê. Từng đoàn thuyền chở đất đá đổ thêm xuống đập. Trên mặt đập đã có một lớp bê tông dày phủ các rọ sắt. Học lên cấp 3, tôi theo trường đi lao động đào mương đắp đê ở các xã. Hè nào cũng về đi theo mẹ làm thủy lợi Rào Nan.

Năm 1972, giặc Mỹ quay trở lại ném bom miền Bắc. Nhớ đến con đập đã đánh phá hồi trước chúng xúm lại như lũ diều hâu vây lấy đàn gà con. Gặp lưới lửa phòng không của bộ đội hải quân và hai trận địa 14 li 5 bố trí trên đồi thông bắn lên chúng vội vàng trút bom bừa bãi xuống dòng sông. Bị bom Mỹ phá, lũ lụt cũng “thừa gió bẻ măng” làm sạt thêm mấy quãng. Đập Rào Nan phải oằn mình hứng chịu cả thiên tai và địch họa.

Nước Rào Nan đối với đời sống người dân vùng Nam Quảng Trạch cần thiết như cơ thể con người cần máu. Máu tiếp sức cho quê hương Nam Quảng Trạch đứng trụ với mưa bom bão đạn của quân thù. Khi có nước về cả làng thức dậy để tát nước vào vườn. Tuổi thanh niên, có bữa đi chơi khuya về đang mắt nhắm mắt mở thì mẹ gọi dậy đi tát nước. Dọc con mương nhà nào nhà nấy treo chiếc đèn chai bên bụi tre để tát nước vào vườn. Cây lúa bị cháy khô thì con người cũng khô cháy theo. Giữa những ngày nam nắng người ta giành nhau từng giọt nước. Có khi người ở xã này xách rượu và lạc rang lên hối lộ đội trực nước của xã khác để xin tháo cánh cửa cống chảy về làng mình một vài tiếng đồng hồ. Năm 1979, tôi về phụ trách lao động ở trường cấp 3 vừa học vừa làm Quảng Trung. Nhà trường đảm nhiệm nuôi bèo hoa dâu và nhân giống lúa X1 cho các hợp tác xã. Đội trực nước xã Quảng Tân cũng tuần hành dọc đê để xem có xã nào tháo trộm nước của xã mình không. Tôi và các em học sinh trực trường đã chứng kiến thanh niên các đội trực nước đánh nhau suýt “bươu đầu mẻ trán”.

Có nước Rào Nan, vùng Nam Quảng Trạch được mùa mấy chục năm liền. Lúc bưng bát cơm ai cũng nghĩ tới công lao của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình, Nguyễn Tư Thoan. Ông được xem như Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc trên miền đất lửa. Năm 2015, tôi theo đoàn nhà văn của Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình ra gặp bác Nguyễn Thanh ở Quảng Trung để lập Ban vận động xây dựng miếu thờ ông Nguyễn Tư Thoan. Bác Thanh là anh trai của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên. Bác đã tròn 100 tuổi, làm trưởng ban danh dự cuộc vận động. Chị Thủy, con gái đầu lòng của ông Thoan cùng anh Đinh Phú Tư, một Huyện ủy viên Quảng Trạch (cũ) đến nhà tôi để chở cây đa. Tôi trồng cây đa còn Đinh Phú Tư thì trồng cây đề. Vậy mà năm sau chị Thủy gọi điện ra báo có hai người dưới Ba Đồn vác búa lên đập cái am thờ. Hai cái cây của chúng tôi đang xanh tốt họ đào lên. Tấm bia tưởng niệm bị vứt xuống Rào Nan. Trong bộ phim “Tiếng vọng” được phát trên Đài Truyền hình Việt Nam, ông Trần Sự, nguyên Chủ tịch tỉnh Quảng Bình thời chiến tranh đã chất vấn đồng chí Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Hoàng Đăng Quang đã trả lời Tỉnh ủy Quảng bình không hề có chủ trương đập phá bia của ông Nguyễn Tư Thoan. Ai lại chối bỏ công lao của một người đã từng làm cho dân hết đói.

Bia đá không còn nhưng cũng chẳng sao. Người dân vùng Nam Quảng Trạch, (nay là thị xã Ba Đồn) vẫn thắp hương thờ ông trong lòng. Ngay trên vị trí năm xưa ông dừng lại lấy cây gậy cắm xuống để đắp đập, một con đập hiện đại được xem là công trình của thế kỷ 21 đã mọc lên. Đây là vị trí lý tưởng nhất trong ba địa điểm mà Bộ Thủy lợi đã khảo sát. Một sự trùng hợp đến bất ngờ của thời đại 4.0 với một lãnh đạo tỉnh có trình độ học vấn cấp 2 ở thế kỷ trước.

* * *

Công trình thủy lợi Rào Nan lắm lúc thăng trầm. Năm 2018, khi nghe tin có dự án xây đập mới, nhiều người ra sức phản đối. Một anh bạn giáo viên dạy văn quê ở Quảng Sơn đến nhà tôi. Anh nói người ta đứng chật đường, dựng băng rôn khẩu hiệu và phát tờ rơi không cho xây đập. Linh mục nhà thờ Diên Trường thì đêm nào cũng phát thanh trên loa kích động giáo dân. Trên trang facebook cá nhân “Joseph Hao Nguyen” ông đã hướng cho con chiên phản đối dự án. Linh mục Trần Văn Thành, quản xứ Tam Tòa, TP. Đồng Hới khi tham gia bình luận “Chiến đi” các cụ! Thà mất lòng trước, được mạng dân”.

Xuân Vui, phụ trách bản tin Cựu chiến binh tỉnh gọi điện cho tôi lên Quảng Sơn xem xét tình hình. Mới đến cổng Ủy ban Nhân dân xã thì một người quen đã đứng đợi đó. Anh ta nói: “Chú không được viết bài ủng hộ họ đâu nhé. Viết là có tội với dân đó”. Tôi nói: “Anh là một sĩ quan quân đội về hưu mà cũng nhận thức như thế ư. Công trình hồ chứa thủy lợi – thủy điện Cửa Đạt ở xã Xuân Mỹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, có dung tích 1,5 tỉ mét khối lớn gấp hơn 150 lần dung tích thượng lưu đập Rào Nan của mình mà còn không việc gì trong mùa lũ nữa huống hồ đập Rào Nan. Hơn nữa công trình đập Rào Nan lần này sẽ được xây kiên cố lắm”.

Tôi chìa ra tập tài liệu và diễn giải cho anh nghe: hệ thống cọc khoan nhồi gồm 283 cọc, đường kính 1 mét vững chãi dưới đáy lòng sông 20 mét, cắm sâu vào nền đá gốc 1 mét. Đập sẽ ăn sâu vào trong núi đá, chiều dài đập dâng mới sẽ là 177,4 mét, làm sao mà trôi được. Đồng chí Mai Xuân Thành, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Quảng Sơn dẫn tôi lên đập Rào Nan và chỉ vị trí xây đập tràn mới. Khi tôi hướng ống kính về thì anh xua tay: “Đừng chụp hình tôi vào anh ạ. Nhiều người dân không hiểu sẽ chỉ trách tôi”. Tôi biết anh rất dè chừng vì sợ dân sẽ phản đối nếu xảy ra sự cố.

* * *

Cuối năm 2021, đoàn văn nghệ sĩ chi hội Văn học Nghệ thuật Quảng Trạch – Ba Đồn lên tham quan đập Rào Nan. Trời đang sa mù chuyển dần sang mưa bụi. Từng đợt gió heo may chạy theo lòng sông lùa vào cổ áo rát rạt. Con đường mới lên Cao Quảng chạy trên đỉnh đồi, cao hơn con đường cũ đến chục mét. Dãy cột điện cao thế mới dựng lên dọc đường đi chưa kịp mắc dây. Trên đập, mấy công nhân của Công ty TNHH Tập đoàn Sơn Hải đang miệt mài hàn xì vật liệu kết cấu giàn cầu.

Chúng tôi đi bộ trên cầu sang bờ Nam. Rừng tràm hoa vàng đang mùa nở rộ làm đẹp thêm cảnh núi non hùng vĩ. Kỹ sư Đinh Anh Nam tổ trưởng tổ giám sát thi công công trình đi theo giới thiệu với chúng tôi, đập Rào Nan là loại đập tràn tự do, ngưỡng thực dụng chân không dạng Ôphixêrốp. Cống lấy nước nằm trong thân đập phía bờ Bắc, cống xả cát, xả lũ, nằm ở bờ Nam. Chiều dài đập là 177,4 m, cắm sâu vào chân núi đá. Các hàng cọc khoan nhồi được cắm sâu vào tầng đá mẹ 1 mét giữ các rọ đá vững chắc bảo vệ bờ. Đến nay công ty cũng đã hoàn thành được hơn 85% khối lượng. Nước đã tự chảy quanh năm đủ cung cấp nước tưới cho đồng ruộng của 16 xã, phường Ba Đồn và 6 xã Quảng Trạch. Nước Rào Nan đảm bảo cho 1.800 ha nuôi trồng thủy sản. Với lưu lượng nước 32.000m3 phục vụ dân sinh và 12.000m3 trong một ngày đêm phục vụ sản xuất công nghiệp. Bây giờ chẳng tốn một đồng tiền điện nào để chạy máy bơm như ngày xưa.

Trên cầu, nhiếp ảnh gia Phạm Văn Thức đứng dưới trời mưa điều khiển thiết bị bay vè vè dọc theo con đường 559B quay quang cảnh thượng nguồn Rào Nan. Nước đã ngập con đường 559B khoảng 4,6 km. Trạm bơm Rào Nan cũ nước ngập đến tầng 2. Nhà anh Trần Đình Ngọ, một cựu chiến binh thôn Linh Cận Sơn nằm phía trên đập nước cũng ngập đến gần một nửa thân cây dừa. Vườn cây và 3 hồ nuôi ba ba, tôm cá của anh đã nằm sâu dưới nước. Nghe nói gia đình anh được đền bù 7,8 tỉ đồng để chuyển đi lập vườn mới. Anh Nam cho chúng tôi xem mấy bức hình xả lũ vừa qua. Tất cả 15 cửa van và 2 cửa xả cát phun cao hơn mực nước hạ lưu là 3 mét. Con người đã hoàn toàn chế ngự được thiên nhiên. Dòng nước hung hãn từ Đồng Đâu xuống như con thuồng luồng dữ tợn đã bị chặn đứng bởi con đập kiên cố. Anh cũng cho chúng tôi xem các kịch bản phòng chống sự cố vỡ đập, ngay cả tình huống xấu nhất là động đất. Công ty TNHH tập đoàn Sơn Hải đảm nhiệm thi công công trình là công ty có uy tín tuyệt đối của tỉnh Quảng Bình. Xem đoạn đường bảo hành của công ty trên đường Quốc lộ 1A thì biết. Anh cho biết, nếu vừa rồi không bị sự cố covid – 19 ở thị xã và người dân ngăn cản làm chậm tiến độ, thì cuối tháng 12 năm nay sẽ bàn giao công trình. Dù sao đến trung tuần tháng 11 này công trình cũng đã hoàn thành được 85% rồi. Bây giờ chẳng cần tranh giành nhau từng giọt nước như ngày xưa, bà con cứ dùng thoải mái. Công ty Sơn Hải đã khởi công làm hai chiếc cầu dân sinh nữa trên dòng sông Nan qua thôn Cồn Nâm ở xã Quảng Minh và qua Hà Sơn ở xã Quảng Sơn. Hai chiếc cầu sẽ mở ra tiềm năng phát triển kinh tế vùng cồn bãi và các gia trại trong xóm núi. Nhìn con đập đồ sộ vững như bàn thạch đi qua mùa lũ chắc chắn những người một thời nhẹ dạ cả tin nghe theo kẻ xấu bây giờ cũng đang ân hận lắm.

Tạm biệt dòng Nan, tạm biệt con đập Rào Nan. Tạm biệt những con người thân yêu đang ở lại với công trình xây dựng trong cơn mưa lạnh, trong lòng tôi ấm áp lạ lùng. Một mùa xuân nữa lại đến. Một mùa xuân tràn ngập niềm tin và khát vọng. Dòng Rào Nan không còn hờ hững trôi về biển cùng rừng lau trắng phất phơ mà đang tràn ngập niềm vui. Mùa lũ đã đi qua, mùa xuân lại về.

(Nguồn : Hoàng Minh Đức FB)

ĐẤT ANH HÙNG, LÀNG SINH TƯỚNG
Tác giả bài viết: Dương Sông Lam
Nguồn tin: cstc.cand.com.vn

Tháng Tám mùa thu, dọc theo dòng Gianh thơ mộng, chúng tôi ngược lên thăm xã anh hùng, làng “sinh Tướng” ở thôn Trung Thôn, xã Quảng Trung, Thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

Dọc dài theo con đường làng uốn cong như dải lụa, gặp những cụ cao niên trong làng, chúng tôi được nghe những câu chuyện ăm ắp nghĩa tình son sắt với quê hương, đất nước của những người con làng Trung Thôn như Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Trung tướng Nguyễn Hữu Cường, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh…

Ngôi làng ven sông, đất không rộng, người không đông, cuộc sống xưa nay của bà con vẫn còn nhiều vất vả, nhưng người làng luôn tự hào bởi đây là mảnh đất anh hùng và sinh ra nhiều người giỏi đóng góp công sức cho quê hương, đất nước.

Chuyện ghi ở làng Anh hùng

Bên ly trà mang đậm hương vị vùng sông nước dòng Gianh, Chủ tịch xã Quảng Trung, ông Nguyễn Văn Hóa – hồ hởi cho biết, Quảng Trung luôn được xem là “cái nôi” cách mạng ở nam sông Gianh, Quảng Bình trong những ngày đầu thành lập Đảng.

Chi bộ Đảng đầu tiên của nhiều xã ven sông Gianh ra đời ở mảnh đất giàu truyền thống cách mạng này. Ngay sau ngày Đảng ra đời (1930), nhiều người con của Quảng Trung, nhiều đồng chí Đảng viên kiên trung của Đảng như Nguyễn Huyên, Nguyễn Biểu, Nguyễn Hữu Lương, Nguyễn Sỹ Đồng… đã nhen nhóm ngọn lửa cách mạng ở vùng cát Quảng Bình.

Từ chi bộ lúc đầu chỉ có 3 người (1937), ánh sáng của Đảng đã được cán bộ, đảng viên Quảng Trung thắp sáng tập hợp quần chúng nhân dân ven sông Gianh đứng lên giải phóng xiềng xích thuộc địa, phong kiến (1945). Tiếp đó, nhân dân Quảng Trung lại góp công, góp sức cùng đồng bào cả nước làm nên hai chiến công thần thánh của dân tộc là đánh bại thực dân, đế quốc để đưa non sông về một mối…

Đường về làng xã Quảng Trung, thị xã Ba Đồn, Quảng Bình.

Trong những năm gần đây, khi nói về việc học ở vùng cát Quảng Bình, Quảng Trung luôn được xem như một trong những xã đi đầu ở bờ Nam sông Gianh. Người Quảng Trung luôn tự hào về những con em quê hương biết vượt qua gian khó để trưởng thành. Nơi đây có những bà mẹ cả đời lặn lội thân cò nơi bờ ruộng, mép sông để nuôi con. Những người cha tần tảo trong gian khó để truyền cho con cái chí, cái dũng để vào đời.

Người Quảng Trung vẫn luôn lấy tấm gương bà Đặng Thị Cấp (sinh năm 1882), mẹ của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên để noi theo trong việc thu xếp việc nhà, việc nước và nuôi con ăn học. Khi mới bước qua tuổi 20, bà Đặng Thị Cấp theo ông Nguyễn Hữu Khoán về nhà chồng làm dâu. Hai vợ chồng tần tảo để nuôi 7 người con, khi đói khi no nhưng người làng bảo chưa bao giờ thấy bà Cấp một lần kêu ca, than thở. Đêm đêm, khi người làng đã chìm trong giấc ngủ thì cái cối giã gạo ở nhà bà Cấp vẫn từng nhịp đều đều cho đến gần sáng. Người phụ nữ nghèo ven sông Gianh tần tảo, bươn chải thức khuya dậy sớm như vậy để nuôi đàn con khôn lớn.

Năm 49 tuổi, chồng là ông Khoán qua đời, nỗi vất vả lại càng đè lên vai người mẹ nghèo Đặng Thị Cấp. Song bà vẫn nhất quyết không chịu cho con thất học, buộc con phải học để kiếm cái chữ. Khi cách mạng cần, chính ngôi nhà của bà Đặng Thị Cấp trở thành cơ sở cách mạng trong những năm 1937-1945 tại bờ Nam sông Gianh, Quảng Bình. Đêm đêm, bà vừa giã gạo, bóc ngô, vừa canh cho nhiều cán bộ xứ ủy, tỉnh, huyện họp bàn về hoạt động mở rộng phong trào cách mạng tại nhà mình.

Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bà hăng hái tham gia công tác phụ nữ, công tác Hội Mẹ chiến sĩ, vận động năm con trai và một con dâu tham gia vệ quốc. Khi quê hương bị giặc chiếm đóng, theo chủ trương của tỉnh, bà vận động bà con tiêu thổ kháng chiến, tản cư người già, trẻ con đến vùng tự do.

Năm 1950, tuy quê nhà còn bị địch chiếm, nhưng vì muốn trực tiếp phục vụ chiến đấu, bà hồi cư vận động bà con quyên góp thóc gạo, tiếp tế cho du kích đánh giặc… Chính người mẹ nghèo, giàu lòng yêu nước Đặng Thị Cấp đã nhen nhóm, truyền lửa lòng yêu nước để các con bà đi theo cách mạng và nhiều người đã trưởng thành, trở thành những cán bộ nòng cốt của Đảng và Nhà nước, được nhân dân hết sức tin yêu …

Trường THCS xã Quảng Trung nơi ươm mầm nhiều thế hệ học trò trong xã đã trưởng thành.

Nhà có ba vị Tướng bên bờ Nam sông Gianh

Khi nói về gia đình bà Đặng Thị Cấp, không chỉ người làng Quảng Trung mà người dân cả vùng cát Quảng Bình đều hết mực tự hào. Là một người mẹ nghèo, vất vả tần tảo khuya sớm bên sông Gianh để nuôi con ăn học, cống hiến cho dân cho nước, bà Đặng Thị Cấp có sáu người con, trên 50 cháu, chắt gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ.

Bà đã có hai người con và một người cháu được phong quân hàm cấp Tướng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, đó là Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn; Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh, nguyên Phó Viện trưởng, Học viện Hậu cần, Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng; Trung tướng Nguyễn Hữu Cường, Tư lệnh Quân khu 4 và trên 50  sỹ quan cấp tá (có 5 người là Đại tá), cấp úy phục vụ trong lực lượng vũ trang.

Gia đình bà Đặng Thị Cấp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương, tặng “Bảng vàng danh dự” và “Gia đình có công với nước”. Năm 2005, ngôi nhà của bà đã được Đảng, Nhà nước công nhận và dựng bia “Di tích cách mạng”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên thăm hỏi, động viên Bộ đội và Thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn trong những năm kháng chiến

Trong các con cháu của bà Đặng Thị Cấp, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên thường được nhắc đến hơn cả. Vị tướng Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn, thủ lĩnh của bộ đội, thanh niên xung phong Trường Sơn, cuộc đời của ông luôn được đồng đội xem như bản trường ca về người lính.

Ngày tóc còn để chỏm, cậu bé Nguyễn Hữu Vũ vừa lên 10 tuổi đã phải mồ côi cha, dù cực khổ nhưng bà mẹ nghèo Nguyễn Thị Cấp vẫn nhất quyết không để con thất học. Nguyễn Hữu Vũ được mẹ gửi đi tìm thầy học chữ Hán, chữ quốc ngữ. Những bài học của thầy đã sớm truyền lửa cho cậu bé tinh thần yêu nước.

Năm 12 tuổi, Nguyễn Hữu Vũ bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng, lấy bí danh là Nguyễn Văn Đồng, sau đó đổi thành Đồng Sỹ Nguyên. Trong những năm 30 của thế kỷ trước, Đồng Sỹ Nguyên cùng vài ba đồng chí của mình đã gây dựng cơ sở cách mạng ở vùng Bắc và Nam sông Gianh rộng lớn.

Nhiều lần bị thực dân Pháp truy nã gắt gao, ông đã phải qua Lào, Thái Lan hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước để tiếp tục gây dựng cơ sở. Năm 1945, Đồng Sỹ Nguyên được bầu làm Chủ nhiệm Việt Minh, kiêm Chỉ huy trưởng Bộ đội Quảng Bình, ông là đại biểu Quốc hội khóa 1 năm 1946.

Phóng viên Chuyên đề CSTC gặp gỡ người dân Quảng Trung tìm hiểu về vùng đất cách mạng này.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên được giao nhiệm vụ làm Tư lệnh Binh đoàn 559 (Binh đoàn Trường Sơn), xây dựng tuyến đường giao thông chiến lược Trường Sơn để bộ đội vào Nam chiến đấu, giải phóng, thống nhất đất nước.
Dưới sự chỉ huy tài tình của ông, đường mòn Trường Sơn từ một con đường nhỏ đã trở thành một tuyến giao thông vận tải lớn với cả hệ thống đường được giới truyền thông mệnh danh là “trận đồ bát quái xuyên rừng rậm”.

Tầm quan trọng của con đường chiến lược này thể hiện rõ nhất với quân số lúc cao điểm hơn 12 vạn binh sĩ, trong đó có hơn 1 vạn là lực lượng Thanh niên xung phong, biên chế thành 8 sư đoàn và một sư đoàn cao xạ tên lửa phối thuộc. Hệ thống đường chiến lược này khi Đồng Sỹ Nguyên vào tiếp nhận chỉ có 5 tiểu đoàn xe với 750 xe, chia thành 4 binh trạm; đến năm 1975 đã phát triển thành 2 sư đoàn vận tải với 10.000 xe.

Đường Trường Sơn không còn những con đường đơn lẻ, mà phát triển thành một hệ thống đường vận tải phức tạp với hơn 16.700km đường bộ, trong đó có hơn 800km đường kín, 1.500km đường rải đá, 200km đường nhựa. Bên cạnh đó còn có 1.500km đường ống dẫn xăng dầu, 1.350km đường dây cáp thông tin, 3.800km đường giao liên, 500km đường sông.
Nhằm cắt đứt đường chi viện của ta, quân đội Mỹ và đồng minh đã tìm mọi cách từ thô sơ đến hiện đại nhất nhằm mục đích cắt đứt con đường vận tải chiến lược này. Các khí tài điện tử được lập thành “Hàng rào điện tử MacNamara”, cây nhiệt đới, pháo đài bay B-52, vũ khí thời tiết, hóa học… đến các cuộc hành quân càn quét lớn đến biệt kích phá hoại đều được quân đội Mỹ sử dụng. Những tổn thất do kẻ thù gây ra cho chúng ta không hề nhỏ, song tuyến đường vẫn luôn được bảo đảm thông suốt.

Để trọn tình, trọn nghĩa với đồng chí, đồng đội đã hy sinh, đầu năm 1974, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã quyết định xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn tại khu đồi Bến Tắt, nằm ở chân phía Đông dãy Trường Sơn, cạnh trục đường Hồ Chí Minh Đông Trường Sơn. Khu đồi Bến Tắt ở bờ Nam sông Bến Hải, thuộc xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh cũng là nơi đóng Sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Từng có nhiều năm gắn bó với đường Hồ Chí Minh huyền thoại, dù sống đến gần cuối cuộc đời nhưng Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vẫn luôn nghĩ về đồng đội. Mới đây, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã có đơn gửi UBND tỉnh Quảng Trị bày tỏ nguyện vọng sau khi từ trần được về an nghỉ tại Nghĩa trang Trường Sơn, để được gần gũi với đồng chí, đồng đội của mình.

Nguồn: Đất Anh hùng, làng sinh Tướng – Đài TT-TH thị xã Ba Đồn badontv.vn https://badontv.vn/chuyen-muc/que-huong-dat-nuoc-con-nguoi/dat-anh-hung-lang-sinh-tuong-389.html

Quảng Bình đất và người
THƠ VĂN THẦY HỒ NGỌC DIỆP
Hoàng Kim


Đọc trang văn hóa Bạc Liêu
Thơ thầy giáo cũ thương yêu gọi về
Thầy ơi nắng sớm mưa che
Lời thương thầm lắng, mải mê kiếm tìm.

Nhớ thầy đáy biển tìm kim
Chim sa núi Bắc, thầy tìm non Nam
Tìm Người ở giữa Trường Sơn” (1)
Dáng ai bóng núi xanh hơn sắc rừng

Tháng năm lắng đọng yêu thương
Người Thầy chiến sĩ” (2) lặng thầm yêu thương
Trần Thị Lý với Nguyễn Chơn” (3)
Bác Hồ huệ trắng thơm hương” (4) lòng người

xem tiếp Quảng Bình đất và người https://hoangkimlong.wordpress.com/category/quang-binh-dat-va-nguoi/

THƠ VĂN THẦY HỒ NGỌC DIỆP
Hoàng Kim


Học văn để làm gì? Để giữ ngọc di sản. Quảng Bình đất và người thẳm thẳm nhớ trong tôi với nhiều chuyện quý.

Thuở nhỏ học văn, tôi ấn tượng nhất là tích cổ cha mẹ kể về Lục Vân Tiên tại Nguồn Son nối Phong Nha (1) và Cao Biền trong sử Việt (2). Cha mẹ tôi mất sớm, những thầy văn đầu đời của tôi là Hoàng Ngọc Dộ khát vọng (3), “Hoàng Trung Trực đời lính” (4), thầy Nguyễn Khoa Tịnh “Em ơi can đảm lên” (5), thầy Trần Đình Côn Bài ca Trường Quảng Trạch (6), thầy Phạm Ngọc Căng (7) người Thanh Hóa, phó Hiệu trưởng đầu tiên của Trường cấp ba bắc Quảng Trạch và thầy Hồ Ngọc Diệp người Đồng Hới dạy văn (8). Tôi cũng may mắn được học văn với ông tôi Minh Sơn Hoàng Bá Chuân (9) là em ruột bà ngoại tôi khi thăm ông ra ở với cậu tại 64 Hàng Bạc Hà Nội. Ông đã bày cho tôi cách làm thơ Đường. .

Hoàng Kim nay chép lại sáu câu chuyện lắng đọng Thơ văn thầy Hồ Ngọc Diệp 1) “Tìm mộ em ở Trường Sơn” 2) “Người thầy chiến sĩ” 3) “Bác Hồ với ngày thương binh liệt sĩ 27/7”; 4) “Chuyện về nữ anh hùng bên dòng sông Lũy” 5) “Nhà văn Hoàng Bình Trọng với nghiệp đời gập ghềnh”; 6) “Nhạc sĩ Trần Hoàn viết cho sự giã biệt”, lưu lại một tích truyện về người thầy dạy văn của mình. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-van-thay-ho-ngoc-diep/


TÌM MỘ EM Ở TRƯỜNG SƠN
Hồ Ngọc Diệp


Vươt đèo, leo dốc,phạt gai
Qua bao con suối,miệt mài tìm em
Mộ em núi đã giăng lèn
Ba bề là đá,bốn bên là rừng

Nghe con mang,tác ngập ngừng
Suối xa như đã lạnh dừng tiếng reo
Ngặt thưa bìm bịp kêu chiều
Giữa hoang sơ,lòng những phiêu diêu buồn

Ngàn lau trắng thác mây tuôn
Bước chân hoang hoải bồn chồn ngẩn ngơ
Em đi từ bấy đến giờ
Thương con,lòng mẹ thẫn thờ đợi con

Xa quê từ buổi trăng tròn
.Ấp e chưa đón nụ hôn người tình
Em ngã xuống,sắc nguyên trinh
Vì dân,vì nước quên mình tuổi xanh

Mau về với mẹ cùng anh
Ở đâu? chiều đã phủ nhanh rừng già

NGƯỜI THẦY CHIẾN SĨ
Hồ Ngọc Diệp


Từ mái trường, tình nguyện xung phong
Khoác AK, thầy lên đường ra trận
Người thì gầy, bộ Tô Châu thì rộng
Nào hề chi, có thép ở bên trong

Đường hành quân qua bao núi, bao sông
Bỗng gặp học sinh, cùng chiến hào đánh Mỹ
Đêm Trường Sơn, thầy và trò tri kỷ
Chuyện trường xưa, nỗi nhớ cháy đêm tàn….

Đơn vị thầy lại cấp tập hướng Nam
Nã đạn pháo gầm ran đầu lũ giặc
Dáng hiên ngang như thiên thần lẫm liệt
Giữa trận tiền khi bom giặc phản công

Góp máu mình cho độc lập non sông
Thêm kiêu hãnh những bài ca sư phạm
Gieo lòng người đâu chỉ là lời giảng
Mà cả bằng: đức nguyện tiến công

Những đạo hàm, ta lét, parabol
Những tan, cos, góc bù, góc nhọn
Rồi cuộc đời và những lời thầy giảng
Thành vinh quang những chân lý của đời

Chúng tôi nhắc thầy trong kí ức bồi hồi
Để nhớ mãi ngôi trường phố cũ
Hình ảnh thầy, người thầy – Chiến sĩ
Gieo lòng người rực rỡ những cành xuân.

(*) Thầy Hồ Ngọc Diệp ngày 14 10 2021 viết: Cảm ơn văn nghệ Bạc Liêu đã đăng bài thơ “Tìm mộ em ở Trương Sơn” số tháng 7/202l

BÁC HỒ VỚI NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ 27/7
trích: Bác Hồ với Quảng Bình,
Hồ Ngọc Diệp 2021 (*)
Nhà Xuất bản Thuận Hóa, trang 150


Bác Hồ bùi ngùi không cầm được nước mắt, đọc bài từ như sau: Hỡi các liệt sĩ ! trong lúc cả nước vui mừng thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ Quốc, vì dân tộc. Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuốm lá quốc kỳ. Tiếng thơm của các liệt sĩ sẽ muôn đời truyền với sử xanh:

Một nén hương thanh
Vài lời an ủi
Anh linh của các liệt sĩ bất diệt
Tổ quốc Việt Nam vĩ đại muôn năm!


(*) Hồ Ngọc Diệp địa chỉ liên lạc: Hồ Ngọc Diệp Hội văn học Nghệ thuật Quảng Bình, đường Đoàn Thị Điểm, phường Đồng Hải, TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Số điện thoại: 0968 237 320 Tài khoản: Hồ Ngọc Diệp 040027737627 Ngân hàng Sacombank Đồng Hới, Quảng Bình

CHUYỆN VỀ NỮ ANH HÙNG BÊN DÒNG SÔNG LUỸ
Hồ Ngọc Diệp


Chị Trần Thị Lý sinh ra trong một gia đình nghèo bên dòng sông Lũy, một nhánh của con sông Nhật Lệ, phía Nam Cầu Dài, đó là làng Phú Thượng, Phú Hải, Đồng Hới, Quảng Bình. Là một người lanh lợi, hoạt bát, có ý thức tập thể cao nên chị được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho Đảng ủy, Xã đội. Năm 1964, chị được kết nạp Đảng, lúc đó chị tròn 19 tuổi. Tháng 2 năm 1965 Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang ra miền Bắc đã chọn thị xã Đồng Hới làm điểm đánh mở đầu. Phú Hải là một trong những điểm nóng chiến sự. Lúc này, chị Trần Thị Lý được sung vào lực lượng dân quân, làm chiến sĩ phòng không nam Cầu Dài thị xã Đồng Hới.

Chị Trần Thị Lý trong những cuộc chiến đấu đánh trả máy bay thù đã tỏ rõ bản lĩnh chiến đấu xuất sắc. Chị đã chạy từ trận địa phòng không này sang trận địa phòng không khác để truyền mệnh lệnh chiến đấu của cấp trên chuyển về, đồng thời dùng súng trường K44 bắn trả máy bay Mỹ rất kiên cường. Chị đã đào hầm sập, cứu đồng đội, đồng bào bị bom Mỹ vùi lấp. Đặc biệt trong ngày 4/4/1965, đế quốc Mỹ đã huy động hàng trăm lượt máy bay đến ném bom Cầu Dài, triệt hạ thị xã Đồng Hới, chị Trần Thị Lý đã dũng cảm mưu trí chèo đò chở Bí thư Đảng ủy xã Lê Viết Thuật vượt sông để chỉ đạo dân quân, nhân dân chiến đấu, rồi trở lại trận địa an toàn. Trong một lần bị bom vùi, chị đã kịp thời bình tĩnh cởi áo ngoài khoác lên đầu súng để đất đá khỏi vào làm chẹt nòng. Sau đó, chị đã bươn mình ra, tiếp tục nổ súng bắn vào kẻ thù.

Với những thành tích xuất sắc đó, chị đã được Quốc hội tuyên dương anh hùng vào ngày 01/01/1967. Cũng trong năm đó chị được chuyển sang quân đội, làm chính trị viên phó Thị đội Đồng Hới. Từ năm 1967 , chị được cử đi học trường văn hóa quân khu, sau đó được cử đi học tiếp tại Học viện chính trị quân sự của Bộ quốc phòng. Năm 1978, chị đảm nhiệm chức Phó đội trưởng đội công tác thuộc đoàn 871, Tổng cục chính trị. Từ 1985 chị được điều về giữ chức Phó rồi Giám đốc, Phó Bí thư chi bộ khách sạn Bạch Đằng của Quân khu 5 ở Đà Nẵng. Chị là Đại biểu Quốc hội khóa IV, V và VI. Chị từng là ủy viên Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chị đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác.

Anh hùng Trần Thị Lý là người giàu tình cảm với mảnh đất minh sinh ra và lớn lên. Sau này, khi làm Giám đốc khách sạn Bạch Đằng, hễ có các con cháu quê hương Phú Hải vào học hay công tác tại Đà Nẵng, nếu gặp khó khăn, chị đã tìm cách giúp đỡ, động viên để các cháu an tâm học tập và công tác. Nhiều lần về thăm quê chị đều đến thăm và tặng quà cho Đảng ủy, UBND và các đoàn thể trong phường. Chị đã giúp Hội Người cao tuổi địa phương sắm một cỗ xe tang, đóng góp cho quỹ xây dựng nhà văn hóa, trạm y tế phường và giúp đỡ những hộ nghèo hoặc gặp khó khăn. Đến phút lâm chung chị còn hỏi người nhà: “Xã mình đã được phong anh hùng chưa?” (thực ra, phường Phú Hải được phong anh hùng trước đó mà chị chưa có được thông tin).

Có nhiều chuyện kể lý thú, dí dỏm về anh hùng Trần Thị Lý thời thanh xuân.

Tháng 7 năm 1967, anh hùng Trần Thị Lý được mời dự Đại hội liên hoan thanh niên sinh viên Hoà bình thế giới tại nước XHCN Cu Ba.Sau báo cáo của chị, trong giờ giải lao, hàng trăm nhà báo vây quanh chị để quay phim, chụp ảnh và phỏng vấn. Có một nhà báo Phương Tây hỏi chị:- Chị là một anh hùng của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Vậy, ai là người chị sẽ chọn xây dựng gia đình? Không phải suy nghĩ lâu, chị Trần Thị Lý vui vẻ trả lời: – Đó sẽ là người đàn ông thương yêu tôi nhất! Trong quãng ngày công tác, chị đã được vinh dự 3 lần gặp Bác Hồ và được Bác trực tiếp chỉ giáo. Lần thứ nhất là lần cùng đoàn Quảng Bình được ưu tiên gặp Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau ngày Đại hội liên hoan chiến sĩ anh hùng thi đua toàn quốc (1/1/1967). Gần cuối buổi, Bác Hồ bảo chị Lý hát bài “Quảng Bình quê ta ơi” của nhạc sĩ Hoàng Vân cho Bác nghe. Quá cảm động và lúng túng nên chưa thực hiện được ngay thì Thủ tướng Phạm Văn Đồng “cứu nguy” cho chị và bảo: “Cháu Lý hãy “cầm càng” cho tất cả đoàn cùng hát”. Thế là anh hùng Trần Thị Lý đã đứng dậy và bắt nhịp cho toàn đoàn Quảng Bình hát vang bài hát mà Bác và Thủ tướng yêu thích. Lần thứ hai, chị gặp và được Bác Hồ chỉ giáo là ngày trước lúc lên đường sang Cu Ba tham dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới. Khi Bác hỏi: “Cháu đã chuẩn bị những gì sang thăm và tham quan ở Cu Ba?” chị Lý đã thuật lại chuyện các chú lãnh đạo cho may áo dài, sắm dày cao gót nhưng sử dụng còn lúng túng lắm. Bác liền bảo: “Cháu sang Cu Ba lần này để báo cáo thành tích kinh nghiệm chiến đấu của mình và học tập kinh nghiệm của nhiều người khác chứ đâu có phải đi du lịch mà sắm các thứ ấy. Để Bác nói chú Song Hào chuẩn bị bộ đồ bộ đội và dép cao su cho cháu”. Và chị Trần Thị Lý đã mặc trang phục như thế trong suốt thời kỳ ở Cu Ba.

Người ta còn kể cho nhau nghe câu chuyện tình yêu của chị với Đại tá anh hùng Nguyễn Chơn. Lần đó, Đại tá anh hùng Nguyễn Chơn (sau này là Thượng tướng, Thứ trương Bộ Quốc phòng) về Hà Nội tham dự Đại hội liên hoan anh hùng LLVTND của quân đội. Người anh hùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng đó vì xông pha lăn lộn nơi trận mạc, hết Nam lại Bắc, hết Bắc lại Nam nên sắp đã bén tuổi tứ tuần mà vẫn chưa có một bóng hồng nằm lại trong tim mình. Thấy Nguyễn Chơn về dự Đại hội lần này có làm thân với nữ anh hùng Trần Thị Lý (nhân một lần xem phim ngồi cạnh nhau), anh em, đồng chí bèn “Ra tay” để giúp Nguyễn Chơn rút ngắn khoảng cách. Vào một tối thứ bảy nọ, họ rủ nhau (không quên kéo Trần Thị Lý cùng đi) đến phòng nghỉ của anh hùng Nguyễn Chơn uống nước, chuyện trò. Rồi như là đã bàn trước, họ bấm tay nhau, lần lượt rút lui. Đến người cuối cùng ra khỏi phòng, họ không quên khoá trái cửa lại, cốt là để tạo cơ hội cho hai người tự nhiên tâm sự với nhau.

Hơn 1 giờ đồng hồ, Đại tá anh hùng Nguyễn Chơn hút hết không biết bao nhiêu là thuốc lá, mặt đỏ gay, không biết nói một câu gì cả. Nữ anh hùng Trần Thị Lý ngồi yên như vậy, cũng không giám nhìn Nguyễn Chơn, tay bứt xé không biết mấy lá hoa trong lọ giữa bàn. “Thôi phải mở đường thoát cho hai người”. Nghĩ vậy, chị liền lên tiếng trước:- Cớ làm răng mà anh em họ nhốt mình trong phòng rứa, Thủ trưởng? Anh hùng Nguyễn Chơn lúc bấy giờ mới ngẩng lên, ấp úng:- Là vì…vì…họ nói, …họ nói…- Họ nói mần răng, thưa Thủ trưởng? – Trần Thị Lý khơi gợi. Anh hùng Nguyễn Chơn dũng cảm, táo bạo như cố vượt qua một trọng điểm: – Họ nói là tui ưng o! Anh hùng Trần Thị Lý mặt đỏ lên, mãi một hồi rất lâu nữa mới cất tiếng: – Họ nói như rứa thì ý Thủ trưởng mần răng? Nguyễn Chơn lúng túng như một học trò có lỗi:- Thì … thì…tui cũng ưng o như họ nói thật! Chỉ đợi được như thế. Tuy nhiên mãi một lúc sau, Trần Thị Lý mới bộc bạch được ý nghĩ của mình: – Ý Thủ trưởng răng thì em cũng rứa! Và thế là, anh em đồng chí “nghe trộm” ngoài cửa, mở cửa chạy vào. Một người vui tính hét vang:- Xong rồi! xong rồi! Trận đánh kết thúc hoàn toàn thắng lợi! Trai anh hùng, gái thuyền quyên! Chúc mừng anh chị đã phá được hàng rào, xung kích tiến lên chiếm lĩnh trận địa của tình yêu ! Không lâu sau, Nguyễn Chơn ở tuổi 48, Trần Thị Lý ở tuổi 34 thành vợ, thành chồng. Tình yêu của hai anh hùng LLVT ấy có được do sự chân thật của hai người, song cũng nhờ công rất lớn của bạn bè, đồng chí. Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cha nuôi tinh thần của Trần Thị Lý bận việc không đến dự lễ cưới được đã gửi tặng đôi tân hôn 1 chai rượu ngoại, 2 cây bút máy. Chai rượu mang ý nghĩa mừng cuộc vui. Cặp bút máy mang ý nghĩa khuyên vợ chồng nên chỉ sinh 2 con. Quả vậy, vợ chồng Nguyễn Chơn và Trần Thị Lý sinh được 2 cô gái lanh lợi giỏi giang. Bây giờ 2 cô gái đã có gia đình và làm việc ở 2 cơ quan nhà nước.

Anh hùng Trần Thị Lý lần đó ra Hà Nội họp, được Bác Hồ mời vào thăm, ăn cơm cùng Bác với hai nữ anh hùng khác.Mâm cơm dọn ra, có thịt gà, canh bí đao, rau muống luộc, 1 bát cà pháo muối chua và bát nước chấm. Gắp nhiều thịt gà bỏ vào bát các nữ anh hùng, Bác nói: – Ở chiến trường, các cháu ăn uống kham khổ, công việc thì vất vả, nay phải ăn nhiều thịt gà vào cho khỏe, mai mốt trở lại chiến trường, có thêm sức mà chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ của mình. Còn Bác, Bác chỉ thích ăn rau muống luộc chấm tương và cà muối xứ Nghệ thôi. Ba nữ anh hùng được ngồi ăn cơm với Bác, sung sướng quá, cảm động quá, trước sự săn sóc của Bác nên không ai và nổi cơm. Thấy thế, bác giục: – Nhanh lên, đẩy mạnh tốc độ, thao tác linh hoạt, lanh lợi như đang vào trận, hỡi các nữ anh hùng!Được ngồi cạnh Bác, nữ anh hùng Trần Thị Lý chăm chú đợi Bác ăn xong bát thứ nhất, đặt bát đũa mình xuống, đưa hai tay đón bát của Bác để đơm thêm cơm. Có lẽ, vì quá sung sướng, vì được lần đầu tiên làm công việc này nên nữ anh hùng đất Đồng Hới Quảng Bình đâm ra lóng ngóng. Bởi vậy, không may một thìa cơm bị lọt xuống mâm. Sợ Trần Thị Lý hót bỏ sang bát trống đựng thức ăn thải loại, Bác liền dùng thìa và đũa hớt phần trên của phần cơm bị rơi ra mâm đó bỏ vào bát của mình và nói: – Được ngồi cạnh, rồi được đơm cơm cho Bác, sung sướng quá nên lóng ngóng, làm rơi cơm ra ngoài chứ gì? Không sao! Hạt cơm là hạt ngọc của trời, không nên bỏ phí. Thái độ chân thành và xử lý hợp thời của Bác khiến Trần Thị Lý vô cùng cảm động. Và câu nói của Bác biểu lộ tính kiệm cần của một người nông dân, gắn bó với sản phẩm của mình làm ra. Đối với anh hùng Trần Thị Lý, và thảy mọi người là một lời dạy sắt son luôn mang tính thời sự về ý thức tiết kiệm và sự tránh lãng phí mọi phương diện của cuộc sống.

Thiếu tá Trần Thanh Hương (em ruột anh hùng Trần Thị Lý đang nghỉ hưu ở khu dân cư số 8, phường Đồng Sơn, Tp. Đồng Hới) đã cho tôi biết một chi tiết vô cùng cảm động. Chị Trần Thị Lý bị đau đường ruột, điều trị khắp các bệnh viện trong nước không đỡ nên đã sang Trung Quốc điều trị. Nhưng bệnh tình vẫn ít thuyên giảm. Sau đó đơn vị đã đưa chị về điều trị tại bệnh viện Quân y 17 quân khu 5. Biết mình sẽ không qua nổi, chị xin bệnh viện về nhà nghỉ một đêm. Đêm đó chị dặn dò chồng, con, em và các cháu nhiều điều và ngủ một đêm rất ngon lành trong ngôi nhà ấm cúng của mình trước khi sáng mai phải trở lại bệnh viện. Ít hôm sau chị đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 7/5/2000.

Anh hùng Trần Thị Lý là một trong 3 khuôn mặt nữ anh hùng bên sông Nhật Lệ trong những ngày đánh Mỹ. Đó là những người đã góp phần làm sáng danh lịch sử quê hương Đồng Hới anh hùng. .

Nhà văn Hoàng Bình Trọng với nghiệp đời gập ghềnh
NGẬM NGÙI VỚI NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
Hồ Ngọc Diệp, ngày 26 tháng 3 năm 2022

Ông đã ” Tự trào”

“Tớ không có chí làm vua
Nên trời bắt tớ cày bừa ruộng văn
Thôi thì tám đóm tám khoanh
Chăm gieo chuyện ngắn gặt nhanh chuyện vừa
Lại còn tiểu thuyết còn thơ
Lại còn dịch diệt ăng ô Tây Tàu”

Nhà văn Hoàng Bình Trọng, nguyên là kỉ sư ngành trắc đạt bản đồ mỏ địa chất. Do đi nhiều và và lòng ham chuộng văn học,ông có mấy bài báo viết cho các báo hiện hành những năm 1969 – 1970. Thấy năng lực đầy triển vọng, Nhà Xuất Bản Kim Đồng thời kì đó đặt hàng cho ông viết tiểu thuyết cho thiếu nhi,.sau gần ba tháng vừa giảng dạy tại trường trung cấp mỏ địa chất ở Vỉnh Phú, vừa viết sách, cuốn chuyện “Bí mật một khu rừng”, dày hơn 300 trang ra đời. Cuốn truyện thu hút bạn đọc thiếu nhi và cả người lớn đến nỗi, sau “Dế mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài, “Bí mật một khu rừng”, được tái bản 10 lần,mỗi lần 3 vạn cuốn. Sách còn được dich sang tiếng Nga và Đài Tiếng Nói Việt Nam đã 3 lần phát ở chương trình “Đoc chuyện đêm khuya” ,mỗi kì phát ngót nghét một tháng trời. sau tác phẩm nổi tiếng đầu tay đó Hoàng Bình Trọng được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Cho đến cuối đời, ông đã viết 38 tác phẩm, trong đó 13 tiểu thuyết, 3 trường ca v.v…. Năm 1971,Hoàng Bình Trọng có gia nhập vào quân đội và có 5 năm chiến đấu ở chiến trường B. Hết chiến tranh,ông ra quân và Hội văn học Vĩnh Phú nhận ông về biên tập cho tạp chi “Đất Tổ”. Mấy năm sau, chia tỉnh, ông lênh đênh tìm bến đỗ . Nạn tiếm quyền buổi giao thời này khiến ông không đến được nơi ông cần đến. Nơi cũ thì đã cắt giấy tờ, nơi đến thì không nhận vì đã có ngươi choán chỗ. Ba tháng trời không lương, lại hết tỉnh Vĩnh Phúc đến Phú Thọ, mệt mỏi, bất lực,ông đành về 176. Về với vơ ở Quảng Hòa Quảng Trạch ông đi làm thuê, thậm chí lên rừng hái củi về bán nuôi vợ và con trai. Ông Nguyễn Văn Lợi tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Quảng Bình (sau này là tạp chí Nhật Lệ) đã đón ông vào làm biên tập viên. 14 năm trời làm việc ở đây, không bia rượu, thuốc lá,chỉ mấy cái song tự nấu ăn hàng ngày, ông vừa làm việc vừa sáng tác. Ở Quảng Bình, chưa ai có nhiều giải thưởng văn học danh giá như ông, từ địa phương đến trung ương. Khi Nhật Lệ đủ biên chế rồi, ông phải về quê sống với ngòi bút của mình

Và ông cười khẩy

“Một giọt rơi,
Một quảng đời tàn lụi
Tiếc làm chi cái kiếp phù sinh
Chỉ cần biết bao giờ nến tắt
Ấy là khi đã cháy hết mình”.

Về quê cũ, bệnh viêm phổi mãn tính hoành hành. Đã nghèo nhưng phải nằm viện liên miên. Hết Cu Ba đến Huế, Hết Quảng Trạch lại Hà Nội, cuối cùng Hoàng Bình Trọng đã rời cõi tạm đầu năm 2021. Báo Văn Nghệ đã chia sẻ nhà văn Hoàng Bình Trọng qua bài viết nhỏ của tôi. Cảm ơn quý báo.

Nhạc sĩ Trần Hoàn
VIẾT CHO SỰ GIÃ BIỆT
Hồ Ngọc Diệp, 20 tháng 1 năm 2022  ·

Nhạc sĩ Trần Hoàn có nhiều duyên nợ với Quảng Bình . Nhưng nhiều người chưa được biết ông có một ca khúc viết về một cô gái mà chỉ ông biết tại Quảng Bình, viết cho một cuộc giã từ đi xa mãi mãi, trên đất Quảng Bình. Tôi đã được báo Văn Nghệ Công An giới thiệu bài viết về sự kiện này với bạn đọc gần xa. Một phần thưởng lớn lao đầy ý nghĩa đã đến với tôi,đó là bà Thúy Hồng, vợ của Nguyễn Tăng Hích( tên thật của nhạc sĩ Trần Hoàn) điện về tổng biên tâp báo Văn Nghệ Công An xin số điện thoại của tôi. Sau đó bà đã điện vào cảm ơn tôi đã có một bài viết hay và những điều bà chưa được biết hết về người chồng thân yêu của mình. Với tôi, đó là phần thưởng vô giá.

Bài ca trường Quảng Trạch https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-ca-truong-quang-trach/ Dạo chơi non nước Việt https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dao-choi-non-nuoc-viet/

TỰ NGUYỆN

CNM365 Tình yêu cuộc sống. Bạn tôi thích hát bài “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh với lời Việt thật ngọt ngào và lời Anh tự dịch khá sát nghĩa. Tôi đặc biệt thích thú bài hát song ngữ này vì những điều cảm động sâu xa trong lời thơ hay đến mức nao lòng và vì sự dễ nhớ để học cách chia động từ tiếng Anh: “Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng / Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương/ Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm/ Là người, tôi sẽ chết cho quê hương” (If a bird, I would be a white pigeon/ If a flower, I would be a sun flower/ If a cloud, I wold be a warm cloud/ A man, I will die for our country …). Trong nguyên bản, lời thơ viết về sự hi sinh trong chiến đấu “Là người, xin một lần khi ngã xuống / Nhìn anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.” nay trong thời bình, chúng ta ước khi mình nằm xuống cũng là lúc trỗi dây của một thế hệ mới “Là người, xin một lần khi nằm xuống/ cùng anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.” (Being a man, before we die/ We’ll stand up with you raise highly the flag).

TỰ NGUYỆN
Nhạc và lời: Trương Quốc Khánh

Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm
Là người, tôi sẽ chết cho quê hương

Là chim, tôi sẽ cất cao đôi cánh mềm
Từ Nam ra ngoài Bắc báo tin nối liền
Là hoa, tôi nở tình yêu ban sớm
Cùng muôn trái tim ngất say hoà bình

Là mây, theo làn gió tung bay khắp trời
Nghìn xưa oai hùng đó tôi xin tiếp lời
Là người, xin một lần khi ngã xuống
Nhìn anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.

Voluntariness

If a bird, I would be a white pigeon.
If a flower, I would be a sun flower.
If a cloud, I wold be a warm cloud.
A man, I will die for our country.

Being a bird, I would raise the soft wings
From South to the North, all news are joined.
Being a flower, I effloresce the early love
With all the hearts are enthralled the peace.

Being a cloud, with the wind I fly all the sky.
There’s been a superb millenary, today we’ll be catenary.
Being a man, before we die
We’ll stand up with you raise highly the flag.

Góp ý chỉnh sửa của Nguyễn Thị Bích Nga.
Anh Hoang Kim thân mến,
Đây là bản chuyển ngữ tiếng Anh mà Bích Nga có sửa đổi vài chỗ (dựa theo bản chuyển ngữ tiếng Anh “gốc” của cô Tuyết Hợp Ngốc PhươngNam) để chúng ta cùng HÁT với nhau nghen.Bích Nga đã hát thử nhiều lần rồi, hì hì, thấy cũng tạm được, 😀

THE VOLUNTEER
If a bird, I would be a white pigeon.
If a flower, I would be a sun-flower.
If a cloud, I would be a whole warm cloud
A human, I will die for my country.

A bird, I would rise high my soft wings
From South to the North, I give good news.
A flower, I blossom the early love
With all the hearts enthralled by the peace.

A cloud, I would fly to all the skyT
To follow our heroic history
A human, just once before I die
With my brothers, standing, raising the flag
.
(*) Cám ơn anh Bu Lu Khin đã viết “Linh” một câu chuyện xúc động, đó cũng là (tương tự là) câu chuyện Linh Giang dòng sông quê hương trên đây. Cám ơn Ngốc Phương Nam, Vumanh Hai đã chuyển thể bài thơ này sang tiếng Anh.từ 12 tháng 6 năm 2011 và Nguyễn Thị Bích Nga cũng tương tự vậy đã chuyển thể bài hát “Tự Nguyện” của Trương Quốc Khánh sang tiếng Anh và Lâm Cúc cùng anh Từ Vũ đã chuyển tải tài liệu vượt núi cao sang tiếng Việt, nuôi dưỡng ước mơ . Thời điểm này nhóm Cây Lương thực chúng tôi có Trần Ngọc Ngoạn Hoàng Kim Xuan Ky Nguyen, Trần Văn Mạnh, Hoang Long, BM Nguyễn, Nguyễn Thị Trúc Mai … và nhiều bạn khác đã tự nguyện dấn thân vào cuộc chiến đấu mới

Chuyện tình Phong Nha

Dòng Sông Quê Hương CD1
Dòng Sông Quê Hương CD5

Nguồn: Hình ảnh và tuyệt phẩm ca khúc quê hương Quảng Bình trên You Tube

DAYVAHOC. Đi như một dòng sông là tuyệt phẩm của nhà văn Paulo Coelho do nhà văn Từ Vũ phỏng dịch và nhà thơ Nguyễn Lâm Cúc giới thiệu. Tác phẩm viết về kinh nghiệm leo núi mà thực ra không chỉ và không phải nói về leo núi. Đó là một kho báu vô giá về những kỹ năng và minh triết khôn ngoan để vượt qua các lực cản và đi đến thành công. Nghệ thuật leo núi được diễn đạt đi như một dòng sông với một chuỗi việc chính: Lựa chọn núi thích hợp mà bạn muốn leo/ Biết cách để đi tới trước ngọn núi/ Học những điều mà người trước đã làm/ Nhìn thật gần thì những sự nguy hiểm có thể kiểm soát được/ Cảnh vật thay đổi hãy tận hưởng/ Hãy coi trọng thân thể/ Hãy tôn trọng thần trí/ Chuẩn bị để đi xa hơn nữa/ Hãy hân hoan khi tới đích/ Làm một lời hứa/ Trao truyền lại kinh nghiệm. Hồ Chí Minh có bài leo núi: “Đi đường biết mấy gian lao/ Núi cao rồi lại núi cao trập trùng/ Núi cao lên đến tận cùng/ Thu vào tầm mắt muôn trùng giang san” (Ảnh: Leo núi của Hoàng Tố Nguyên và ảnh Đi như một dòng sông của Hoàng Kim).

LỰA NGỌN NÚI MÀ BẠN MUỐN LEO

Đừng nên để những lời tường thuật của những người khác hướng dẫn bạn. Những người nói với bạn ” ngọn núi này đẹp nhất ” hay ” ngọn núi kia dễ leo nhất” sẽ làm cho bạn tổn hao nhiều năng lực và nhiệt tình khi bạn muốn đạt tới mục tiêu. Chính bạn là người duy nhất chịu trách nhiệm và phải chắc chắn tin tưởng vào điều mà bạn muốn thực hiện.

BIẾT CÁCH ĐỂ ĐI TỚI TRƯỚC NGỌN NÚI

Thông thường, người ta hay nhìn ngọn núi từ xa: đẹp, lý thú và đầy thử thách nhưng khi người ta thử tiến lại gần, chuyện gì sẽ xảy ra? Rất nhiều con đường lòng vòng dẫn tới đỉnh núi, rất nhiều cánh rừng ngăn trở bạn và mục tiêu của bạn, những chi tiết mà bạn nhìn thấy, đọc thấy trong bản đồ lại quá khó khăn trong thực tế. Chính vì thế, bạn hãy thử mọi đường, mọi nẻo, và rồi một ngày bạn sẽ nhận ra rằng mình đứng đối diện với cái đỉnh của ngọn núi mà bạn muốn leo lên được tới tận đỉnh.

HỌC NHỮNG ĐIỀU MÀ NGƯỜI TRƯỚC BẠN ĐÃ LÀM

Bạn tưởng rằng việc bạn làm là duy nhất chỉ mình bạn có mà thôi, nhưng thực ra, thế nào cũng có một người đã làm trước cả khi bạn mơ tưởng tới điều bạn dự định làm, và họ cũng đã để lại dấu vết giúp cho lối đi của bạn được dễ dàng hơn. Đấy chính là một đoạn đường, là trách nhiệm của chính bạn, nhưng đừng quên rằng học kinh nghiệm của người khác chính là sự giúp đỡ to lớn cho bạn.

NHÌN THẬT GẦN THÌ NHỮNG SỰ NGUY HIỂM CÓ THỂ KIỂM SOÁT ĐƯỢC

Khi bạn khởi sự leo núi, hãy lưu tâm đến những gì chung quanh bạn. Lẽ tất nhiên, những vực thẩm, những kẽ hở gần như khó có thể nhận ra. Những viên đá vô cùng bóng bảy vì mưa gió nhưng cũng lại rất trơn trợt như băng đá. Song nếu bạn biết được điểm mà bạn đặt chân vào, bạn sẽ nhận ra được những cái bẫy để biết được mà né tránh chúng.

CẢNH VẬT THAY ĐỔI, HÃY TẬN HƯỞNG

Điều chắc chắn là bạn phải có một mục tiêu rõ rệt trong đầu bạn: lên được tới tận đỉnh núi. Song, theo từng bước chân leo, người ta sẽ nhìn được rõ rệt hơn những cảnh vật, chẳng phải tốn kém gì nếu thỉnh thoảng bạn dừng chân lại để tận hưởng cảnh trí bao quanh. Mỗi một thước đã leo là mỗi dịp bạn có thể được nhìn xa hơn. Hãy lợi dụng những lúc này để khám phá những điều trước đây bạn chưa từng nhận ra được.

HÃY COI TRỌNG THÂN THỂ CỦA BẠN

Chỉ những ai biết điều chỉnh được cơ thể họ thì họ mới có thể xứng đáng thành công trong việc leo núi. Bạn có tất cả thời giờ mà cuộc đời dành cho bạn, hãy bước đều mà không cần phải đòi hỏi gì khác. Nếu như đi nhanh, bạn sẽ mệt mỏi và sẽ bỏ cuộc nửa chừng. Nếu bạn đi qúa chậm, đêm xuống, bạn sẽ bị lạc đường.

HÃY TÔN TRỌNG THẦN TRÍ CỦA BẠN

Đừng lập đi lập lại với chính bạn rằng ” Mình sẽ thành công .” Tâm thần của bạn đã biết điều này, điều mà bạn cần có là cống hiến cho lộ trình dài này để vượt lên. Sự ám ảnh chẳng hữu ích gì cho công cuộc tìm tòi chủ đích của bạn và cuối cùng sẽ làm bạn mất hứng thú. Tuy vậy cũng đừng nói đi nói lại rằng “qủa nhiên khó khăn hơn là mình nghĩ “, vì như vậy bạn sẽ làm hao tổn nội lực của chính bạn.

CHUẨN BỊ ĐỂ ĐI THÊM MỘT ĐOẠN NỮA.

Lộ trình dẫn tới đỉnh núi luôn dài hơn là bạn nghĩ. Đừng phủ nhận sự kiện này, lúc mình tưởng đã tới thì vẫn còn xa. Nhưng cũng như đã chuẩn bị cho điều này thì đâu thành vấn đề gì.

HÃY HÂN HOAN KHI BẠN ĐÃ TỚI ĐƯỢC ĐỈNH NÚI

Vui đùa, reo vang với bốn bề đất trời quanh bạn rằng bạn đã thành công. Hãy để ngọn gió trên cao kia (bởi lẽ ở trên cao luôn thường có gió) tẩy uế linh hồn bạn. Hãy để đôi bàn chân mệt mỏi của bạn được mát mẻ thoáng mồ hôi. Hãy mở rộng đôi mắt, vất bỏ bụi bậm bám trong tâm hồn bạn. Thực là một điều tuyệt diệu mà trước đó chỉ là một giấc mơ, một ảo tưởng xa vời, hiện tại đã nằm trong một phần cuộc đời bạn, bạn đã THÀNH CÔNG.

LÀM MỘT ĐIỀU HỨA

Bạn đã khám phá ra một sức mạnh mà chính bản thân bạn cũng không biết, hãy lợi dụng nó và nó với chính bạn rằng kể từ nay bạn sẽ xử dụng nó cho tới khi nào bạn còn hiện diện trong cuộc sống. Dành ưu tiên, hãy hưá hẹn với bạn rằng bạn sẽ khám tìm, chinh phục một ngọn núi khác nữa, rồi lao mình vào một chuyến phiêu lưu mới.

THUẬT LẠI CÂU CHUYỆN CỦA BẠN

Đúng vậy, hãy kể lại câu chuyện của bạn. Hãy đưa ra ví dụ mà bạn đã thực hiện. Nói với mọi người rằng tất cả đều CÓ THỂ ĐƯỢC và rồi những người khác cũng sẽ lại tự thấy có được lòng can đảm để ĐƯƠNG ĐẦU VỚI NHỮNG NGỌN NÚI CỦA CHÍNH HỌ.

(TheoNLC Blog)

xem tiếp: Hoa Đất của quê hương
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoa-dat-cua-que-huong/

Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Nhớ Người thời đông xuân

NHỚ NGƯỜI THỜI ĐÔNG XUÂN
Bạch Ngọc Hoàng Kim


Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay …

https://www.youtube.com/live/2Jg_aB2SIjk?feature=share

Việc chính thanh thận cần
Đường xuân đời quên tuổi
Giao mùa thời lá đỏ
Cây đời vận lộc xuân

Chính Ngọ đoán kinh Dịch
Tỉnh thức cùng tháng năm
A Na tìm được Ngọc
Chung sức trên đường xuân

*

CHUNG SỨC TRÊN ĐƯỜNG XUÂN
Hoàng Kim

Chung sức bao năm một chặng đường
Cuộc đời nhìn lại phúc lưu hương
Ngô khoai chẳng phụ dày công Viện
Lúa sắn chuyên tâm mến nghĩa Trường
Dạy học tinh hoa giàu trí tuệ
IT sáng tạo ngọc văn chương
Ai chọn đường xuân duyên vẹn kiếp
Đời theo lối chính đức muôn phương

*

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
Hoàng Tố Nguyên Việt Nam 黄素源 (越南)
Dạy và học tiếng Trung trực tuyến
HTN https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-to-nguyen-tieng-trung/ và
bài học mới mỗi ngày, mời đọc tại https://hoangkimvn.wordpress.com/tag/hoang-to-nguyen-tieng-trung

Tập huấn tiếng Trung nâng cao
Video link HTN Hanyuxuexi https://youtu.be/qGV8ldUGzMA
Giáo dục Hán ngữ ở Nhật Bản quá khứ hiện tại tương lai

Ban mai chào ngày mới
Chung sức trên đường xuân https://youtu.be/CiQkD3uTX-s

Tỉnh thức cùng tháng năm
Chung sức trên đường xuân https://youtu.be/sO_J-WIa54s
Thành tâm với chính mình https://youtu.be/t-el5mFWkjU
Tỉnh thức cùng tháng năm https://youtu.be/mSzIWUIDSP4

Chỉ tình yêu ở lại Bình Minh An Ngày Mới https://youtu.be/0wjDC5NJV0g
Tuổi thơ nhiều niềm vui https://youtu.be/q7NuWc50-CY
Việt Nam lịch sử 4000 năm https://youtu.be/Kk0tFs6TcGU
Cham pa dã sử truyện  https://youtu.be/GIqjqDZ2HqA
Nước Lào dã sử truyện  https://youtu.be/No8pc8kt_Oo

Xây dựng học liệu mở
VIỆT NAM HỌCTINH HOA越南社会经济和文化概述# HTNDẠY VÀ HỌC  #VietNamhochttps://hoangkimvn.wordpress.com#CNM365

NGUYỄN TRÃI KIỆT TÁC THƠ VĂN
Hoàng Kim

Bài thơ thần “Yên Tử “của Nguyễn Trãi “Non thiêng Yên Tử đỉnh kỳ phong. Trời mới ban mai đã rạng hồng. Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả. Nói cười lồng lộng giữa không trung…” (thơ Nguyễn Trãi trên Yên Tử, hình ảnh và cẩn dịch Hoàng Kim). Nguyễn Trãi đã có nhiều tôn vinh, nhưng như giáo sư Phan Huy Lê đã nhận xét trong bài “Nguyễn Trãi, 560 năm sau vụ án Lệ Chi Viên“: ”Cho đến nay, sử học còn mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu và hành động lợi dụng việc từ trần đột ngột của vua Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giá họa dựng nên vụ án kết liễu thảm khốc cuộc đời của một anh hùng vĩ đại, một nữ sĩ tài hoa, liên lụy đến gia đình ba họ. Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hi vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng. Với thời gian và những công trình nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà sử học, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà văn hoá…, lịch sử càng ngày càng làm sáng rõ và nâng cao nhận thức về con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, về những công lao, cống hiến, những giá trị đích thực của ông trong lịch sử cứu nước và dựng nước, lịch sử văn hoá của dân tộc”. Dẫu vậy, trong tất cả những tư liệu lịch sử để lại thì tư liệu sáng giá nhất, rõ rệt nhất, sâu sắc nhất lại chính là Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn: “Họa phúc có nguồn đâu bổng chốc, Anh hùng để hận mãi nghìn năm” “Số khó lọt vành âu bởi mệnh. Văn chưa tàn lụi cũng do trời “. “Yên Tử” “Ngôn chí,” “Quan hải”, “Oan than” xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-trai-kiet-tac-tho-van/https://hoangkimvn.wordpress.com/2023/01/30/hoang-to-nguyen-tieng-trung-65/

#CLTVN CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM
Hoàng Long, Hoàng Kim (chủ biên) và đồng sự
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong

Bài viết mới (đọc thêm, ngoài giáo trình, bài giảng)

Bảo tồn và phát triển sắn
Cách mạng sắn Việt Nam
Chọn giống sắn Việt Nam
Chọn giống sắn kháng CMD
Chọn giống sắn kháng CWBD
Bạch Mai sắn Tây Nguyên
Giống sắn KM419 và KM440
Mười kỹ thuật thâm canh sắn
Sắn Việt bảo tồn phát triển
Sắn Việt Lúa Siêu Xanh
Sắn Việt Nam bài học quý
Sắn Việt Nam sách chọn
Sắn Việt Nam và Howeler
Sắn Việt Nam và Kawano
Sắn Việt và Sắn Thái
Quản lý bền vững sắn châu Á
Cassava and Vietnam: Now and Then

Lúa siêu xanh Việt Nam
Giống lúa siêu xanh GSR65
Giống lúa siêu xanh GSR90
Gạo Việt và thương hiệu
Hồ Quang Cua gạo ST
Cơm Niêu Vàng Gạo Đông A
Con đường lúa gạo Việt
Chuyện cô Trâm lúa lai
Chuyện thầy Hoan lúa lai
Lúa C4 và lúa cao cây
Lúa sắn Cămpuchia và Lào
Lúa sắn Việt Châu Phi
Lúa Việt tới Châu Mỹ

Giống ngô lai VN 25-99
Giống lạc HL25 Việt Ấn


Giống khoai lang Việt Nam
Giống khoai lang HL518
Giống khoai lang HL491
Giống khoai Hoàng Long
Giống khoai lang HL4
Giống khoai Bí Đà Lạt

Việt Nam con đường xanh
Việt Nam tổ quốc tôi
Vườn Quốc gia Việt Nam
Nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp sinh thái Việt
Nông nghiệp Việt trăm năm
IAS đường tới trăm năm
Viện Lúa Sao Thần Nông
Hoàng Thành đến Trúc Lâm
Ngày Hạnh Phúc của em
Có một ngày như thế

Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi
Trường tôi nôi yêu thương
IAS đường tới trăm năm
Sóc Trăng Lương Định Của
Thầy lúa Bùi Bá Bổng
Thầy Quyền thâm canh lúa
Thầy nghề nông chiến sĩ
Thầy Norman Borlaug
Thầy Luật lúa OMCS OM
Thầy Tuấn kinh tế hộ
Thầy Tuấn trong lòng tôi
Thầy Vũ trong lòng tôi
Thầy lúa xuân Việt Nam
Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc
Thầy bạn Vĩ Dạ xưa
Thầy là nắng tháng Ba
Thầy Dương Thanh Liêm
Thầy Hiếu Đêm Giáng Sinh
Thầy Nguyễn Hoàng Phương
Thầy Nguyễn Lân Dũng
Thầy nhạc Trần Văn Khê
Thầy ơi
Thắp đèn lên đi em
Thầy Tuệ Trung Thượng Sĩ
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Lê Quý Đôn tinh hoa
Trần Công Khanh ngày mới
Phạm Trung Nghĩa Viện Lúa
Phạm Quang Khánh Hoa Đất
Phạm Văn Bên Cỏ May

24 tiết khí nông lịch
Nông lịch tiết Lập Xuân
Nông lịch tiết Vũ Thủy
Nông lịch tiết Kinh Trập
Nông lịch tiết Xuân Phân
Nông lịch tiết Thanh Minh
Nông lịch tiết Cốc vũ
Nông lịch tiết Lập Hạ
Nông lịch tiết Tiểu Mãn
Nông lịch tiết Mang Chủng
Nông lịch tiết Hạ Chí
Nông lịch tiết Tiểu Thử
Nông lịch tiết Đại Thử
Nông lịch tiết Lập Thu
Nông lịch Tiết Xử Thử
Nông lịch tiết Bạch Lộ
Nông lịch tiết Thu Phân
Nông lịch tiết Hàn Lộ
Nông lịch Tiết Sương Giáng
Nông lịch tiết Lập Đông
Nông lịch tiết Tiểu tuyết
Nông lịch tiết Đại tuyết
Nông lịch tiết giữa Đông
Nông lịch Tiết Tiểu Hàn
Nông lịch tiết Đại Hàn

Nhà sách Hoàng Gia

Video tài liệu tham khảo chọn lọc :

Cây Lương thực Việt Nam Chuyển đổi số nông nghiệp, Học không bao giờ muộn Cách mạng sắn Việt Nam https://youtu.be/81aJ5-cGp28; Mười kỹ thuật thâm canh sắn : Cassava in Vietnam Save and Grow 1Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 2Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 3Daklak; Giống sắn KM410 và KM440 ở Phú Yên https://youtu.be/XDM6i8vLHcI; Giống sắn KM419, KM440 ở Đăk Lăk https://youtu.be/EVz0lIJv2N4; Giống sắn KM419, KM440 ở Tây Ninh https://youtu.be/XMHEa-KewEk; https://youtu.be/kjWwyW0hkbU; https://youtu.be/9mZHm08MskE; Trồng sắn KM419, KM98-5, KM98-1 ở Căm pu chia https://youtu.be/TpTIxv9LaFQ; Ngăn chặn lây lan CWBD bệnh chổi rồng ở Căm pu chia https://youtu.be/0gNY0KZ2nyY; Trồng khoai lang ở Hàn Quốc https://youtu.be/J_6xW3j47Sw; Trồng lúa đặc sản ở Trung Quốc https://youtu.be/rJSZfrJFluw; Trồng khoai lang tím ở Trung Quốc https://youtu.be/0CHOG3r64xs;Trồng và chế biến khoai tây ở Trung Quốc https://youtu.be/0gNY0KZ2nyYv; Làm măng ngọt giá cao ở Trung Quốc https://youtu.be/i1oFFqFMlvI; Nghệ thuật làm vườn yêu thích, dễ làm, hiệu quả https://youtu.be/kPIzBRPezY4https://youtu.be/_jUJrIWp2I4; Trồng ngô ở vùng cao Trung Quốc https://youtu.be/bZsfEwr9i6I

#Thungdung #CNM365 #hoangkimlong
NGÀY MỚI LỜI YÊU THƯƠNG
Hoàng Kim

Khoác thêm tấm áo trời se lạnh
Đông tàn xuân đến đó rồi em
Phúc hậu mỗi ngày chăm việc thiện
Yêu thương xa cách hóa gần thêm

New day words of love

Wearing sweater when it’s rather cold.
Winter comes to an end ,and early Spring is coming.
Everyday, we care good deeds kindly.
Distant love turn out to be close together.

HK

LỜI KHUYÊN THÓI QUEN TỐT
Bài học vàng cho con
Hoàng Kim

Học không bao giờ muộn
Dạy con phải kịp thời
Thương cháu cần dạy sớm
Thói quen tốt con ơi.

Giấc ngủ cần trước nhất
Sức khỏe nhờ ngủ ngon
Thiếu ngủ thường mệt mỏi
Ngủ giúp não phục hồi.

Vận động nhiều một chút
Đi bộ và dạo chơi
Cần đứng lên ngồi xuống
Sau mỗi giờ làm bài

Ăn đủ chất dinh dưỡng
Thức ăn nóng sạch tươi
Thích ăn cá rau quả
Không thích thứ nguội thiu

Ngủ vận động và ăn
Là thói quen lành mạnh
Sống nơi không gian xanh
Công việc chọn an lành.

Thói quen tốt luyện tập
Buông bỏ điều hư vinh.

Good habit advice
Hoàng Kim

Learn never late
Teaching children must be timely
I love teaching early
Good habits, baby.

Sleep needs first
Health thanks to good sleep
Lack of sleep often tired
Sleep helps the brain recover.

Move a little bit
Walking and walking
Need to stand up and sit down
After every hour of doing the lesson

Eat enough nutrients
Hot and fresh food
Love to eat vegetables and fish
Do not like cool things

Sleep movement and eating
Healthy habits
Living in green space
Work choose peace.

Practice good habits
Let go of the bad thing.

songdongnai

CUỐI DÒNG SÔNG LÀ BIỂN
Hoàng Kim

Nhớ lời dặn Đức Nhân Tông
“Quay về tự thân không tìm đâu khác”
Lev Tonstoy minh triết mỗi ngày 
“Hãy luôn hạnh phúc và sung sướng”

Cuối dòng sông là biển
Cuối cuộc tình là yêu thương
Đức tin phục sinh thánh thiện
Yêu thương mở cửa thiên đường.

Hôm nay tôi nhận được thư của một bạn sinh viên đã ra Trường. Bạn ấy đọc Facebook và thích các bài viết CNM365 Tình yêu cuộc sống của tôi. Bạn ấy hiểu Dạy và học để làm không chỉ trao truyền tri thúc mà còn thắp lên ngọn lửa. Bạn ấy thấu hiểu lời bài giảng mà chúng tôi luôn nhắc đi nhắc lại: “Mục đích sau cùng của dạy và học là thấu hiểu bản chất sự vật, có lời giải đúng và làm được việc” “Cái gốc của sự học là học làm người”. Bạn ấy hỏi như sau: “Thưa thầy! Con là Vương, lớp Nông học 14 Ninh Thuận. Con may mắn được biết thầy qua những bài giảng hay của Bộ môn Cây Lương thực Rau Hoa Quả. Con xin lỗi vì những kiến thức thầy truyền dạy con đã quên đi ít nhiều. Nhưng cái con vẫn còn nhớ và vẫn còn cảm nhận được mỗi khi con suy nghĩ và bắt gặp hình ảnh của thầy trên Facebook đó là thầy cho con cảm giác an lành, gần gũi và ấm áp nữa. Con đã đi làm nhưng vẫn băn khoăn về định hướng tương lai của mình. Con không rõ sứ mệnh cuộc đời con là gì? Con không biết là mình phải tự suy nghĩ về cái sứ mệnh đó hay phải trải qua các sự kiện trong đời rồi mình mới nhận ra sứ mệnh đó. Con cũng muốn được biết Con người sinh ra trên đời này để làm gì? Có phải họ sinh ra để rồi chết đi hay còn ý nghĩa nào khác nữa. Con biết thầy rất bận nhưng rất mong được thầy giải đáp. Nếu thầy chưa có thời gian thì con sẽ chờ để được thầy giải đáp ạ! Con mong thầy có nhiều sức khoẻ!” . Tôi đã trả lời “Tuyệt vời Dép Chính Chủ (là nick name của bạn ấy) Thầy sẽ sớm trả lời câu bạn hỏi. Ý nghĩa cuộc sống, bạn đọc thêm Minh triết sống phúc hậu, CNM365 Tình yêu cuộc sống

Cuối dòng sông là biển là câu chuyện dài cho những ai thích nhìn lại ý nghĩa cuộc đời, những giá trị di sản lắng đọng, nhìn lại sự được mất thành bại trong đời mình, tìm về giá trị đích thực của năm tháng đi qua chỉ tình yêu ở lại, tìm về cội nguồn lịch sử văn hóa dân tộc. Chúng ta công tâm nhìn lại những giá trị lịch sử văn hóa di sản: 1. Phục sinh giữa tối sáng; 2. Dạo chơi non nước Việt; 3. Đi như một dòng sông; 4. Nam tiến của Người Việt. 5. Đoàn tụ đất phường Nam. “Nhớ lời dặn Đức Nhân Tông . “Quay về tự thân không tìm đâu khác”. Lev Tonstoy minh triết mỗi ngày .“Hãy luôn hạnh phúc và sung sướng”. Cuối dòng sông là biển. Cuối cuộc tình là yêu thương . Đức tin phục sinh thánh thiện.Yêu thương mở cửa thiên đường. (thơ Hoàng Kim). Bạn hãy đọc kỹ Trúc Lâm Trần Nhân Tông; Lời dặn của Thánh Trần, để chứng ngộ thấu hiểu giá trị của các lời khuyên khôn ngoan tại nhiều cuộc đời danh nhân và những tinh hoa tác phẩm lớn. Cuối dòng sông là biển.

Văn Miếu Trấn Biên là nôi hội tụ gần sông Đồng Nai nơi cù lao Phố Biên Hòa. Đó là một điểm hẹn phục sinh của người Việt trên hành trình Nam tiến. Lớp sinh viên khóa 2 Trồng trọt, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh chúng tôi đã về nơi đây dâng hương ghi ơn những người mở đường sống cho dân tộc Việt, tạo dựng nên nơi này.

Đời tôi xuôi phương Nam, thuận theo tự nhiên, lắng đọng ân tình đặc biệt của 5 lớp bạn hữu lớp trồng trọt khóa 4, lớp trồng trọt khóa 10 của Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc (đó cũng là Trường Đại học Nông Lâm Huế và Đại học Nông Lâm Bắc Giang ngày nay), với ba lớp 2a, 2b, 2c khóa 2 Trồng trọt của Trường Đại học Nông nghiệp 4 là Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện tại. Tôi may mắn đã đi như một dòng sông; theo đường sống của dân tộc đang đi. Sự trãi nghiệm hạnh phúc cá nhân thực ra nằm trong số phận đường sống của dân tộc. Cuối dòng sông là biển. Đó là giá trị lắng đọng; xem tiếp Nam tiến của người Việt

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Secret Garden, Bí mật vườn thiêng 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter


Hạnh phúc khát khao xanh

HẠNH PHÚC KHÁT KHAO XANH
Kim Hoàng

KHÔNG chuông nhỏ reo ngân
Hạc vàng khô chén ngọc
Không một vì sao đêm
Tim soi đường tiến bước

KHÔNG một trời khát vọng
Nước mắt chảy vào trong
Tận tâm chăm mầm sống
Thao thức mong tiếng lòng.

KHÔNG một cơn mưa nhỏ
Mồ hôi làm cơn mưa
Đời buông tay chẳng dễ
Trời xanh không phụ lòng

KHÁT khao xanh ước mơ
Đất cảm người thương mến
#Thungdung tròn giấc ngủ
Hoàng Thành rừng Trúc Lâm

NIỀM HẠNH PHÚC
Lưu Đỗ

một cơn mưa nhỏ
Đi qua, cỏ ướt mềm
Có một ngọn đèn đêm
Soi cho thuyền lướt sóng.

một áng mây bay
Ru lời ca cùng gió
Giọt sương bên lá cỏ
Thao thức nghe đêm trôi .

một dòng sông chảy
Phù sa vun đôi bờ
Nước xuôi về biển lớn
Nỗi niềm xanh ước mơ .

TRỜI giữa hè gió lộng
Duyên dáng đàn cò bay
Có một niềm hạnh phúc
Ta ôm trọn tháng ngày .

ĐỢI MƯA

Khát khao ngóng sớm chờ trưa
Sắn trồng nửa tháng đợi mưa cháy lòng
Mía xơ xác khắp cánh đồng
Đất rang rẫy nóng, trời nồng nực oi.

Lúa non ruộng nứt nẻ rồi
Suối khô, hồ cạn, người người ngóng trông
Tiếng ve ngằn ngặt trưa nồng
Mấy khi tháng bảy lại mong mưa rào?

Thương mình, thương kẻ khát khao
Mưa ơi, ngóng đợi lặn vào giấc mơ.

*
Đời gừng cay muối mặn
Cha chăm tưới mỗi ngày
Mẹ siêng từng mầm sống
Con một đời rưng rưng

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hanh-phuc-khat-khao-xanh/

NẮNG MỚI
Hoàng Kim

Chín điều lành hạnh phúc
Mặt trời và thiên nhiên
Môi trường sống an lành
Gia đình thầy bạn quý
Minh triết cho mỗi ngày
An nhiên và phúc hậu
Thức ngủ cần hài hòa
Lao động và nghỉ ngơi
Gieo lành thì gặt thiện
Yêu thương trong tầm tay

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nang-moi-1-e1589670316958.jpg

NẮNG MỚI
Hoàng Kim

Mưa ướt đất lành nắng mới lên
Đêm thương sương rụng nhắc ngoài hiên
Núi trùm mây khói trời chất ngất
Ngày tháng thung dung nhớ bạn hiền

Ban mai tỉnh thức chim kêu cửa
Hoa rắc bên song đẫm nước non
Ô hay gió mát hương trời biển
An giấc đêm ngon chí vẫn nồng …

Bảo tồn và phát triển sắn

KHÁT KHAO XANH
Hoàng Kim

Khát khao xanh
Trời xanh
Biển xanh
Cây xanh
Con đường xanh
Giấc mơ hạnh phúc.

mầm xanh sự sống
ngôi sao may mắn
một niềm tin hi vọng
Giấc mơ lành yêu thương

NGÔI SAO MAI CHÂN TRỜI
Hoàng Kim

Em đọc lại Nhà Giả Kim em nhé
Bài ca thời gian câu chuyện cuộc đời
Một giấc mơ Người đi tìm kho báu
Theo ước mơ mình tới chốn xa xôi …

Bậc tiên tri biết nhìn sâu khát vọng
Khuyến khích em theo mơ ước tuổi hoa
Đi tới cuối con đường hạnh phúc
Hãy là chính mình, ta chính là ta.

Em thấu hiểu có ngôi sao may mắn
Luôn bên em lấp lánh phía chân trời
Nơi bảng lãng thơ tình Hồ núi Cốc
Giấc mơ đưa ta về cổ tích xa xôi  …

Lên đường đi em
Bình minh đã rạng
Vui bước tới thảnh thơi
Vui đi dưới mặt trời!

Ta hãy chăm như con ong làm mật
Cuộc đời này là hương hoa.
Ngày mới yêu thương vẫy gọi,
Ngọc cho đời vui khỏe cho ta.

Hoàng Kim

XUÂN SỚM NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

Trời trong vắt và xuân gần gũi quá
Đóa hoa xuân lặng lẽ nở bên thềm
Giọt sương ngọc lung linh trên lộc nõn
Đất giao hòa xuân sớm hóa mênh mông.

XUÂN SỚM
Hoàng Kim

Sớm mai trời lạnh giá
Ngắm cảnh nhớ Đào Công
Chuyển mùa trời chưa ấm
Tuyết xuân thương người hiền

Đêm trắng và Bình Minh
Thung dung chào ngày mới
Phúc hậu sống an nhiên
Đông qua rồi xuân tới.

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay

NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

hứng mật đời
thành thơ
việc nghìn năm hữu lý
trạng Trình

đến Trúc Lâm
đạt năm việc lớn Hoàng Thành
đất trời xanh
Yên Tử …

(*) Hoàng Kim họa đối
THUYỀN ĐỘC MỘC
Trịnh Tuyên

Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
– độc mộc!

Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…‘ (*)

LỘC XUÂN
Hoàng Kim


Trời xanh trao nắng lúa vàng ưa.
Xuân tới đông qua tiết trở mùa.
Ngày mới thêm vui rau hoa quả.
Hoa Người Hoa Đất thắm ước mơ.

YÊN TỬ TRẦN NHÂN TÔNG
Ngọc Phương Nam

Lên non thiêng Yên Tử
Trúc Lâm Trần Nhân Tông
Lời dặn của Thánh Trần
Thầy Tuệ Trung Thượng Sĩ

Hiểu ‘sách nhàn đọc giấu
Biết ‘câu có câu không
Nghê Việt am Ngọa Vân

Tảo Mai nhớ Nhân Tông

Ân tình đất phương Nam
Nhân Tông Đêm Yên Tử
Chuyện cổ tích người lớn
Hoa Đất thương lời hiền
Yên Tử Trần Nhân Tông,

Câu chuyện ảnh tháng Ba

CHUNG SỨC TRÊN ĐƯỜNG XUÂN
Hoàng Kim


1

Chung sức bao năm một chặng đường
Cuộc đời nhìn lại phúc lưu hương
Ngô khoai chẳng phụ dày công Viện
Lúa sắn chuyên tâm mến nghĩa Trường
Dạy học tinh hoa giàu trí tuệ
IT sáng tạo Ngọc văn chương
Ai chọn đường xuân duyên vẹn kiếp
Đời theo lối chính đức muôn phương

2

Thầy bạn nhà nông mến dặm đường
Tình yêu cuộc sống đức lưu hương
Trình, Đào thanh thản nương thời vận
, Nguyễn thung dung nhẹ đoạn trường
Lúa sắn ngô khoai yêu khoa học
Mai lan cúc trúc thú văn chương
Tâm bình minh triết thành công quả
An vui trí sáng đức muôn phương

Kim_in_Africa
KiminCIATColombia2003
CIATIndiaVietnam
SanVietNamketnoichauPhi2
Nigeria and Vietnam far but close 2

Lúa sắn Việt châu Phi , bài học thực tiễn chưa bao giờ cũ

NGÔI SAO MAI CHÂN TRỜI
Hoàng Kim

Em đọc lại Nhà Giả Kim em nhé
Bài ca thời gian câu chuyện cuộc đời
Một giấc mơ Người đi tìm kho báu
Theo ước mơ mình tới chốn xa xôi …

Bậc tiên tri biết nhìn sâu khát vọng
Khuyến khích em theo mơ ước tuổi hoa
Đi tới cuối con đường hạnh phúc
Hãy là chính mình, ta chính là ta.

Em thấu hiểu có ngôi sao may mắn
Luôn bên em lấp lánh phía chân trời
Nơi bảng lãng thơ tình Hồ núi Cốc
Giấc mơ đưa ta về cổ tích xa xôi  …

Lên đường đi em
Bình minh đã rạng
Vui bước tới thảnh thơi
Vui đi dưới mặt trời!

Ta hãy chăm như con ong làm mật
Cuộc đời này là hương hoa.
Ngày mới yêu thương vẫy gọi,
Ngọc cho đời vui khỏe cho ta.

Hoàng Kim

XUÂN SỚM NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

Trời trong vắt và xuân gần gũi quá
Đóa hoa xuân lặng lẽ nở bên thềm
Giọt sương ngọc lung linh trên lộc nõn
Đất giao hòa xuân sớm hóa mênh mông.

XUÂN SỚM
Hoàng Kim

Sớm mai trời lạnh giá
Ngắm cảnh nhớ Đào Công
Chuyển mùa trời chưa ấm
Tuyết xuân thương người hiền

Đêm trắng và Bình Minh
Thung dung chào ngày mới
Phúc hậu sống an nhiên
Đông qua rồi xuân tới.

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay

NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

hứng mật đời
thành thơ
việc nghìn năm hữu lý
trạng Trình

đến Trúc Lâm
đạt năm việc lớn Hoàng Thành
đất trời xanh
Yên Tử …

(*) Hoàng Kim họa đối
THUYỀN ĐỘC MỘC
Trịnh Tuyên

Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
– độc mộc!

Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…‘ (*)

LỘC XUÂN
Hoàng Kim


Trời xanh trao nắng lúa vàng ưa.
Xuân tới đông qua tiết trở mùa.
Ngày mới thêm vui rau hoa quả.
Hoa Người Hoa Đất thắm ước mơ.

YÊN TỬ TRẦN NHÂN TÔNG
Ngọc Phương Nam

Lên non thiêng Yên Tử
Trúc Lâm Trần Nhân Tông
Lời dặn của Thánh Trần
Thầy Tuệ Trung Thượng Sĩ

Hiểu ‘sách nhàn đọc giấu
Biết ‘câu có câu không
Nghê Việt am Ngọa Vân

Tảo Mai nhớ Nhân Tông

Ân tình đất phương Nam
Nhân Tông Đêm Yên Tử
Chuyện cổ tích người lớn
Hoa Đất thương lời hiền
Yên Tử Trần Nhân Tông,

Câu chuyện ảnh tháng Ba

CHUNG SỨC TRÊN ĐƯỜNG XUÂN
Hoàng Kim


1

Chung sức bao năm một chặng đường
Cuộc đời nhìn lại phúc lưu hương
Ngô khoai chẳng phụ dày công Viện
Lúa sắn chuyên tâm mến nghĩa Trường
Dạy học tinh hoa giàu trí tuệ
Chuyển giao chuyên nghiệp khiếu văn chương
Người chọn vãng sanh vui một cõi
Ai theo cực lạc đức muôn phương

2

Thầy bạn nhà nông mến dặm đường
Tình yêu cuộc sống đức lưu hương
Trình, Đào thanh thản nương thời vận
, Nguyễn thung dung nhẹ đoạn trường
Lúa sắn ngô khoai yêu khoa học
Mai lan cúc trúc thú văn chương
Tâm bình minh triết thành công quả
An vui trí sáng đức muôn phương

Kim_in_Africa
KiminCIATColombia2003
CIATIndiaVietnam
SanVietNamketnoichauPhi2
Nigeria and Vietnam far but close 2

Lúa sắn Việt châu Phi , bài học thực tiễn chưa bao giờ cũ.

HoacuaDat999

HOA CỦA ĐẤT

Hoàng Kim

Bao năm Trường Viện là nhà
Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương
Một đời người một rừng cây
Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng…

NHÀ TÔI

(My Home, Hoàng Kim)

Đường xuân đời quên tuổi
Giấc mơ lành yêu thương
Nhà tôi chim làm tổ
Xuân sớm Ngọc Phương Nam

DSC00743

HẠNH PHÚC KHÁT KHAO XANH. Hoàng Kim Tôi đang đọc bài thì em chạy vào: “Nấm ngon nhà mình nhiều quá ! kín cả dưới gốc bồ đề và vườn mai trước ngõ. Anh ra chụp ảnh đi, đẹp quá!” Tôi chạy ra. Trời, cơ man là nấm ngon trắng xóa đất. Đúng là nhà có lộc! Chúng tôi trồng nhiều cây bóng mát, không săn bắn nên Nhà tôi chim làm tổ Xuân sớm Ngọc Phương Nam và dưới gốc cây có nấm ngon để ăn. Tôi gọi nấm ngon và người hiền là Hoa của Đất. Ai ao ước những chuyện cao siêu, chúng tôi thì ao ước sự bình an, yêu thương, làm người hiền “người ta la hoa đất” và có nấm ngon để chén… Người hiền là Hoa Đất.

DSC00738
DSC00734
DSC00736
DSC00739

Ảnh nấm ngon vườn nhà ở đây

NhaHoangKim

Số nhà 80, khu Trung tâm xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365 bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) -Thanh Thúy
Quê Hương saxophone hay nhất của Trần Mạnh Tuấn
Ban Mai; Chỉ tình yêu ở lại
Bài ca thời gian
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Vui đến chốn thung dung

NHỚ RƯỢU NÚI BẠN HIỀN
Hoàng Kim


Ngày đầu xuân nhớ ruộng
Thương rượu núi bạn hiền
Thèm thái dương đồng rộng
Giấc mơ lành mênh mông …

Chuyện ngày này năm xưa
VUI ĐẾN CHỐN THUNG DUNG
Hoàng Kim


Người rất muốn đi về nơi tịch lặng
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền
Ta đến chốn thung dung tìm hoa lúa
Rong chơi đường trần sống giữa thiên nhiên.

Tâm thanh thản buồn vui cùng nhân thế
Đời Đạo thịnh suy sương sớm đầu cành
Lòng hiền dịu và trái tim nhẹ nhõm
Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt (*)
Trăng rằm xuân lồng lộng bóng tri âm
Người tri kỷ cùng ta và năm tháng.
Giác Tâm, ta về còn trọn niềm tin.

Xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/vui-den-chon-thung-dung/

CHÙA BỬU MINH 
Thích Giác Tâm

Chùa Bửu Minh, xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai đặt đá trùng tu lại từ năm 2004, những năm đó chúng tôi còn khỏe, phật sự nào chúng tôi cũng làm, không hề từ chối. Các vị lãnh đạo thủy điện Sông Đà luôn mời chúng tôi làm lễ cầu siêu trong những lần có công nhân tử nạn, và cầu an đầu năm. Nhiều năm như thế Chùa Bửu Minh và thủy điện Sông Đà luôn gắn kết với nhau.

Sau mỗi khóa lễ cầu an, cầu siêu chúng tôi xin các anh hiến tặng cho chúng tôi xi măng, nhờ vậy mà ngôi chùa Bửu Minh từng bước xây dựng hoàn thành.

Các vị lãnh đạo Sông Đà lớn tuổi nay đã về hưu, còn tôi thì quá tuổi hưu nhưng vẫn còn lao động nhọc nhằn.

Đăng lại bài viết này để cảm ơn các vị lãnh đạo Sông Đà, và để nhớ lại một thời làm đạo có rất nhiều niềm vui, dấn thân không nề hà gian khổ.

TGT

—————————

DÒNG SÔNG SÊ SAN ƠI !
Thích Giác Tâm

“Đầu năm đứng trên dòng sông Sê San, tôi đã ngắm nhìn sông và tôi đã thấy như thế. Rừng đại ngàn đã ngã gục xuống, dòng sông mênh mang đẹp như một dải lụa trắng của các đại sư Tây Tạng, Ấn Độ quấn choàng cổ, bắt nguồn từ các đỉnh núi cao của núi rừng Ngọc Linh tỉnh Kon Tum băng qua đồi núi chập chùng của hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai để rồi chảy qua biên giới Campuchia”.

Sông ơi !

Chảy đi sông ơi ! Là lời của một bài hát. Đó là tiếng kêu thảng thốt của con người khi đứng trên bờ của dòng sông. Sông đã không sống đời của sông nữa, mà sông đã sống theo cách mà con người muốn nó sống. Ngày xưa sông vô tư , hồn nhiên sống, khi lên ghềnh, khi xuống thác, khi buông thư chầm chậm nhởn nhơ như người vô sự ngắm mây bay, xem hoa nở, lắng nghe tiếng chim hót. Nhưng rồi con người đã can thiệp vào, bắt sông phục vụ con người, mà nhu cầu của con người ở trong cõi người ta này thì vô hạn, vô chừng, không biết bao nhiêu là đủ. Thủy hỏa tương khắc, nhưng với trí tuệ con người biến nước thành hỏa, thành điện năng. Biến bao nhiêu cũng không đủ cung cấp, bởi con người không khác gì con khỉ Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký. Đào tiên quý là vậy mà hái trong thoáng chốc đã sạch vườn đào của Tây Vương Mẫu, mỗi trái chỉ cắn một miếng rồi quẳng đi, vứt bỏ. Quẳng đi không hề nuối tiếc, mà đào tiên mấy ngàn năm mới ra trái một lần ( điện rất quý có khác gì trái đào tiên đâu !).

Đầu năm đứng trên dòng sông Sê San, tôi đã ngắm nhìn sông và tôi đã thấy như thế. Rừng đại ngàn đã ngã gục xuống, dòng sông mênh mang đẹp như một dải lụa trắng của các đại sư Tây Tạng, Ấn Độ quấn choàng cổ, bắt nguồn từ các đỉnh núi cao của núi rừng Ngọc Linh tỉnh Kon Tum băng qua đồi núi chập chùng của hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai để rồi chảy qua biên giới Campuchia. Ngăn chặn dòng chảy, nhiều nhà máy thủy điện đã mọc lên, mọc lên để cung cấp năng lượng điện cho con người. Bên này nhà máy thủy điện nước mênh mang, bến bờ rộng thoáng vì nước tích tụ, đổ dồn nước về ba cái cống chạy tua bin phát điện. Bên kia nhà máy giòng sông khô cạn lởm chởm vô số đá, như những bãi đá ở bãi biển Quy Nhơn gần ngôi mộ Hàn Mặc Tử, so sánh cho dễ hình dung vậy thôi. Bãi đá ở biển Quy Nhơn, là đá sống, bởi có con người lân mẫn chăm sóc, cùng vui chơi ca hát quây phim chụp hình. Còn bãi đá ở giòng sông Sê San là bãi đá chết, đá chết bởi vì sông đã chết. Trong kinh Phật thường dùng từ:” Bên này bờ, bên kia bờ “. Bờ bên này là bờ sinh tử, vô minh, khổ đau. Bờ bên kia là giải thoát, an lạc, Niết Bàn. Đứng bên bờ sông Sê San tôi đã ngộ ra không có bờ bên này thì cũng không có bờ bên kia. Để tạo ra năng lượng điện con người phải trả giá cho cái được và cái mất. Được cho nhu cầu tiêu thụ của con người và mất cho môi trường sinh thái không còn cân đối, đảo lộn.

Câu kinh, tiếng chuông, tiếng mõ

Sáu năm qua mùa xuân nào thầy trò chúng tôi cũng có mặt, có mặt theo lời mời của các vị lãnh đạo ban điều hành dự án thủy điện Sê San 4. Chúng tôi không có huyền thuật ấn chú gì cao siêu, chỉ có tấm lòng đến với các vị lãnh đạo, với anh em công nhân đang treo mình trên ghềnh đá cheo leo, trên công trường hiểm nguy, mà tánh mạng như sợi chỉ mành treo chuông, sơ sẩy một chút là rơi xuống vực thẳm. Chiếc y vàng, câu kinh tiếng kệ trong những ngày đầu năm đã động viên an ủi anh chị em công nhân, đã đỡ nâng họ phần nào trong những ngày phơi nắng gió sương, hiểm nguy rình rập.

Tâm người lãnh đạo

Nhớ lại thời gian mới bắt đầu làm thủy điện, Thầy trò chúng tôi cùng với các vị trong ban quản lý làm một cái lán giữa rừng để cúng cầu an, và cúng cô hồn. Lán được làm bằng cây rừng và phủ bạt, cúng nửa chừng bỗng có một trận gió lớn nổi lên, tăng bạt bị gió thổi tung lên, một cây đòn tay trên cao rớt xuống, phóng xuống in tựa như phóng lao., hơn mười con người đang ngồi tụng kinh, vậy mà không trúng người nào, hú hồn hú vía. Đầu xuân năm nay thì vì vị chủ tịch HĐQT thủy điện từ Hà Nội vô cúng, cùng ngồi tụng kinh với thầy trò chúng tôi để cầu nguyện cho nhân viên công nhân xây dựng thủy điện một năm mới an lành, cúng xong tức tốc ra Hà Nội liền vì công việc quá bộn bề.

Cùng xây dựng, cùng hoàn thành

Nhà máy thủy điện Sê San xây dựng đúng sáu năm. Ngày 26 tháng 11 năm 2004 lễ khởi công, dự kiến ngày 30 tháng 06 năm 2010 là khánh thành. Kinh phí 5.600.000.000.000 đồng ( năm nghìn sáu trăm tỷ đồng ). Công suất 360 MW.

Nhà máy tọa lạc tại xã Iao, Huyện Iagrai, tỉnh Gia Lai, cách trung tâm thành phố Pleiku khoảng 70km.

Chùa Bửu Minh đặt đá xây dựng trùng tu năm 2004, đến hôm nay cũng tròn 6 năm, mái ngói chưa có điều kiện để sơn, nhưng cũng tạm hoàn thành. Trong nước chưa có ngôi chùa nào đặt tên là chùa Nhân Dân, hay có lẽ đã là của Nhân Dân rồi đặt thêm thừa . Thực sự chùa là của Nhân Dân, không của riêng ai . Chùa Bửu Minh xây dựng kinh phí rất lớn, tuy vậy không có một nguồn tiền nào khác, ngoài đồng tiền mồ hôi nước mắt của thập phương phật tử. Cứ mỗi đầu năm chúng tôi đem tấm lòng thành cầu nguyện cho công trường đang thi công, và sau đó các vị lãnh đạo ban quản lý dự án công đức lại năm mười tấn xi măng, cũng chỉ chừng đó thôi, không gì hơn nữa. Nửa bên kia trái đất bà con Phật tử, cũng hướng về quê hương đạo pháp, cũng nhín chút tịnh tài gởi về khi 20 khi 50 khi 100 đồng USD để chúng tôi mua xi măng. Người đi xa kẻ ở gần luôn nghĩ đến vai trò văn hóa của ngôi chùa trong nền văn hóa chung của dân tộc. Ngôi chùa mà ai đó cúng xây dựng trọn, ngôi chùa đó sẽ không vững bền với thời gian.

Người nằm xuống

Mỗi người một nghiệp khác nhau, nghề nghiệp có khi ta chọn, có khi cha mẹ chọn, có khi con Vua thì được làm Vua, con Sãi ở chùa thì quét lá đa. Nghề nào cũng có những khó nhọc khác nhau, nhưng tôi thấy nghề xây dựng thủy điện quả là nguy hiểm, chết chóc trong gang tất, sơ xẩy là mất mạng ngay. Nhiều năm qua thầy trò chúng tôi lúc nào cũng nghĩ đến Sông Đà, nghĩ đến ân tình kỷ niệm cưu mang nhau trong những giai đoạn khó khăn nhất, nghĩ đến anh chị em công nhân xây dựng thủy điện, luôn cầu nguyện mỗi khi có dịp. Nhưng rồi sinh tử vô thường, khó ai tránh khỏi. Sáu năm xây dựng bảy công nhân bị tai nạn lao động tại công trường thủy điện Sê San 4 đã ra đi. Đó là Kim văn Việt, sinh 1960. Nguyễn thị Thúy, sinh 1978. Lại thị Hà, sinh 1983, khi bị tại nạn mất đi, con gái của Hà mới biết đi lẩm đẩm. Lý Công Kim, sinh 1982, Hoàng văn Thôn sinh, sinh 1984. Dương văn Thực, sinh 1985, Bùi văn Cường sinh năm 1991. Bốn người công nhân này chưa lập gia đình. . Riêng trường hợp anh Bùi văn Cường, sáu năm xây dựng gian khổ hiểm nguy thì không sao, đến khi công trình sắp hoàn thành chuẩn bị bàn giao thì bị tử nạn tại công trường. Mỗi lần khấn nguyện cầu siêu cho các anh các chị lòng chúng tôi ngậm ngùi thương tiếc. Muốn có tiện nghi, nhu yếu cho đồng bào, cho cộng đồng, người công nhân ngành xây dựng thủy điện phải trả giá thật đắc, trả bằng sinh mạng của chính mình.

Chia tay.

Mỗi năm thầy trò chúng tôi gặp các anh các chị ngành xây dựng thủy điện ở Sê San một đôi lần. Và đầu xuân năm Canh Dần – 2010 các anh đã hoàn thành phần việc xây dựng của mình, giao lại cho đơn vị quản lý nhà máy và phát điện. Các anh lại tiếp tục ra đi: Ngành xây dựng thủy điện có câu:” Rừng xanh thì đến, đỏ ngói thì đi” Nơi nào có nhà máy thủy điện thì nơi đó có điện có đường ,có trường, có chợ và nhà cửa lợp ngói mọc lên san sát như nấm mọc lên trong những tháng mưa .

Buổi chia tay với mâm cơm chay còn lại rất nhiều, vì không khí oi bức, vì tình cảm sắp chia xa. Anh A, anh Quỹnh đại diện ban quản lý dự án thủy điện Sê San 4 với lời lẽ chúc tụng cảm ơn, nhà chùa Bửu Minh sáu năm qua đã đến với Sông Đà, đến với Sê San bằng tấm lòng, bằng câu kinh tiếng kệ cầu nguyện cho anh chị em công nhân đang thi công, giờ lại phải chia tay không biết bao giờ gặp lại. Chúng tôi cũng đứng lên đáp tạ:” Sáu năm chúng ta gặp nhau như những người bạn cùng đi chung một chuyến tàu, và tàu đã tới sân ga mọi người lại đi về mỗi hướng khác nhau. Mỗi người mỗi nghiệp khác nhau, nên hướng về đích đến cũng khác nhau, chúng tôi cũng chỉ biết nói lời cảm ơn, và trong cuộc sống hằng ngày mỗi khi dùng cái gì liên quan đến điện là chúng tôi luôn nhớ đến các anh, các chị, những con người đã đem tiện nghi cần thiết đến với tất cả chúng tôi. Khi dùng điện chúng tôi sẽ không hoang phí như Tề Thiên Đại Thánh ăn phá vườn đào tiên của Tây Vương Mẫu.

Pleiku, đầu năm 2010

Thích Giác Tâm

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Kim


Vui việc thiện lắng nghe kinh
Ngắm hoa mai nở giữ mình thảnh thơi
Mới hay mọi việc trên đời
Thung dung phúc hậu là nơi tìm về.

Vu Lan năm nay muộn
Tháng nhuận ngày vắn dài
Trời đất gió Bắc thổi
Vần vũ mây gió hoài

Nắng mưa chuyện của trời
An nhiên vui khỏe sống
Thung dung ngày tháng rộng
Mai sớm thành rừng thôi

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Trung Trực

Vất bỏ ngoài tai mọi chuyện đời
Lòng không vướng bận dạ an thôi
Ráng vun đạo đức tròn nhân nghĩa
Huệ trí bùng khai tỏa sáng ngời

Lòng lộng đêm nghe tiếng mõ kinh
Bao nhiêu ham muốn bỗng an bình
Tâm tư trãi rộng ngàn thương mến
Mong cả nhân loài giữ đức tin.

Thượng Đế kỳ ba gíáo đô đời
Vô minh cố chấp tại con người
Thánh Tiên tùy hạnh tùy công đức
Ngôi vị thiêng liêng tạo bởi Người.

Vững trụ đức tin đạo chí thành
Vô cầu vô niệm bả công danh
Sớm hôm tu luyện rèn thân chí
Đạo cốt tình thương, đức mới thành

VUI BƯỚC TỚI THẢNH THƠI
Hoàng Kim

Chân trần bước tới thảnh thơi
Trăng rằm cổ tích nhớ lời của Anh:

“Cảnh mãi theo người được đâu em
Hết khổ hết cay hết vận hèn
Nghiệp sáng đèn giời đang chỉ rõ
Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen”.
(Hoàng Ngọc Dộ)

Đến chốn thung dung
Sống giữa thiên nhiên
Về với ruộng đồng
Tổ ấm Rồng Tiên
Trở lại với mình.
Bước tới thảnh thơi
Trăng rằm cổ tích
Giấc mơ hạnh phúc.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là ta-ve-song-giua-thien-nhien.jpg

VUI ĐẾN CHỐN THUNG DUNG
Hoàng Kim

Thăm người ngọc nơi xa vùng tỉnh lặng
Chốn ấy non xanh người đã chào đời
Nơi sỏi đá giữa miền thiêng hoa cỏ
Thiên nhiên an lành, bước tới thảnh thơi.

Sống giữa đời vui giấc mơ hạnh phúc
Cổ tích đời thường đằm thắm yêu thương
Con cái quây quần thung dung tự tại
Minh triết cuộc đời phúc hậu an nhiên.

Xuân Hạ Thu Đông bốn mùa luân chuyển
Say chân quê ngày xuân đọc Trạng Trình
Ngày ra ruộng đêm thì đọc sách
Ngọc cho đời giữ trọn niềm tin.

(*) Nhạc Trịnh

Emve

VUI SỐNG GIỮA THIÊN NHIÊN
Hoàng Kim

Người rất muốn đi về trong tịch lặng
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền
Ta đến chốn thung dung tìm hoa lúa
Rong chơi đường trần sống giữa thiên nhiên.

Tâm thanh thản buồn vui cùng nhân thế
Đời Đạo thịnh suy sương sớm đầu cành
Lòng hiền dịu và trái tim nhẹ nhõm
Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt (*)
Trăng rằm xuân lồng lộng bóng tri âm
Người tri kỷ cùng ta và năm tháng.
Giác Tâm ta về còn trọn niềm tin.

TA VỀ VỚI ĐỒNG XUÂN
Hoàng Kim

Người khôn về chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng cái cười thì nông
Ta vui về với ruộng đồng
Để gieo tục ngữ để trồng dân ca.

Thỏa thuê cùng với cỏ hoa
Thung dung đèn sách, nhẫn nha dọn vườn
Mặc ai tính thiệt so hơn
Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng

Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian.

Nước trong ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi.

Thung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm
Ta vui hạnh phúc trăm năm
Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao.

TA VỀ TRỜI ĐẤT HỒNG LAM
Hoàng Kim

Ta về trời đất Hồng Lam
Bâng khuâng bước dưới trăng vàng lộng soi
Ngực trần chạm tới thảnh thơi
Nghe lưng thấu đến bồi hồi đất quen.

Linh miêu chốn Tổ Rồng Tiên
Quấn quanh trao gửi nổi niềm Thái Sơn
Hỡi ai là kẻ phi thường
Đỉnh chung dâng nén tâm hương nhớ Người.


MÌNH VỀ VỚI CHÍNH MÌNH
Hoàng Kim

Mình về với chính mình thôi
Ở nơi bếp núc nói lời yêu thương
Hành trình của chính linh hồn
Giấc mơ hạnh phúc, con đường tình yêu.

Thênh thênh đồng rộng trời chiều
Nụ cười mãn nguyện bao điều ước mong
Dẫu rằng xuân đến tự xuân
Vượt qua đông lạnh đã dần sương tan.

Lời nguyền cùng với nước non
Hiếu trung trọn nghĩa lòng son vẹn tình
Yêu thương phúc hậu hi sinh
Đường xuân chung lối hương linh muôn đời.

CHÙA RÁNG GIỮA ĐỒNG XUÂN
Hoàng Kim


Nơi cổ tự mây lành che xóm vắng
Viên Minh xưa chùa Ráng ở đây rồi
Bụt thư thái chim rừng nghe giảng đạo
Trời trong lành gió núi lắng xôn xao.

Nhớ Pháp Chủ người hiền Thích Phổ Tuệ
Viên ngọc lành tính sáng gửi tin yêu:
“Mưa thuận gió hòa chăm bón đúng
Nhân tươi quả tốt được thu nhiều”

Thương hạt ngọc trắng ngần vui Bạch Ngọc
Phước nhân duyên thơm thảo học làm người
“Thơm hương lúa ngậm đòng chăm bón đúng
Mưa thuận gió hòa nhân quả tốt tươi”

Ngát hương sen lồng lộng bóng trúc mai
Đồng xuân đất lành trời xanh bát ngát
Hoa Đất, Hoa Người tổ tiên phước đức
Con biết ơn Người hiếu thảo ghi ơn …

THIỀN SƯ LÃO NÔNG TĂNG
https://youtu.be/w21hkPfEA2M
“Mưa thuận gió hòa chăm bón đúng
Nhân tươi quả tốt được thu nhiều”

Viên Minh Thích Phổ Tuệ
Lời Thầy dặn thung dung

Nhớ Viên Minh Hoa Lúa
Chùa Ráng giữa đồng xuân
Kim Notes lắng ghi chú
Hoa Đất thương lời hiền. ·

Noi theo dấu chân Bụt
Dạy và học làm Người
Hiểu Quân Dân Chính Đảng
Thấu Nông Lâm Y Sinh
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thien-su-lao-nong-tang/

CHỮ TUỆ 慧
Hán Nôm ( Học với chữ Hán-Nôm )
Đỗ Hoàng  · 2 4 2022 lúc 21; 42  

Tuệ có nghĩa là thông minh tài trí, sáng dạ. Tuệ thường được sử dụng để chỉ sự sáng suốt mau mắn lanh trí của con người. Sinh ra đã thông minh hơn người, tư duy nhanh nhẹn gọi là có tuệ căn. Có con mắt nhìn thấu mọi thứ soi rõ tiền nhân hậu hoạn gọi là tuệ nhãn.

Chữ tuệ được dùng nhiều trong phật học. Nhưng từ này cũng hàm ý chỉ sự tốt đẹp, nên thường được dùng để đặt làm tên người.

Cách viết chữ Tuệ

Tuệ – Huì – 慧. Bên trên là hai chữ phong 丰, bên dưới có bộ kệ 彐, sau đó là chữ tâm.

Chua Giang giua dong xuan

Thiền Sư Lão Nông Tăng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thien-su-lao-nong-tang/

Những trang đời lắng đọng
TĨNH THỨC HOA SEN TRẮNG
Hoa sen trắng
Nhà văn Triết gia Ấn độ Osho


Tổ sư Bồ đề đạt ma đến với một chiếc giầy;

Triết gia Osho nổi tiếng người Ấn độ nói: Tôi cực lạc vì tên của Tổ sư Bồ đề đạt ma đã làm cho tôi phiêu diêu. Đã từng có nhiều chư phật trên thế giới, nhưng Tổ sư Bồ đề đạt ma sừng sững như đỉnh Everest. Cách hiện hữu của ông ấy, cách sống, và cách diễn đạt chân lí đơn giản là của ông ấy; nó là vô song.

Trong các chùa ở Miền tây thường bên cạnh thờ tượng Đức Phật, có thờ tượng của Tổ sư Bồ đề đạt ma. Tượng Tổ sư dễ nhận biết. Gương mặt một người hung dữ, vai đeo gậy. Trên gậy có chỉ một chiếc giày.Tổ sư Bồ đề đạt ma đã du hành từ Ấn Độ sang Trung Quốc để truyền bá thông điệp của Đức Phật, người thầy của mình, mặc dầu họ sống cách nhau một nghìn năm.

*

Khi Tổ sư Bồ đề đạt ma đến Trung Quốc, Vũ Đế ra đón ông ấy ở biên ải. Mọi ngưỡi nghĩ rằng một chứng ngộ lớn đang tới! Và tất nhiên Vũ Đế đã tưởng tượng Tổ sư có nét gì đó giống như Đức Phật: rất hoà nhã, duyên dáng, vương giả. Tuy nhiên khi ông ta thấy Bồ đề đạt ma thì ông đã bị choáng. Tổ sư Bồ đề đạt ma trông rất thô thiển. Không chỉ thế, ông ấy còn có vẻ rất ngớ ngẩn. Ông ấy đến cây gậy đeo trên vai chỉ có một chiếc giầy.Vũ Đế bối rối. Ông ta đã tới cùng với cả đoàn triều đình với các hoàng hậu quí phi. Họ sẽ nghĩ gì khi ta ra đón một loại người như thế này? Ông cố gắng vì lịch sự bỏ qua điều đó. Và ông đã không muốn hỏi “Sao ông lại đến nước chúng tôi chỉ với một chiếc giầy?

Nhưng Tổ sư Bồ đề đạt ma đã không để Vũ Đế yên. Ông ấy nói: -Đừng cố bỏ qua nó. Hãy hỏi và thẳng thắn ngay từ chính lúc đầu đi. Ta đã đọc được câu hỏi trong đầu ông rồi.Vũ Đế đâm ra lúng túng; sau cùng ông nói:-Vâng, ông đúng, câu hỏi này đã nảy sinh trong ta: Sao ông đến mà chỉ mang một chiếc giày?

Tổ sư Bồ đề đạt ma nói, -Để mọi thứ vào cảnh quan đúng như từ chính lúc đầu. Ta là người vô lí! Ông phải hiểu điều đó từ chính lúc bắt đầu. Ta không muốn tạo ra bất kì rắc rối nào về sau. Hoặc ông chấp nhận ta như ta vậy hoặc ông đơn giản nói rằng ông không thể chấp nhận được ta. Và ta sẽ rời khỏi vương quốc của ông. Ta sẽ đi lên núi. Ta sẽ đợi ở đó đến khi người của ta đến với ta. Vũ Đế lúng túng. Ông đã mang theo nhiều câu hỏi khi đến đón Tổ sư. Nhưng ông băn khoăn có nên đưa chúng ra hay không? Ông nghi ngai câu trả lời là lố bịch. Nhưng Tổ sư Bồ đề đạt ma một mức khăng khăng:-Ông hãy nên hỏi những câu ông đã mang tới đây.

Vũ Đế gượng gạo hỏi:-Câu hỏi đầu: Ta đã làm được nhiều phước đức…. Tổ sư Bồ đề đạt ma nhìn sâu vào trong đôi mắt của Vũ Đế. Một cơn lạnh toát chạy dọc sống lưng nhà vua. Ông nói:-Toàn những điều vô nghĩa! Làm sao ông có thể làm được nhiều phước đức ? Ông còn chưa nhận biết phước đức được hình thành từ nhận biết . Mà ông ngụ ý phước đức nào? Làm sao ông có thể tạo ra được phước đức? Phước đức chỉ được tạo ra từ Đức Phật.

Vũ Đế ngại ngần:-Việc ta nói làm nhiều phước đức. Ta ngụ ý rằng ta đã làm nhiều đến chùa, nhiều điện thờ cho Phật. Ta đã làm nhiều đạo tràng cho các khất sĩ Phật tử, các tín đồ, và tì kheo. Ta đã thu xếp cho hàng nghìn học sĩ để dịch kinh sách Phật sang tiếng Trung Quốc. Ta đã tiêu tốn hàng triệu đồng bạc cho việc phục vụ Đức Phật. Nhiều triệu khất sĩ xin ăn mọi ngày từ cung điện này nọ này trên khắp nước.

Và Tổ sư Bồ đề đạt ma cười. Vũ Đế chưa từng bao giờ nghe thấy tiếng cười như thế. Tiếng cười bụng có thể làm rung chuyển cả núi. Tổ sư cười sằng sặc và nói:-Ông đã hành động một cách ngu xuẩn. Mọi nỗ lực của ông đều đã là cực kì phí hoài. Sẽ không tạo ra kết quả nào từ nó cả. Đừng cố, và đừng tưởng tượng rằng ông sẽ được lên cõi trời thứ bẩy như các khất sĩ Phật giáo đã nói cho ông. Họ chỉ khai thác ông thôi.

Đây là chiến lược khai thác những người ngu như ông. Họ khai thác lòng tham của ông về thế giới bên kia, Họ vẽ cho ông những hứa hẹn lớn. Và lời hứa của họ không thể chứng minh là sai được vì không ai quay trở về từ thế giới bên kia để nói liệu những lời hứa đó có được hoàn thành hay không. Ông đã bị họ lừa rồi. Không có cái gì sẽ xảy ra từ điều mà ông nghĩ là việc làm phước đức. Thực ra, ông sẽ rơi vào địa ngục thứ bẩy, vì một người sống với những ham muốn sai như thế, người sống có ham muốn như thế, đều sẽ rơi vào địa ngục.

Vũ Đế e ngại. Ông cố gắng lái câu chuyện sang một chủ đề khác: -Vậy có cái gì linh thiêng hay không? Tổ sư Bồ đề đạt ma nói, -Không có cái gì linh thiêng, cũng như không có cái gì là báng bổ. Linh thiêng và báng bổ, đều là thái độ của tâm trí, của định kiến. Mọi việc đều đơn giản như chúng vậy. Không cái gì sai và không cái gì đúng, không cái gì tội lỗi và không cái gì phước đức. Vũ Đế buồn bực:-Ông thật quá thể đối với ta và người của ta. Sau đó, Tổ sư Bồ đề đạt ma nói lời tạm biệt, quay lưng lại và đi lên núi.

Trong chín năm trên núi ông ấy ngồi quay mặt vào tường. Mọi người đến với ông bởi vì đã được nghe, biết về cuộc đối thoại này. Dù khoảng cách sống giữa Tổ sư và Đức Phật trong hơn một nghìn năm, nhưng về trung tâm Tổ Sư vẫn ở cùng Đức Phật. Tổ sư nói điều tinh tuý của Đức Phật – tất nhiên theo cách riêng của ông ấy, theo phong cách của ông ấy, Ngay cả Phật cũng sẽ thấy cách trình bày này đó là kì lạ.

Đức Phật là người văn hoá, phức tạp, và duyên dáng. Còn Tổ sư Bồ đề đạt ma chính là cái đối lập trong cách diễn đạt của Đức Phật. Tổ sư không là người mà là con sư tử. Tổ sư không nói, mà ông ấy gầm lên. Tổ sư không có cái duyên dáng mà Đức Phật có. Cái mà ông ấy có là sự thô thiển, dữ dằn. Không thanh nhã như kim cương; Tổ sư hệt như vĩa quặng: thô ráp tuyệt đối , không có một sự đánh bóng. Và đó là cái đẹp của ông ấy. Đức Phật có cái đẹp rất nữ tính, lịch sự, mảnh mai. Còn Tổ sư Bồ đề đạt ma có cái đẹp riêng . Cái đẹp của một tảng đá – mạnh mẽ, nam tính, không thể phá huỷ được, cái đẹp của một sức mạnh lớn lao.

Đức Phật toả sức mạnh, nhưng sức mạnh của Đức Phật rất im lặng, như tiếng thì thào, như làn gió mát. Còn Tổ sư Bồ đề đạt ma là cơn bão, sấm rền và chớp giật. Đức Phật đến cửa nhà bạn nhẹ nhàng không một tiếng động, bạn thậm chí sẽ không nghe thấy tiếng bước chân của ông ấy. Còn Tổ sư Bồ đề đạt ma, khi ông ấy đến nhà bạn, ông ấy sẽ làm rung chuyển cả ngôi nhà từ tận móng của nó. Đức Phật sẽ không lay bạn dậy ngay cả khi bạn đang ngủ. Còn Tổ sư Bồ đề đạt ma? Ông ấy sẽ dựng bạn dậy từ trong nấm mồ! Ông ấy đánh mạnh, ông ấy là chiếc búa.

Tổ sư là chính cái đối lập của Đức Phật trong cách diễn đạt, nhưng thông điệp của ông ấy với Đức Phật là một. Tổ sư cúi mình trước Đức Phật là thầy của mình. Tổ sư chưa bao giờ nói “Đây là thông điệp của ta”. Tổ sư đơn giản nói:-Điều này thuộc về chư phật, chư phật cổ đại. Ta chỉ là sứ giả. Không cái gì là của ta, bởi vì ta không có. Ta như cây trúc hồng được chư phật chọn để làm chiếc sáo cho họ. Họ hát: ta đơn giản để cho họ hát qua ta.

PHÁP TRẦN, QUAY ĐẦU LÀ BỜ
Thích Thanh Từ (Sư Ông Trúc Lâm)

Trong nhà thiền thường nói, khi ngộ đạo rồi mắt thấy như mù, tai nghe như điếc. Như mù nhưng không phải mù, như điếc nhưng không phải điếc. Giả sử chúng ta đi chợ, nghe người ta xôn xao đủ thứ, nhưng mình không dính, không chú ý. Khi về người nhà hỏi: “Bữa nay đi chợ thấy cái gì?” Mình nói: “Không thấy gì hết”. Nhưng sự thật mình có thấy không? Có thấy nhưng không dính thành ra như không thấy. Còn nếu ta để tâm vào việc gì thì khi được hỏi, mình liền trả lời: “Thấy thế này, thế kia”. Đó là ta đã tích lũy vào pháp trần trong tâm rồi.

Cho nên việc tu có nhiều điểm rất hay mà chúng ta không biết. Như ra đường bị ai nói xúc phạm tới danh dự mình, về nhà ít nhất ta cũng kể lại với người thân nghe. Kể một người nghe mình cũng chưa vừa lòng, phải kể cho người này người kia nghe chừng một trăm lần, như vậy mình đã thuộc lòng trong ký ức sâu quá rồi. Vì vậy khi ngồi thiền nó trồi lên, bỏ được một lát nó trồi lên nữa. Đó là vì chúng ta đã ghi nhớ quá sâu đậm.

Giống như lúc còn bé đi học, mỗi khi muốn thuộc bài, mình phải đọc tới đọc lui nhiều lần mới thuộc. Đem vô sâu là do ôn tới ôn lui nhiều lần. Lỡ nhớ rồi, khi muốn quên cũng phải tập bỏ thường xuyên mới quên được, không có cách nào khác hơn. Vậy mà vừa có chuyện buồn, chuyện giận là chúng ta đem ra kể liền. Gặp ai kể nấy, kể hoài như vậy quên sao được. Khi ngồi thiền nó trồi lên lại than: “Khổ quá! Con tu khó”. Khó là tại ai? Tại mình chứ tại ai, tích lũy nhiều thì nó trồi lên nhiều.

Bây giờ chúng ta thấy chỉ thấy, không thèm quan tâm chú ý gì cả. Thấy tất cả mà tâm không giữ, không dính thì tu dễ không khó. Nếu tu là tìm cái gì ở đâu xa thì khó, đằng này nó đã sẵn nơi mình rồi, chỉ quay lại là hiện tiền. Chúng ta không thấy được cái chân thật là do pháp trần đầy cứng bên trong, nên quay lại thấy toàn tạp nhạp.

Những giờ ngồi thiền là những giờ quay lại, mình thấy pháp trần lăng xăng lộn xộn nên nói thấy loạn tưởng nhiều quá. Thấy loạn tưởng nhiều là tu tiến nhiều. Vì ngày xưa, mỗi khi chúng dấy lên mình chạy theo nên không thấy chúng, bây giờ chúng dấy lên mình biết liền bỏ, đó là tu tiến. Tuy nó còn nhưng mình đã làm chủ được chút chút. Hồi xưa nó dẫn mình chạy theo hoàn toàn, bây giờ nó trồi lên mình từ chối không theo, đó là tiến rõ ràng. Nhưng nhiều khi Phật tử thấy nó rồi sợ, tu gì mà vọng tưởng quá chừng. Sự thật có tiến, tiến từng bước, chứ không phải không tiến.

Bước tiến tiếp theo là ngoài giờ ngồi thiền, khi tiếp xúc với mọi cảnh mọi vật, chúng ta thấy biết rõ ràng nhưng bỏ qua, không chú tâm, đó là ta tu trong mọi lúc mọi nơi. Không phải tay lần chuỗi, thân tọa thiền mới tu. Lần chuỗi tọa thiền mà ai động tới liền la hét là không phải tu. Người không tỏ vẻ tu hành gì hết, nhưng đi đứng tự nhiên thoải mái, ai nói gì thì nói, bỏ qua không để lòng, ấy mới thật là chân tu.

Nhiều khi chúng ta như điên khùng với nhau. Thí dụ mình tưởng mình thông minh, sáng suốt, nhưng ai vừa nói “Chị ngu quá!”, mình liền la đông đổng lên, để nói rằng ta không ngu. Nhưng thật ra như vậy là đã chứng tỏ mình đang ngu. Nếu không ngu, ta chỉ cười, nói: “Phải, tôi ngu” Nói vậy còn gì nữa để la, thì đâu có khổ. Vậy mà ai nói mình ngu liền cự lộn, rồi đủ thứ chuyện thưa kiện … có khổ không? Thế là cả hai đàng đều khùng điên với nhau hết.

Những chuyện hết sức nhỏ như vậy, nhưng mình không biết tu, nên cứ tích lũy trong tâm thành ra sanh bệnh. Bây giờ muốn bỏ, chúng ta phải gỡ lần những thứ đó, từ từ ngồi thiền sẽ được nhẹ nhàng yên ổn. Ai nói gì mình cũng cười. Đức Phật ngày xưa bị Bà la môn theo sau mắng chửi, Ngài im lặng không nói, không nhận, thế mà Bà la môn phải chịu phép, không dám mắng chửi nữa, khỏe khoắn làm sao.

Phật là bậc giác ngộ nên thấy người mê Ngài thương, không phản đối, không chống cự gì cả nhưng lại nhiếp phục được họ. Còn chúng ta bây giờ nghe nói một câu không vừa lòng liền phản đối, chống cự, rốt cuộc càng thêm lớn chuyện. Như vậy ta cùng những người mê kia, không hơn không kém, phải không? Mình là người tỉnh thì phải hơn kẻ mê. Họ nói bậy mình chỉ cười thôi thì không xảy ra chuyện gì hết. Như vậy có khỏe không ?

Cho nên người biết tu xả bỏ hết những gì không quan trọng. Quan trọng là đừng để sáu trần lôi dẫn đi, phải quay về với cái chân thật của chính mình. Cái chân thật ấy ai cũng có nhưng vì vọng tưởng che lấp nên mình không nhận ra. Cho nên Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện nói, người tu thiền như con ngỗng chúa uống sữa chừa nước lại. Câu nói nghe muốn bể cả đầu! Làm sao mà uống sữa chừa nước được? Hai thứ ấy hòa lẫn nhau, lọc thế nào ?

Những câu như vậy, tôi cũng mất nhiều năm lắm mới thấy rõ ý nghĩa của nó. Cái gì là sữa?. Cái gì là nước ? Vọng tâm và chân tâm nơi mình hòa lẫn nhau, không phải một cũng không phải hai. Vậy làm sao để lọc chân tâm ra khỏi vọng tâm? Ở đây, chúng ta chỉ cần khéo một chút là thấy liền. Cái biết trong sáng hiện tiền đó là sữa, còn cái biết lăng xăng lộn xộn là nước. Cái biết lăng xăng lộn xộn thì chúng ta không theo, chỉ sống với cái biết yên tĩnh, trong sáng. Đó là mình đã loại nước, uống sữa. Được thế ta là ngỗng chúa.

Những giây phút yên tĩnh, chúng ta ngồi chơi không nghĩ gì hết. Lúc đó tai vẫn nghe, mắt vẫn thấy mà không nghĩ suy điều chi. Như vậy cái biết đó mình đã có sẵn, nhưng vừa dấy nghĩ cái này cái nọ liền quên mất cái biết hằng hữu. Bây giờ chỉ cần không chạy theo các thứ xao động thì nó hiện tiền. Nếu chúng ta đừng đuổi theo những gì mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm … ăn cứ ăn uống cứ uống, làm tất cả việc mà đừng dính, nếu không phải Phật thì ít nhất mình cũng là Bồ tát con rồi.

Vì vậy không dính với sáu trần là biết quay đầu, còn dính với sáu trần là đã lao đi trong sanh tử, không có gì khó khăn hết. Trong nhà thiền có câu chuyện của anh hàng thịt, khi nghe một câu nói của vị Thiền sư, liền tỉnh ngộ và làm bài kệ:
Tạc nhật dạ xoa tâm
Kim triêu Bồ tát diện
Dạ xoa dữ Bồ tát
Bất cách nhất điều tuyến.
Dịch:
Hôm qua tâm dạ xoa
Bữa nay mặt Bồ tát
Dạ xoa và Bồ tát
Không cách một đường tơ.

Bồ tát và Dạ xoa chỉ cách nhau ở một cái nhìn. Nhìn ra là mê, xoay lại là giác, dễ như trở bàn tay, không có gì ngăn cản hết. Vậy mà chúng ta làm không nổi, cứ ì ạch hoài. Thiền đặc biệt ở chỗ đó, nhưng vẫn phù hợp với những gì Phật dạy ngày xưa. Tôi sẽ dẫn kinh để chứng tỏ điều này.

Trong kinh A Hàm kể lại, một hôm, sau thời tọa thiền trong rừng, Đức Phật xả thiền ngồi chơi tự tại. Chợt Ngài thấy có một con rùa bò về phía mình, phía sau con dã can đuổi theo định cắn đuôi con rùa, con rùa liền rút đuôi vào trong mai. Dã can chụp lấy chân, con rùa liền rút chân vào trong mai. Cứ như vậy dã can chụp cắn tứ tung, rùa cũng rút hết các bộ phận vào trong mai. Con dã can chụp hoài không được bèn bỏ đi.

Kết thúc câu chuyện, Phật nói: “Người tu cũng thế, nếu biết giữ sáu căn không cho chạy theo sáu trần thì không có ma vương nào bắt được”. Còn nếu chạy theo sáu trần bị nó cắn đứt đầu đứt cổ. Chuyện thật là hay.

Thêm một câu chuyện nữa. Phật kể trong một đàn khỉ, có con khỉ nhỏ đi sau đàn thấy mấy con lớn đi trước ăn nhiều trái cây ngon, còn mình thiệt thòi quá. Nó bèn tách đàn, đi một mình để được ăn ngon. Khi thấy miếng mồi ngon, nó liền đưa tay chụp, không ngờ đó là cái bẫy nhựa, nên tay nó bị dính nhựa. Nó liền đưa tay kia gỡ nên tay kia bị dính luôn. Con khỉ liền lấy chân phải quào, chân phải dính; lấy chân trái quào, chân dính luôn. Nó quật cái đuôi để gỡ, đuôi cũng dính. Cuối cùng còn cái miệng, nó liền đưa miệng cạp, thế là miệng dính luôn. Như vậy tổng cộng sáu bộ phận đều dính nhựa hết. Gã thợ săn chỉ cần tới lượm con khỉ bỏ vô giỏ là xong.

Phật nói: “Cũng vậy, nếu người nào sáu căn dính với sáu trần, cũng như con khỉ kia để sáu bộ phận dính với nhựa, người đó sẽ bị ma vương dẫn đi dễ dàng, không nghi ngờ”. Như vậy Phật dạy chúng ta tu như thế nào? Là giữ sáu căn đừng cho dính mắc với sáu trần. Đây là một lẽ thật chứ không phải tưởng tượng. Đó là tôi đã dẫn trong kinh A Hàm.

Đến kinh Kim Cang, Lục Tổ ngộ được từ câu: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm; ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, tức là không dính mắc vào các trần mà sanh tâm Bồ đề. Tâm Bồ đề là tâm thanh tịnh, không dính mắc thì tâm Bồ đề hiện tiền. Còn dấy niệm là tâm sanh diệt. Sau khi ngộ rồi, Lục Tổ thốt lên: “Đâu ngờ tâm mình xưa nay thanh tịnh!. Vì thanh tịnh nên không sanh diệt, còn loạn tưởng là tâm sanh diệt. Ngay đó Ngũ Tổ truyền tâm ấn và trao y bát cho ngài.

Sự tu chẳng có gì lạ hết. Phật Tổ không hai đường, chỉ vì phương tiện truyền bá khác nhau thôi. Thấy như vậy, hiểu như vậy, chúng ta mới nhận ra việc tu không phải chuyện quanh co, khó khăn, mà trái lại rất đơn giản. Ngài Lâm Tế nói: “Đâu ngờ Phật pháp của Hoàng Bá rất ít”, nghĩa là rất đơn giản. Cho nên trọng tâm của việc tu là nghe và hiểu được ý Phật dạy, rồi ứng dụng thực hành. Đó mới là người biết tu.

Thơ Thiền Thích Nhất Hạnh
CẦU HIỂU, CẦU THƯƠNG
Thích Nhất Hạnh (Sư Ông Làng Mai)


Lắng lòng nghe tiếng gọi quê hương
Sông núi trông ra đẹp lạ thường
Về tới quê xưa tìm gốc cũ
Qua rồi cầu Hiểu, tới cầu Thương.

Tôi (Hoàng Kim:) nghe nói ‘ đạo Phật dấn thân’ “Có một đạọ Phật như thế” (lời Bùi Tín) với Làng Mai của thiền sư Thích Nhất Hạnh có những điểm dị biệt nên chính quyền hai phía xưa và nay chưa thực lòng ủng hộ. Tôi không chấp nhân Bùi Tín và các vị mưu toan ‘li tâm’ xa rời đường sống của dân tộc, nhưng dẫu vậy sự thực hành các thức chánh niệm: ”Từng bước chân thảnh thơi”, ”An lạc ngay lúc này”, ”Vui với từng hơi thở”, ”Bụt ở ngay trong ta” “Thơ thiền Thích Nhất Hạnh” là những tuyệt phẩm Phật học thật đáng đọc lại và suy ngẫm.

Biển Hồ Chùa Bửu Minh

VỀ TRONG TỊCH LẶNG
Thích Giác Tâm

Ta rất muốn đi về trong tịch lặng.
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền
Lòng thao thức Đạo Đời luôn vướng nặng
Mũ ni che tai, tâm lại hóa bình yên.

Đời chộn rộn sao còn theo chộn rộn?
Đạo hưng suy ta mất ngủ bao lần.
Đời giả huyễn thịnh suy luôn bề bộn.
Đạo mất còn ta cứ mãi trầm ngâm.

Vai này gánh cho vai kia nhẹ bớt .
Tìm tri âm ta nặng bước âm thầm.
Sợi tóc bạc trên đầu còn non nớt.
Tháng năm nào ta thấy lại nguồn tâm?

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Kim

cảm ơn bài viết hay TẢN MẠN CÀ PHÊ PHỐ NÚI của Thượng tọa Thích Giác Tâm, xin phép được chia sẻ, bảo tồn và phát triển: Ảnh đẹp thanh khiết sang trọng, lãng đãng giữa tối sáng ban mai Biển Hồ. Văn chương tiếng nhạc trong lành, ngân nga trong đất trời bình minh Phố Núi. Thật hạnh phúc, an nhiên, thư thái. Ta về còn trọn niềm tin . xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/doi-thoai-voi-thien-su/

Chua Buu Minh
27 tháng 4 năm 2020 :lúc 11: 17 ·

TẢN MẠN CÀ PHÊ PHỐ NÚI.
Thích Giác Tâm

Trong tâm thức của mỗi người đều có một quê hương riêng. Có người coi trái đất là quê hương mình, có người coi Tổ Quốc mình là quê hương mình, có nguời coi Tỉnh mình là quê hương mình, có người coi nơi mình chôn nhau rốn là quê hương mình. Tâm tôi không to rộng, nên tôi chỉ coi phố núi Pleiku là quê hương mình. Quê hương với bao ân tình kỷ niệm, ngồi bên tách cà phê, nhắm mắt lại là từng con người, dãy phố, con đường ở Pleiku hiện ra.

Nhắc đến cà phê, chúng ta vô cùng cảm ơn, nhớ ơn Đức Phật, hai ngàn sáu trăm năm trước Ngài đã không cấm đệ tử mình uống cà phê, Ngài chỉ cấm uống rượu và các thức uống gây say khác. Bởi Thầy mình không cấm, nên ngày hôm nay các Tăng sĩ phật giáo ngồi nhâm nhi ly cà phê công khai, chứ nếu Phật cấm thì không công khai được đâu, chỉ tìm cách uống lén thôi.

Diện tích trồng cà phê ở Pleiku – Gia Lai chỉ thua Đắc Lắc – Buôn Mê Thuột, và có lẽ cà phê ở Pleiku không ngon bằng cà phê Ban Mê Thuột, có thể do chất đất, có thể do cách sao tẩm, chế biến chưa đạt đến đỉnh cao. Cả nước khi nhắc đến cà phê là liên tưởng đến Ban Mê Thuột, ít khi liên tưởng đến Pleiku. Bởi các doanh nghiệp trồng cà phê, chế biến cà phê Pleiku – Gia Lai chưa có dịp cùng với các vị lãnh đạo, văn nghệ sĩ, dân ghiền cà phê tỉnh nhà ngồi lại với nhau, cùng uống cà phê, cùng trao đổi, cùng thổi hồn, thổi nghệ thuật, thổi triết lý nhân sinh vào cho từng giọt cà phê, để cà phê trở thành một thứ Đạo, như Trà Đạo, tại sao ta không biến thú vui tao nhã là uống cà phê, thành cà phê Đạo.

Ừ cũng vui lắm chứ, cũng thú vị lắm chứ !

Ngày xưa khi đất nước chưa công nghiệp hoá, chưa hiện đại hoá, con người tiêu thụ ít hơn, có nhiều thời gian hơn ta cùng với bạn lành ngồi bên tách cà phê phin, trong một buổi sáng sương mù lãng đãng trong một quán cà phê vỉa hè, vừa uống vừa nghe nhạc Trịnh với chiếc máy đĩa to đùng, nhìn mọi người lướt qua nhẹ nhàng, không vội vã không hấp tấp, do vậy ta cũng bình tĩnh hơn để nhắp ly cà phê, tương tác mà. Đức Phật dạy: ” Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt”. Thiên hạ mà vội vội vàng vàng thì ta cũng vội vội vàng vàng theo, chế một ly cà phê tốc hành uống vội rồi đi, đi như bị ma đuổi, đi mà không biết mình đi về đâu.

Bên tách cà phê buổi sáng, sương mù giăng giăng khép nẻo, cùng với tiếng vó ngựa lốc cốc trên mặt đường, đường trồng nhiều cây thông, ta nghe lòng thanh thản, thư giản. Nhìn từng giọt cà phê rơi ! rơi ! nhè nhẹ rơi ! Ta thấy như giọt thời gian rơi vào hư vô, nhắc ta phải làm gì, biết mình phải làm sao trong cuộc đời này. Mình từ đâu đến và chết rồi sẽ đi về đâu. Không có cái gì bỗng dưng mà có, không có cái gì bỗng dưng mà không, tất cả là nhân duyên trùng điệp. Giọt cà phê này từ đâu mà có, uống vô bụng rồi thì đi về đâu. Có thiệt là uống vô bụng rồi thì mất hẳn ? Khi buồn ta uống cà phê để suy gẫm, suy gẫm vì sao đời mình lao đao lận đận, vì sao cuộc tình nào đến với mình rồi cũng vỗ cánh bay, vì sao mình cứ chối bỏ quê hương, vì sao tháng năm biền biệt chưa về thăm cha già mẹ yếu, em thơ….. Khi vui ta uống cà phê và ta nhận diện ra rằng không có gì hạnh phúc bằng giây phút hiện tại, ta an lạc với giây phút này, bởi ta không biết trân quý giây phút này, thì biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao.

Tôi không ghiền cà phê, nhưng tôi có uống, bởi có thói quen suy tưởng nên ghi lại đây vài dòng tâm tư tản mạn, để tặng mình và tặng thân hữu gần xa.

Pleiku, ngày xuân

Thích Giác Tâm

MẪU PHƯƠNG NAM TAO ĐÀN
Hoàng Kim


Mẫu Phương Nam Tao Đàn
Một vùng thiêng cổ tích
Bạn và tôi dạo chơi
Chuyện thú vui tao nhã

Thoáng chốc là trăm năm
Đời người như giếng Ngọc
Nước mát lọc an lành
Đất dưỡng vòm cây xanh.

Vui đi dưới mặt trời
Nghe vườn cây trò chuyện
Gió mát và bạn hiền
Lặng thinh lời trìu mến.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/doi-thoai-voi-thien-su/

NGÔI ĐỀN THIÊNG VĂN CHƯƠNG
Hoàng Kim

Tuổi thơ đọc Kiều, tôi thích nhất hai câu: “Cỏ non xanh rợn chân trời./ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Lớn lên, lời thơ ám ảnh là mối tình của Thuý Kiều và Từ Hải “Trai anh hùng, gái thuyền quyên. Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng”. Sau này khi qua trãi nghiệm, tôi tâm đắc nhất  với hai câu kết: “Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Đến nay  thì từ việc thích hai câu kết tài hoa trên, lan tỏa ra thích một chùm câu thơ tài hoa liên vận tóm tắt rất hay cốt truyện Kim Vân Kiều:

“Nguyên người quanh quất đâu xa. Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh. Nền phú hậu bậc tài danh. Văn chương nết đất thông minh tính trời. Phong lưu tài mạo tuyệt vời Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”… ” Vân xem trang trọng khác vời. Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười ngọc thốt đoan trang. Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Kiều càng sắc sảo mặn mà. So bề tài sắc lại là phần hơn. Làn thu thủy nét xuân sơn. Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.”… “Một nhà phúc lộc gồm hai. Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần. Thừa gia chẳng hết nàng Vân Một cây cù mộc, một sân quế hòe. Phong lưu phú quý ai bì. Vườn xuân một cửa để bia muôn đời”… “Đã mang lấy nghiệp vào thân. Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Người tu dưỡng chí thiện tâm sáng mặt hiền là phúc tướng.

Thơ Nguyễn Du lung linh, huyền ảo, đã có biết bao lời bình suốt từ xưa đến nay. Gần đây, có những lời bình rất hay của Nguyễn Thế Quang (Nguyễn Du, Tiểu thuyết lịch sử, Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn, Công ty TNHH Sách Phương Nam phát hành năm 2010, 416 trang) càng thông tỏ hơn sự hiền tài của một nhà văn hoá lớn. Những bài viết khác đó là bài viết của nhà giáo Nguyễn Đình Chú “Nhà văn Đặng Thai Mai chọn câu Kiều hay nhất” mà tôi đã chép lại tại Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa (1) và bài viết của Cảnh Chương Trao đổi về “nét ngài” của Thúy Vân trong Truyện Kiều  (GDVN) với lời bình chi tiết “tướng tại tâm sinh, tướng tùy tâm tính’ tại Giếng Ngọc Tao Đàn (3) càng sáng tỏ thêm cái hay của ngôn ngữ văn chương Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa. Cám ơn nhà giáo Cảnh Chương  và các trao đổi của  Pine Le Xuan Đính, Mai Trúc Nguyễn ThịHoang To Nguyen đã giúp tôi viết ghi chú này. Cảnh Chương là nhà giáo, nhà ngôn ngữ học tiếng Việt đã nhận định trong bài  Trao đổi về “nét ngài” của Thúy Vân trong Truyện Kiều  (GDVN) rằng: Chúng ta đều có cơ sở để khẳng định cách miêu tả “nét ngài” là hình ảnh “nét mày ngài” của nàng Vân hơn là nét người, dáng người của nhân vật này. Trang giaoduc.net.vn đã đăng tải nhiều thông tin đa chiều liên quan đến trao đổi này như Vẻ đẹp Thuý Vân và những ngộ nhậnThúy Vân “mày rậm” hay thân hình nở nang?; Ông lang Hiệu cao chọi với kho Truyện Kiều cổ nhất đất Kinh Bắc.   TS Lê Xuân Đính (Pine Le Xuan) là một nhà giáo khoa học nghề nông chuộng văn chương thích văn phong khoa học lời văn chuẩn mực đã cho rằng “nét ngài” thực chất là câu phương ngữ tiếng Nghệ đồng nghĩa với “nét người” . Điều đó có nghĩa là “khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” nên hiểu là  “khuôn trăng đầy đặn nét người nở nang”. TS Lê Xuân Đính viết: “Trong bài này Cảnh Chương phân tích rất nhiều, đưa ra rất nhiều dẫn chứng về việc dùng chữ “người” và “ngài” của Nguyễn Du, nhưng có sự nhầm lẫn rất cơ bản. Người Hà Tĩnh (thậm chí cả Nghệ An và Quảng Bình) đều dùng cả hai từ này, nhưng từ “người” là để chỉ người này, người nọ, còn từ ngài chủ yếu dùng chỉ thân xác con người, hay là đối tượng là thân hình người. Chính vì vậy mà dù có rất nhiều từ người trong truyện Kiều nhưng không thể chuyển sang từ ngài được. Còn trong câu thơ kia (nét ngài nở nang) là nói đến thân hình của Vân chứ không phải mục đích chỉ người này người nọ. Tác giả bài này đã quên rằng – quạ đen, chứ không phải đen là quạ! Và . tương tự – mày ngài, chứ không phải ngài là mày. Con nữa, tả lông mày mà dùng từ “nở nang” thì không ai công nhận ông là đại thi hào.”  

Tôi trao đổi của anh Pine Le Xuan “phản biện của anh là ý hay nhưng mình cho rằng đây là câu thơ tài hoa của Nguyễn Du như lời mình đã bình thơ với Mai Trúc Nguyễn ThịHoang To Nguyen. Câu thơ  tài hoa “khuôn trăng đầy đặn nét người nở nang” của Nguyễn Du đã dụng công dùng chữ ‘nét ngài’, để lại một câu thơ ẩn ngữ cho hậu thế.  Câu thơ tài hoa này làm nhẹ đi sự phán xét nghiêm ngặt của triều đại nhà Nguyễn đối với Nguyễn Du và họ Nguyễn Tiên Điền “Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa. Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm. Bán mình trong bấy nhiêu năm. Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai” thông qua bài thơ ‘Vịnh Thúy Kiều’ sự phán xét của Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ là người bạn, người đồng hương của Nguyễn Du đã được trích dẫn ở bài Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ; Nguyễn Du 250 năm nhìn lại; Nguyễn Công Trứ và ‘Vịnh Thúy Kiều’.  Kim Vân Kiều cũng lọt qua sự “hiệu đính” “kiểm duyệt” ngặt nghèo sau này của vua Tự Đức ‘nổi tiếng ông vua sinh chữ’  trong bản Kinh của Truyện Kiều đã không hề sửa “nét ngài’ thành ‘nét người” theo như cách hiểu của anh  Đính. Và, Truyện Thúy Kiều bản của Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ hiệu đính và giới thiệu dựa trên bản khắc in gần gũi nhất với Truyện Kiều bản phường cũng giữ là ‘nét ngài’ mà không phải là “nét người”

“Khuôn trăng đầy đặn nét người nở nang” vì sao là câu thơ tài hoa? “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” là khuôn mặt đầy đặn phúc hậu, mắt đẹp hiền hòa có “nét ngài” lông mày thanh tú, dài che trọn mắt (mi thanh mục tú, mày ngài). Hai đặc điểm này cùng với ẩn tướng “Hơi thở êm ái khi ngủ nhẹ tựa như rùa thở (quy tức). Đó là ba nét đặc biệt quý tướng, đoan chính, phúc hậu, của người nữ trong nhân tướng học rất được xem trọng. Thúy Vân có nét đẹp “trang trọng”, “đoan trang”, “phúc hậu”. “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” “hoa cười ngọc thốt đoan trang” Với quý tướng phúc hậu này, Thúy Vân trong nhân tướng học được coi là người rất chuộng cuộc sống hạnh phúc, chí thiện “đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con” “Một cây cù mộc, một sân quế hòe”. Người có tướng đoan trang phúc hậu thì tốt hơn nhiều so với người có tướng sắc sảo,  vượt trội  người khác “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”. Phúc hậu hơn thì phước lộc hơn  ‘có tài mà cậy chi tài/ chữ tài kia với chữ tai một vần’ ‘chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài’ .

“Tướng tại tâm sinh, tướng tùy tâm tính” minh triết  phương Đông chi rõ: Nhân cách thể hiện qua “tướng mạo” con người.  Một người luôn an hòa vui vẻ, lòng tràn đầy ý nghĩ tích cực thì hoàn cảnh chuyển biến thành tốt. Trái lại, nếu một người mà trong lòng luôn chứa đựng ý nghĩ tiêu cực thì hoàn cảnh xung quanh của người ấy cũng trở nên không tốt, rất nhiều mâu thuẫn sẽ nối gót nhau mà đến. Tướng tại tâm sinh là vậy. Một người tướng mạo đoan trang, lời nói và việc làm trung hậu, chính trực, không đơn thuần là dung mạo bên ngoài đẹp mà phản ảnh trực tiếp đến từ tâm tính tốt. Bảo trì thường xuyên một tâm tính tốt là phương pháp làm đẹp và thu phục lòng người hữu hiệu nhất. Một người thường xuyên vui vẻ thì nét mặt dễ chịu ôn hòa dẫu không xinh đẹp cũng rất ưa nhìn. Sức khỏe thân thể của một người thể hiện qua tướng mạo cũng là thể hiện nhân cách tâm tính của con người đó. Tướng tùy tâm tính là vậy.

Bốn phương pháp cổ điển để thầy thuốc thăm khám bệnh (Tứ chẩn) là nhìn (Vọng), nghe (Văn), Hỏi (Vấn), sờ (Thiết). Trong đó, nhìn thần sắc đứng đầu trong “Tứ chẩn” rất quan trọng trong chẩn đoán bệnh. Người mà ‘mi thanh mục tú, nét ngài nở nang’ mi dài quá mục và mi thanh mục tú nở nang đầy đặn thì người khỏe không bệnh, tâm tính tốt.  Câu thơ tài hoa này thật khéo, ‘ý tại ngôn ngoại’ có sức gợi mở sâu, chứ không là câu thơ ép vần “ngài” và “người” theo phương ngữ xứ Nghệ thông thường.

Nguyễn Du những câu thơ tài hoa có câu “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” là dụng công và có chủ ý.  Hồ Chí Minh sau này viết về Lý Công Uẩn, Nguyễn Huệ cũng có hai câu thơ ẩn ngữ tỏ ý như vậy. Trong bài ‘Lịch sử nước ta’ Hồ Chí Minh đã dùng chữ “Công Uẩn là kẻ phi thường” (Hồ Chí Minh tuyển tập, 1 (1919-1945, NXB CTQG, Hà Nội 2002, trang 596) “Nguyễn Huệ là kẻ phi thường” (Sách đã dẫn, trang 598). Hồ Chí Minh là bậc thầy văn chương. Câu thơ trên sử dụng hai làn cố nhiên là dụng công và có chủ ý.

Văn là đẹp, chương là sáng. Ngôn ngữ đẹp và sáng mới là văn hay; thơ thấm thía xúc động đọc  tự dưng thuộc mới thật sự là thơ hay. Nguyễn Trãi viết: ‘Chữ học ngày xưa quên hết dạng. Chẳng quên có một chữ cương thường’. Đối với Trần Đăng Khoa ‘thơ hay là thơ giản dị, xúc động, ám ảnh’. (Giếng Ngọc Vườn Tao Đàn, bài viết Hoàng Kim và ảnh của Hoàng Tố Nguyên).

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn

(1) Giáo sư Nguyễn Đình Chú có câu chuyện “Nhà Văn Đặng Thai Mai chọn câu Kiều hay nhất” đăng trên trang Giáo sư Trần Hữu Dũng viet-studies 1-3- 2011 được trích dẫn toàn văn tại trang DẠY VÀ HỌC 13.3.2011 của TS. Hoàng Kim trong bài “Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa

NHÀ VĂN ĐẶNG THAI MAI
CHỌN CÂU “KIỀU” HAY NHẤT

Nguyễn Đình Chú

Hè 1958, vì là trợ lý của giáo sư Đặng Thai Mai tại Khoa Văn chung của hai trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi được giao nhiệm vụ tháp tùng “ông cụ” đi nghỉ mát ở Sầm Sơn (Thanh Hóa). Trong thời gian sống cạnh Thầy, qua những chuyện đàm đạo tôi học được nhiều điều bổ ích, quý báu. Hôm đó, trong không khí thầy trò thân mật như cha con, tôi hỏi thầy:

–         Dạ! theo thầy, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, câu thơ nào hay nhất? Ông cụ nhếch mép cười – vẫn cái cười hóm nhẹ, đôn hậu, thâm thúy rất Đặng Thai Mai – trả lời ngay:

–         Câu ấy, chứ còn câu nào.

–         Dạ câu nào ạ?

–         Câu Nguyễn Du tả cơ thể Thúy Kiều:
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên
Tôi hỏi: Dạ! đây là thầy nói với em giữa bãi biển Sầm Sơn lộng gió ban chiều, chứ về giảng đường đại học, thầy có nói như vậy không ạ, với mọi người sinh viên? Thầy tôi đã nghiêm mặt lại, nói với một giọng cương quyết có pha chút gay gắt: sao lại không? Tôi hơi sợ và không dám thả giọng bông lơn gì thêm. Câu chuyện đó xảy ra cách đây 34 năm. Và sau đó, trong quan hệ thầy trò đã bao phen gần gũi, cho đến ngày thầy qua đời, tôi cũng không bao giờ trở lại trò chuyện với thầy về hai câu thơ Kiều hay nhất này nữa. Nhưng trong lòng thì vẫn vương vấn, vẫn nhiều lần suy nghĩ về cách chọn của người thầy, nhà văn, vị học giả- mà trí thức Việt Nam, dù theo chính kiến nào cũng kính nể này.

Hẳn là từ lâu, đến với Truyện Kiều, người Việt Nam vẫn có thú chơi, thi nhau chọn và giải thích câu Kiều nào hay nhất (chứ không phải hay duy nhất). Và dĩ nhiên là đã có nhiều cách chọn. Không ít người đã chọn 2 câu:

Dưới câu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

Hai câu thơ này hay là ở giá trị tâm lý đi đôi với giá trị tạo cảnh và tạo hình là để tạo tình. Nguyễn Du viết hai câu thơ này là nhằm gói lại cái chuyện Kim Kiều vừa gặp nhau buổi đầu đã chớm nở một mối tình trong sáng tuyệt trần. Có điều, đây đang là “tình trong”, chưa phải “tình ngoài”: “Tình trong như đã mặt ngoài còn e” đó mà nói ra là Kim Kiều đã yêu nhau thì quả là tồ, chẳng tế nhị gì. Nguyễn Du thiên tài – mà ở ông, trước hết là có một khả năng vào bậc thánh trong việc nhận thức và phản ánh tâm lý con người trong sáng tạo nghệ thuật, sẽ không bao giờ, dù là một lần, sa vào sự thô thiển đó. Ông đã gói chuyện lại bằng hai câu thơ tả cảnh mà riêng hình thức tả cảnh này đã là một sự thích ứng không thể nào hơn với trạng thái “tình trong” kia. Nguyễn Du đã lấy cái kín, để nói cái kín, nhưng đâu phải kín bưng, kín mít để không ai hiểu ra chuyện gì trong đó nữa? Với Nguyễn Du, trong trường hợp này, kín mà vẫn hở. Thế mới thành chuyện. Trong hai câu thơ tả cảnh này, cái độ “trong veo” của giòng “nước chảy” dưới cầu kia là gì? Những cành liễu bên cầu có lá dài, mềm như tơ rủ xuống, bóng liễu ban chiều ngả dài hòa quyện với giòng nước “trong veo” xuôi chảy, chập chờn “thướt tha” và không đứt kia là gì? Từ đâu ra ? Nếu không phải là từ cái “tình trong như đã mặt ngoài còn e” trong sáng tuyệt trần đó.

Nói hai câu Kiều này là hay nhất, rất đúng. Nhưng không ít người còn chọn hai câu  này:

Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Hai câu thơ thật là đơn giản. Tưởng như ai cũng làm được.Ấy nhưng hoàn toàn không. Phụ nữ, đàn bà Việt Nam khổ, tự đời nảo đời nào, nhưng văn chương Việt Nam trước Nguyễn Du đã nói gi được nỗi “đau đớn” đó? – Có. Văn học dân gian đã nói nhiều, nhưng thiếu độ khái quát. Riêng văn học viết, văn học bác học thì đến trước thời  Nguyễn Du một ít và cùng thời Nguyễn Du mới cất tiếng được, nhưng cũng chưa ai nói đến độ là quy luật là “lời chung” , là cái “phận” đàn bà “đau đớn thay” này. Mà Nguyễn Du đâu chỉ nói về cái “bạc mệnh” của cái phận đàn bà Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Mộng Liên Đường chẳng đã nhận xét rất đúng: Nguyễn Du có con mắt trông thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ tới muôn đời” đó sao. Trên trái đất này, ở đâu và lúc nào, với quá khứ đã đành, còn với hiện tại và tương lai, chả lẽ tiếng kêu xé lòng của Nguyễn Du trong hai câu thơ này đã thôi không cần thiết? Nói hai câu Kiều này là hay nhất, cũng rất đúng.

Nhưng hãy trở lại với hai câu Kiều mà học giả Đặng Thai Mai đã chọn. Phải nói ngay, đây là một hình tượng khỏa thân không có trong Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm tài nhân – Trung Quốc và là độc nhất vô nhị trong lịch sử văn chương Trung đại Việt Nam. Đến hôm nay, dù văn chương Việt Nam đã bắt đầu không né tránh cái thứ của “cấm” ấy nữa nhưng tôi vẫn có thể tin chắc mà nói rằng: chưa một ái xứng đáng là học trò của Nguyễn Du trong chuyện này. Con người trong đó bao gồm hai giống đực và cái, là một thực thể tự nhiên trước khi là một thực thể xã hội và vẫn là thực thể tự nhiên trong khi đã trở thành thực thể xã hội. Trong muôn vàn thực thể tự nhiên, con người là thực thể đẹp nhất, vô song. Đó là chân lý tuyệt đối. Nhưng nhân loại không phải ở đâu lúc nào cũng dễ phát hiện được chân lý đó, kể cả hôm nay. Không tính đến tín ngưỡng thờ Linga, thờ sinh thực khí có mặt từ thời cổ tại một số nước, thì có thể nói là phương Tây đặc biệt là thời đại Phục hưng, đã đi trước nhân loại trong việc phát hiện, nhận thức chân lý này. Chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng ở phương Tây, từ chỗ thoát ra khỏi tư tưởng thần quyền của thời trung cổ cho rằng chúa sáng tạo ra muôn loài (trong đó có loài người) đã đi đến ý tưởng cao đẹp: Con người trước hết là con người tự nhiên, con người chưa cần mặc quần áo-là trung tâm của vũ trụ. Một hệ thống quan điểm triết học mang tính nhân văn cao đẹp đã được hình thành, phát triển từ ý tưởng cốt lõi đó. Một thời đại văn minh huy hoàng thông qua vai trò sáng tạo của nhiều thiên tài “khổng lồ”của thời đại Phục hưng trên các lĩnh vực văn hóa, khoa học, nghệ thuật…là sản phẩm thực tiễn của nền triết học nhân văn vĩ đại đó. Nói riêng , trong nghệ thuật (đặc biệt là điêu khắc, hội họa), nghệ thuật khỏa thân phát triển và đã để lại nhiều thành tựu kiệt xuất có giá trị vĩnh hằng đối với nhân loại, cũng là nhờ có sự phát hiện chân lý trên về con người tự nhiên. Cũng cần nói thêm, ở đây không chỉ có sự cao cả, sự thăng hoa, mà còn có sự đê hèn, thú vật. Tất nhiên, đã là đê hèn, thú vật thì chẳng còn gì là nghệ thuật mặc dù vẫn có từ nghệ thuật kiêu dâm, đáng phỉ nhổ.

Ở Việt Nam ta, trong suốt thời trung đại, với hoàn cảnh chế độ phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, với sự chi phối nặng nề của đạo Nho, kể cả đạo Phật, con người tự nhiên (cũng như con người cá thể: L’ individu), theo quan niệm nhân văn cao đẹp như trên, có thể nói là chưa được phát hiện. Ít ra, trong phạm vi văn học là như vậy. Dù đã có một truyện cổ tích Chử Đồng Tử trong đó có cuộc gặp gỡ kỳ thú của hai con người tự nhiên, một đực một cái, Chử Đồng Tử và Tiên Dung mà thực ra chưa được hình tượng hóa. Dù đã có một bài thơ “Thiếu nữ ngủ ngày” của bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương, thật là táo bạo nhưng vẫn dừng lại ở mức độ hớ hênh, vô ý, vừa đủ khêu gợi sự thèm thuồng của các bậc “quân tử” đạo đức giả mà thôi. Tất cả, có lẽ chỉ có thế. Cho nên mới nói Nguyễn Du là người tạo ra bức tranh khỏa thân phụ nữ độc nhất vô nhị trong lịch sử văn học thời trung đại ở Việt Nam. Nhưng điều quan trọng đáng nói hơn là Nguyễn Du đã vẽ lên hình tượng khỏa thân đó với tất cả sự trong sáng tuyệt vời mà quan niệm nhân văn cao cả, đòi hỏi. Nhìn vào thủ pháp văn chương của Nguyễn Du sẽ thấy rõ điều đó.  Nếu với hai câu “Dưới cầu nước chảy trong veo; Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”, Nguyễn Du đã dùng thủ pháp kín nhưng hở , thì ở hai câu thơ vẽ tranh khỏa thân nàng Kiều này ông làm ngược lại, hở nhưng kín. Ông nói “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà; Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”, nghĩa là cơ thể nàng đẹp tuyệt trần, đẹp đến mê người như thế nhưng nào nó là cái gì cụ thể đố ai biết. Nguyễn Du nói “rõ ràng” mà chẳng rõ ràng gì. Hai chữ “rõ ràng” của Nguyễn Du cứ như là một sự đánh lừa người đọc, nhưng là sự đánh lừa hóm hỉnh, dễ thương, mà xét cho cùng chính là chuyện ông tự giữ cho mình mà cũng là giữ cho người đọc, ở sự trong sáng của tâm hồn. Khi đến với bức tượng khỏa thân này, người đọc cứ tha hồ mà tưởng tượng, tự hình dung, tự chiêm ngưỡng. Thế là đủ. Không nên khác nữa. Và đến đây thì có thể nói thêm thế này được chăng? Tung ra một bức tượng khỏa thân của Thúy Kiều như trên vừa nói, quả là Nguyễn Du như ném một trái bom nguyên tử vào thành trì ý thức hệ phong kiến vốn là kiên cố trong lịch sử Việt Nam thời trung đại (mà đâu chỉ Việt Nam). Nếu đúng vậy thì cách chọn hai câu Kiều của sư phụ tôi: nhà văn-học giả Đặng Thai Mai, không chỉ là đúng mà còn là cao siêu. Xin được nhắc lại: đây là chuyện đã xảy ra vào mùa hè 1958, cách đây 34 năm mà mọi người biết, bấy giờ trên sách báo Mác xít, trong các giảng đường đại học tại Hà Nội, cũng như ngoài xã hội, người ta quan niệm như thế nào về cái thứ “của cấm” này. Tôi chỉ tiếc là hôm nay sư phụ (thầy cũng như cha) của tôi đã không còn nữa ở thế giới này để lại chỉ bảo, chấm bài viết này cho tôi như thuở nào, vẫn chấm bài, vẫn chỉ bảo lúc tôi là học trò, là trợ lý của thầy. Tôi xin bù lại sự mất mát đó bằng cách nhờ bạn đọc xét, thẩm định cho vậy./.
Cuối thu 1992
Nguồn: viet-studies 1-3- 2011

(2) Nhà ngôn ngữ học tiếng Việt cũng là nhà giáo Cảnh Chương trong bài Trao đổi về “nét ngài” của Thúy Vân trong Truyện Kiều đã tiếp tục mạch trao đổi về cách hiểu sự mô tả của Nguyễn Du về hình dáng nhân vật Thúy Vân. Trước đó nhiều tác giả cũng đã có loạt bài của bình về Truyện Kiều như Vẻ đẹp Thuý Vân và những ngộ nhậnThúy Vân “mày rậm” hay thân hình nở nang?; Ông lang Hiệu cao chọi với kho Truyện Kiều cổ nhất đất Kinh Bắc. Các thông tin này đăng trên trang Giáo Dục Việt Nam và được trích dẫn tại trang TÌNH YÊU CUỘC SỐNG 16.12.2012 của TS. Hoàng Kim trong bài “Nguyễn Du những câu thơ tài hoaTRAO ĐỔI VỀ NÉT NGÀI THÚY VÂN TRONG TRUYỆN KIỀU

Cảnh Chương

Trên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 22/01/2015 có bài viết của tác giả Huy Thư: Thúy Vân mày rậm hay thân hình nở nang?, bài viết khiến tôi nhớ lại cuộc tranh luận cũng về nội dung này cách đây hơn 10 năm (vào tháng 9/2003) trên một tờ báo giấy,… Khi đó tôi đang còn là sinh viên và rồi câu chuyện cũng lùi dần, bây giờ đọc bài viết của tác giả Huy Thư cảm thấy thú vị; trong thời điểm hiện tại có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn, tôi xin được chia sẻ một vài ý kiến với tác giả và độc giả như sau:

Về phương diện chữ

Trong các bản Truyện Kiều đều phân biệt rõ chữ “ngài” có bộ “trùng” (虫):chỉ “con ngài” với chữ “người” có bộ “nhân đứng”(人)chỉ người. Trong Truyện Kiều có hơn 200 từ “người” (chính xác là 225 chữ – Trừ bản Kinh thời Tự Đức 1870 chép câu 20 là “Khuôn lưng đầy đặn, nét người nở nang”) đều viết có bộ “nhân” và có 5 chữ “ngài” đều có bộ “trùng” để chỉ “mày ngài” (ở các câu: 20, 927, 1213, 2167, 2274), xuất phát từ chữ “nga my” (蛾眉): “Nghĩa là râu của con ngài, chỉ lông mày của người con gái đẹp, cong vút và dài như râu con ngài ( đôi khi chỉ cả lông mày đàn ông ): “Mày ngài lẫn mặt rồng lồ lộ, sắp song song đôi lứa nhân duyên” (Cung oán ngâm khúc ). “Đa tình chi mấy bạn nga my” ( Nguyễn Công Trứ )”. (Xin xem Hán Việt từ điển: Thivien.net).

Toàn bộ “Truyện Kiều” có 05 chữ “ngài”. Chữ “ngài” ở câu 20 nói về Thúy Vân như ta đã biết; chữ “ngài” ở câu 927 để chỉ các cô gái lầu xanh khi Kiều bị họ Mã đưa đến lầu xanh và thấy: “Bên thì mấy ả mày ngài/ Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi”; chữ “ngài” ở câu 1213 để chỉ Tú Bà dạy Kiều về làm nghề “Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” để thu hút khách, luyện tập thể hiện ánh mắt, nét mày: khi mắt liếc, khi mày đưa: “Khi khóe hạnh, khi nét ngài/ Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa”; chữ “ngài” ở câu 2167 để miêu tả lông mày Từ Hải: “Râu hùm, hàm én, mày ngài”; và chữ “ngài” cuối cùng trong Truyện Kiều ở câu 2274 cũng nói về Từ Hải: sau khi “nửa năm hương lửa đương nồng” phải chia tay Kiều vì “Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương”, Từ Hải với “Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong” ra trận, thắng trận và trở về đón rước Kiều, Kiều nhận ra Từ vẫn như xưa với: “Rỡ mình, là vẻ cân đai/ Hãy còn hàm én, mày ngài như xưa”.

Thúy Vân “mày rậm” hay thân hình nở nang?
(GDVN) – Một câu thơ 6 chữ của đại thi

Như vậy trong hệ thống từ dùng của Truyện Kiều, chữ “ngài” đều có bộ “trùng” và thống nhất để chỉ lông mày. Việc hiểu chữ “nét ngài” để chỉ dáng người theo cách phát âm của tiếng Nghệ là khó có khả năng xảy ra. 05 chữ “ngài” trong Truyện Kiều đã thống nhất một ý khẳng định rõ điều đó. Vì khi viết chữ Nôm khác với viết chữ quốc ngữ như chúng ta đang dùng, có sự phân biệt bộ rõ ràng. Hơn nữa đặt giả thiết: trong hơn 200 chữ “người” trong Truyện Kiều có những lúc tác giả có thể chuyển là “ngài” để vừa hợp gieo vần vừa biểu ý nhưng nhà thơ đã không viết như vậy. Những câu như:

 …Chung quanh những nước non người,
Đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu.”

“… Nàng rằng: Muôn sự ơn người,
Thế nào xin quyết một bài cho xong. “

-“… Khi về hỏi liễu Chương-đài,”
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay!”

-“…Chiến hòa sắp sẵn hai bài,
Cậy tay thầy thợ mượn người dò la.”

-“…Thúc ông sùi sụt ngắn dài,
Nghĩ con vắng vẻ thương người nết na.”

-“… Thuê năm ngư phủ hai người,
Đóng thuyền chực bến kết chài giăng sông.”

-“…Trông lên linh vị chữ bài,
Thất kinh mới hỏi: Những người đâu ta?”

-“… Hai em phương trưởng hòa hai,
Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa! “

Đều có thể chuyển chữ “người” thành chữ “ngài” theo cách đọc của tiếng Nghệ để hợp vần, nhưng tác giả hoặc các bản Kiều đều không khắc in như thế (hiện nay vẫn chưa phát hiện bản gốc của tác giả). Thậm chí đặc biệt như câu:

Quây nhau lạy trước Phật đài,
Tái sinh trần tạ lòng người từ bi.”

Có thể chuyển đổi chữ “người” thành chữ “ngài” (theo cách phát âm tiếng Nghệ) vừa hợp vần vừa ý nghĩa: chữ “Ngài” sẽ thể hiện sự kính trọng đối với Phật. Nhưng tác giả vẫn viết là “người” mà không theo cách đọc của tiếng Nghệ. Và, một điểm cũng phải để ý rằng Nguyễn Du có quê gốc ở Nghệ Tĩnh nhưng ông sinh ra và lớn lên ở Thăng Long, rồi ở nhờ quê vợ Sơn Nam Hạ (Thái Bình), sau đó làm quan ở Quảng Bình, Huế…; tính ra thời gian ông ở Tiên Điền chỉ khoảng 7 năm trong cuộc đời 54 năm tài hoa đó.

Về bút pháp

Văn học trung đại thường dùng bút pháp ước lệ, tượng trưng. Nguyễn Du khi sáng tác cũng dùng hệ thống bút pháp đó. Các tác giả trung đại khi nói đến người quân tử thường so sánh với tùng, cúc, trúc; viết về người con gái đẹp thường dùng hình ảnh của “liễu yếu đào tơ”, là mai, là cúc (“Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai” – Truyện Kiều). Trong truyện thơ các nhà thơ phân làm hai hệ thống nhân vật: chính diện và phản diện. Nhân vật chính diện thường được dùng thiên nhiên để ước lệ, miêu tả; nhân vật phản diện thường dùng hiện thực để miêu tả.

Bởi vậy khi Nguyễn Du miêu tả chị em Thúy Kiều, nhà thơ đã dùng: Mai ví với “cốt cách” của hai nàng, dùng “tuyết” ví với “tinh thần”, mây với “tóc”, tuyết với “màu da”. Khi miêu tả Kim Trọng, nhà thơ cũng dùng tự nhiên làm chuẩn mực: “Đề huề lưng túi gió trăng… Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời… Một vùng như thể cây quỳnh cành dao”. Trong khi đó, miêu tả những nhân vật như Mã Giám sinh, Nguyễn Du dùng những hình ảnh hiện thực trần trụi: “Quá niên trạc ngoại tứ tuần/ Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”. Đặc biệt nhà thơ miêu tả Tú Bà thể hiện rất rõ bản chất con người và nghề nghiệp của mụ: “Thoắt trông nhờn nhợt màu da/ Ăn chi to lớn đẫy đà làm sao”. Bởi vậy khi miêu tả Thúy Vân, Nguyễn Du không thể dùng “nét ngài” để chỉ dáng người nở nang đầy “hiện thực” của Thúy Vân được mà chỉ có thể là nét mày ngài.

Bút pháp ước lệ, tượng trưng này nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng dùng để miêu tả Nguyệt Nga và Kim Liên trong tác phẩm nổi tiếng “Lục Vân Tiên”: “Con ai vóc ngọc mình vàng/ Má đào mày liễu dung nhan lạnh lùng”. Và nhà thơ đất Đồng Nai cũng dùng “mày tằm” để miêu tả Lục Vân Tiên:

Liếc coi tướng mạo Vân Tiên,
Khá khen họ Lục phước hiền sinh con.
Mày tằm mắt phụng môi son,
Mười phân cốt cách vuông tròn mười phân.

(Còn khi nhà thơ miêu tả Bùi Kiệm – tên phản bạn, máu dê, ép duyên Nguyệt Nga thì rất thông tục: “Còn người Bùi Kiệm máu dê/ Ngồi chai bề mặt như sề thịt trâu…).

Qua cách miêu tả Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta đã có thể có thêm cơ sở để lý giải thêm về vấn đề giữa “nét ngài” của Thúy Vân và “mày ngài” của Từ Hải. Đó là vì các nhà thơ trung đại đã dùng bút pháp tượng trưng, chỉ chung cho lông mày của nam và nữ. Hơn nữa, ở đây có một sự thống nhất ở hai nhà thơ Nguyễn Du và Nguyễn Đình Chiểu, và chúng tôi mượn cách lí giải của nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo khi nói về “mày ngài” của Từ Hải: “…mày ngài, nếu hiểu theo cái nghĩa duy nhất có thể có của nó, chỉ hợp với giai nhân hay thư sinh chứ không hợp với Từ Hải. Vì đã là đấng anh hùng như Từ thì phải “hổ đầu, yến hạm, ngoạ tàm my” như Quan Vũ mới được. Nếu hiểu mày ngài theo nghĩa đúng của nó thì sẽ sai mất điển tích. Quả có vậy. Nhưng nếu vì một lý do nào đấy Nguyễn Du không muốn lấy trọn, mà chỉ muốn lọc lấy một phần thôi, thì sao? Nếu ông hình dung Từ Hải không giống như Quan Vũ, mà lại giống như… Từ Hải (của Thanh Tâm Tài Nhân chẳng hạn) thì sao?”.

Và nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo dẫn đoạn duy nhất có miêu tả dung mạo của Từ Hải ở hồi XVIII trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân như sau: “Bạch diện tú my (mặt trắng, mày đẹp); hổ đầu yến hạm” (đầu hùm, hàm én), và bình: “bức phác hoạ chân dung này dường như chia làm hai phần, một phần là những nét của một thư sinh, một phần là những nét của một võ tướng”. Cao Xuân Hạo lại dẫn đoạn tiểu sử của Từ Hải ở hồi XVII: “Chàng tinh cả lục thao tam lược, nổi danh cái thế anh hùng, trước vốn theo nghề nghiên bút, thi hỏng mấy khoa, sau xoay ra buôn bán. Tiền của có thừa, hay giao du với giới giang hồ hiệp khách…?” là đoạn có thể biện minh cho bức chân dung lưỡng diện của Từ Hải. Ông nghĩ: “Và ta có cơ sở để giả định Nguyễn Du chấp nhận bức chân dung song diện này chứ không đồng nhất tướng mạo của Từ Hải với tướng mạo của một Quan Vân Trường, vì ông sống ở một thời đại có đủ điều kiện để chấp nhận và thưởng thức một kiểu nhân vật không vẹn thuần như thế. Nếu vậy, ta có thể hiểu rằng những nét thư sinh trong dung mạo của Từ Hải đã được Nguyễn Du phác bằng hai chữ “mày ngài”. Nguyễn Du đã bỏ nét “bạch diện” có lẽ vì nó không hợp với một con người suốt mười năm “phong trần mài một lưỡi gươm” và cũng không gây được mỹ cảm bao nhiêu, nhất là khi được diễn đạt bằng hai từ Việt “mặt trắng”. Còn Tú My mà diễn bằng “mày ngài” thì chắc cũng đủ thỏa mãn những độc giả khó tính” (Cao Xuân Hạo: Nghĩa của “ mày ngài” trong câu thơ “ râu hùm, hàm én, mày ngài” in trong Đào Thái Tôn: Văn bản Truyện Kiều – nghiên cứu và thảo luận, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001; các trích dẫn ở tr. 494, 495, 496).


Vẻ đẹp Thuý Vân và những ngộ nhận

(GDVN) – Mở đầu Truyện Kiều có đoạn tả tài sắc hai thiếu nữ nhà họ Vương, trong đó 4 câu, từ 19 đến 22 là để tả Thuý Vân; riêng câu 20 đã gây nhiều tranh luận …

Cũng như vậy, ở “Lục Vân Tiên”, Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả Lục Vân Tiên là một chàng trai tuấn tú, văn võ song toàn: “Văn đà khởi phụng đằng giao/ Võ đã tam lược sáu thao ai bì” cho nên hình ảnh của Lục Vân Tiên là: “Mày tằm mắt phụng môi son/ Mười phân cốt cách vuông tròn mười phân”. Đó là cách miêu tả ước lệ, tượng trưng nét “song diện” (chữ dùng của GS. Cao Xuân Hạo), văn võ song toàn của Lục Vân Tiên chứ không phải là như miêu tả một hổ tướng hữu dũng. Và như vậy, trong hình ảnh ước lệ, người đọc có thể chấp chận được.

Đặt trong tổng thể tác phẩm và tổng kết

Trong suốt tác phẩm “Truyện Kiều”, Nguyễn Du muốn nói đến thuyết “tài mệnh tương đố” (Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau) và Kiều là nhân vật thể hiện thuyết đó của Nguyễn Du. Một người tài sắc vẹn toàn như nàng Kiều sẽ bị trời xanh đố kỵ, ghen ghét và phải chịu “nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa”. Trong 24 câu thơ, từ câu 15 đến câu 38, giới thiệu và miêu tả chị em Thúy Kiều và Thúy Vân thì bốn câu đầu là lời giới thiệu chung hai chị em đều có vẻ đẹp “mười phân vẹn mười” và “mỗi người một vẻ” nhưng đều có “cốt cách” của “mai”, “tinh thần” như “tuyết”:

Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.

Chi tiết thứ nhất: “mai cốt cách” đã không thể hiểu nàng Thúy Vân sẽ có một thân hình, “nét người” nở nang được.

Sau đó, nhà thơ dùng thủ pháp “vẽ mây nẩy trăng”, dùng bốn câu thơ tiếp để miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân (không miêu tả tài):

Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

Để rồi làm nổi bật nàng Thúy Kiều:

Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.

Như vậy phần hơn của Kiều là cả tài và sắc. Trong suốt 16 câu tiếp theo nhà thơ nói rõ điều đó. Trong khi Nguyễn Du không miêu tả tài của Thúy Vân thì đối với Thúy Kiều, nhà thơ nhắc đến cả tài thơ, họa, ca ngâm, đặc biệt là tài đàn, Kiều còn tự sáng tác một “Thiên bạc mệnh”. Cuối cùng nhà thơ nhấn mạnh: “Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”. Tài của nàng Kiều có thể tìm người thứ hai nhưng sắc thì chỉ có một. Điều đó Nguyễn Du đã nhấn mạnh đến cái nguyên nhân cái cốt lõi của “Tài mệnh tương đố” ở con người bạc mệnh này. Nét đẹp sắc sảo cùng với cái tài, tình của Kiều đã bị trời xanh “đánh ghen”, đày đọa.

Chính vì vậy, nét đẹp “mỗi người một vẻ” là nét đẹp sắc sảo ở Kiều và nét đẹp “trang trọng”, “đoan trang” hồn hậu ở Vân. “Khuôn trăng đầy đặn” của Vân chỉ có thể phù hợp cân đối với “nét mày ngài” nở nang, tươi sáng, phúc hậu; thêm vào đó là nụ cười như hoa, lời nói như “ngọc thốt đoan trang” … tất cả rất lôgic. Con người Thúy Vân phúc hậu, không quá “sắc sảo” đó đã không bị “tài tình chi lắm cho trời đất ghen” như quan niệm của nhà thơ cũng như của thời đại, bởi vậy đã có được một cuộc sống hạnh phúc cùng Kim Trọng với “Một cây cù mộc, một sân quế hòe”:

Một nhà phúc lộc gồm hai,
Ngàn năm dằng dặc quan giai lần lần.
Thừa gia chẳng hết nàng Vân,
Một cây cù mộc một sân quế hòe .
Phong lưu phú quý ai bì,
Vườn xuân một cửa để bia muôn đời.

Có thể thấy, từ phương diện chữ, đến bút pháp, đến nội dung ý nghĩa chỉnh thể của tác phẩm, chúng ta đều có cơ sở để khẳng định thêm cách miêu tả của Nguyễn Du đối với nàng Thúy Vân. Và bởi vậy, nên chăng hiểu “nét ngài” là hình ảnh “nét mày ngài” của nàng Vân hơn là nét người, dáng người của nhân vật này.   CẢNH CHƯƠNG  

(3) Giếng Ngọc Tao Đàn và chuyện cổ (Hoàng Kim)

TƯỚNG TẠI TÂM SINH, TƯỚNG TÙY TÂM TÍNH

Cổ nhân giảng: “Tướng do tâm sinh”. Kỳ thực, tướng ở đây không chỉ là “tướng mạo” mà còn là hoàn cảnh xung quanh của một người. Nếu một người mà trong lòng luôn vui vẻ và tràn đầy ý nghĩ tích cực thì hoàn cảnh liền lập tức chuyển biến thành tốt. Trái lại, nếu một người mà trong lòng luôn chứa đựng ý nghĩ tiêu cực thì hoàn cảnh xung quanh của người ấy cũng trở nên không tốt, rất nhiều mâu thuẫn sẽ nối gót nhau mà đến.

Tướng tại tâm sinh

Chúng ta trong cuộc sống hàng ngày, thường gặp phải không ít người luôn mang tâm oán trách. Họ oán trách công việc quá nhiều, oán trách bạn bè không hiểu mình, thậm chí trời mưa hay trời nắng cũng oán trách… Họ không biết được rằng, oán trách là một loại cảm xúc xấu nhất khiến mối quan hệ căng thẳng và mâu thuẫn trở nên kịch liệt hơn. Nó không chỉ khiến cho sức khỏe của chính bản thân người ấy xấu đi mà còn khiến người thân bạn bè dần dần xa lánh họ.

Mục sư người Mỹ – Will Bowen đã viết trong cuốn “A Complaint Free World” (Thế giới không có lời phàn nàn) rằng, những người phàn nàn quanh năm cuối cùng có thể bị cô lập và bị mọi người xung quanh xa lánh. Oán giận là một loại độc dược. Nó có thể làm giảm nhiệt huyết, phá hủy ý chí, hạ thấp địa vị, hủy hoại cả tâm và thân của con người. Cho nên, oán trách vận mệnh chi bằng hãy cải biến vận mệnh, oán trách cuộc sống chi bằng hãy cải thiện cuộc sống!

Trong “Thế giới không có lời phàn nàn” có một ví dụ thực như thế, một người vì “không oán trách” mà đã cải biến được vận mệnh của mình. Tại một thành phố của nước Mỹ, có một vị khách trung niên bắt taxi đến sân bay. Sau khi lên xe, vị này phát hiện ra chiếc xe mà mình đang đi không chỉ có vẻ ngoài bắt mắt mà bố trí trong xe cũng rất ngăn nắp, trang nhã. Tài xế ăn mặc rất chỉnh tề, lịch sự. Khi xe vừa chạy, ông ấy liền nhiệt tình hỏi hành khách xem độ ấm trong xe đã thích hợp chưa? Không lâu sau, ông lại hỏi hành khách muốn nghe nhạc hay radio? Hành khách lựa chọn nghe nhạc và một đoạn hành trình thoải mái của hai người bắt đầu. Khi xe dừng trước một đèn đỏ, lái xe quay đầu lại và bảo cho vị khách biết trên xe có tờ báo buổi sáng và tạp chí định kỳ. Ngoài ra, phía trước còn có một tủ lạnh nhỏ, trong tủ lạnh có nước trái cây và cocacola, hành khách có thể tự lấy dùng, nếu muốn uống cà phê, bên cạnh cũng có bình thủy chứa cafe nóng.

Người tài xế mở lời: “Tôi là một người dễ nói chuyện, nếu anh muốn nói chuyện phiếm thì tôi có thể nói cùng anh. Nếu anh muốn nghỉ ngơi hoặc ngắm phong cảnh, tôi sẽ yên lặng lái xe, không quấy rầy anh.” Sự phục vụ đặc biệt này khiến vị khách thực sự ngạc nhiên, anh không khỏi nhìn vị tài xế thắc mắc, khó hiểu. Vị khách cất lời hỏi: “Từ bao giờ anh bắt đầu sự phục vụ này vậy?” Trầm mặc một lát, vị tài xế nói: “Thực ra, khi mới bắt đầu, xe của tôi cũng không có cung cấp dịch vụ toàn diện như bây giờ. Tôi cũng chỉ giống những người khác, hay phàn nàn, thường xuyên càu nhàu khách, phàn nàn chính phủ bất tài, phàn nàn tình hình giao thông không tốt, phàn nàn xăng quá đắt đỏ, phàn nàn con cái không nghe lời, phàn nàn vợ không hiền thục… cuộc sống mỗi ngày quả thực là ảm đạm.

Nhưng một lần, tôi vô tình nghe được một cuộc đàm thoại về cuộc sống trong một tiết mục quảng cáo. Đại ý là nếu bạn muốn thay đổi thế giới, thay đổi cuộc sống của bạn, đầu tiên hãy thay đổi chính mình. Nếu bạn cảm thấy luôn không vừa lòng thì tất cả những chuyện phát sinh đều khiến bạn cảm thấy như gặp xui xẻo. Trái lại nếu bạn cảm thấy hôm nay là một ngày may mắn, như vậy hôm nay mỗi người bạn gặp phải, đều có thể là quý nhân của bạn. Cho nên tôi tin rằng, nếu tôi muốn vui vẻ, phải thôi phàn nàn, phải thay đổi chính mình. Từ thời khắc đó, tôi quyết định sẽ đối xử tử tế với mỗi hành khách của mình.

Năm thứ nhất, tôi sửa sang xe trong ngoài sạch sẽ, trang trí mới hoàn toàn. Tôi luôn nở nụ cười với mỗi hành khách, kết quả là thu nhập năm đó của tôi tăng lên gấp đôi.

Năm thứ hai, tôi dùng lòng chân thành của mình để quan tâm chia sẻ niềm vui cũng như nỗi buồn của khách hàng. Đồng thời tôi cũng khoan dung và thăm hỏi khách hàng nhiều hơn. Thu nhập năm thứ hai của tôi tăng gấp đôi năm thứ nhất. 

Đến năm thứ ba, cũng chính là năm nay tôi đã biến chiếc xe của mình thành một chiếc xe “5 sao” độc nhất này. Ngoài thu nhập tăng lên, hiện tại khách hàng mà tôi chở phần lớn đều là khách quen.

Đến nơi, tài xế xuống xe, ra phía sau giúp hành khách mở cửa, cũng đưa một tấm danh thiếp đẹp, nói: “Mong lần sau có thể tiếp tục phục vụ anh.” Kết quả, việc làm ăn của anh tài xế không hề bị ảnh hưởng khi nền kinh tế trở nên đình trệ. Anh đã thay đổi, không chỉ sáng tạo ra một nguồn thu nhập tốt, mà còn tạo nên một cuộc sống bình yên như vậy.

Cuộc đời là một chuyến lữ hành, mỗi chúng ta đều có cơ hội trở thành tài xế, nghênh đón những vị khách đi ngang qua đời ta. Có lẽ chúng ta sẽ không thể luôn gặp những vị khánh hiền hòa, nhưng chúng ta có thể làm một người tài xế tốt bụng, dù không tránh được đoạn đường kẹt xe, nhưng có thể dùng tâm tình vui vẻ, cùng nhau hưởng thụ một đoạn hành trình hạnh phúc và ấm áp.

Tướng tùy tâm tính

Một nhà tâm lý học người Mỹ đã nói rằng: Lực hấp dẫn của một người không phải đơn thuần đến từ dung mạo bên ngoài mà là trực tiếp đến từ tâm tính. Bảo trì một tâm tính tốt là phương pháp làm đẹp hữu hiệu nhất.

Các nhà tâm lý học nước Mỹ gần đây đã làm một nghiên cứu để đánh giá sự ảnh hưởng của dung mạo bên ngoài và bên trong của một người đối với người tiếp xúc. Trong nghiên cứu họ đã ghi hình một số nhóm người. Ban đầu, một số nhóm người này được dẫn vào một căn phòng riêng biệt, rồi từng người sẽ tự giới thiệu về bản thân.

Sau đó họ mời một số người không quen biết những người giới thiệu này, căn cứ vào video ghi hình và chấm điểm cho từng người. Những căn cứ để chấm điểm là hình dáng bên ngoài, biểu hiện cảm xúc, kỹ năng giao tiếp, cuối cùng đánh giá xem bản thân mình có yêu thích người ấy hay không. Kết quả cho thấy, những nhân tố bên ngoài có sức ảnh hưởng nhỏ nhất, những nhân tố tích cực bên trong lại có sức ảnh hưởng lớn nhất đối với người tiếp xúc.

Tâm tình tốt hay xấu đều sẽ thể hiện hết ra ở khuôn mặt

Các chuyên gia cho rằng, khi trong lòng cảm thấy vui vẻ, dễ chịu, lượng máu chảy về phía bề mặt da sẽ tăng lên làm cho sắc mặt hồng hào và sáng bóng hơn. Những trạng thái cảm xúc không tốt như căng thẳng, ức chế, hốt hoảng, sợ hãi sẽ làm rối loạn nội tiết khiến cho lượng máu cung cấp cho da sẽ giảm đi. Từ đó, khiến sắc mặt mất đi vẻ sáng bóng mà trở nên khô, thậm chí xuất hiện nếp nhăn. Nếu như tâm tình không tốt kéo dài trong một thời gian sẽ làm suy nhược thần kinh, mất ngủ, làm da bị lão  hóa.

Ngoài ra, sự bài tiết hormone do thần kinh chi phối, nên vào lúc tâm tình không vui, thì tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn bị ức chế, khiến sự bài tiết dầu trên da bị bất thường. Nó cũng làm cho lỗ chân lông to hơn, da trở nên nhão hơn. Đây cũng là một nguyên nhân gây ra các bệnh về da.

Nếu như một người thường xuyên vui vẻ, thì vẻ mặt sẽ dễ chịu, tường hòa. Đây là nguyên nhân vì sao có một số người có khuôn mặt cũng không phải xinh đẹp xuất chúng nhưng lại rất ưa nhìn.

Tướng do tâm sinh, người tâm thiện có vẻ mặt hiền lành

Trong tướng thuật, “tướng” thông thường là chỉ tướng mặt, cũng đại thể là chỉ toàn bộ tướng mạo. “Tướng do tâm sinh” là có ý nói rằng, một người có tâm tính như thế nào thì sẽ có tướng mạo như thế ấy. Tâm tư (ý nghĩ) và hành vi của một người có thể thông qua các đặc điểm trên khuôn mặt mà được hiển hiện ra.

Trong “Tứ khố toàn thư” viết: “Vị tương nhân chi tương, tiên thính nhân chi thanh; vị thính nhân chi thanh, tiên sát nhân chi hành; vị sát nhân chi hành, tiên quan nhân chi tâm.” Ý nói rằng, đừng nhìn tướng mạo người mà trước tiên hãy nghe thanh âm của người ta, đừng nghe thanh âm người mà trước tiên hãy quan sát hành vi của người ta, đừng quan sát hành vi người mà trước tiên hãy xét cái tâm của người ta. Âu cũng là nhấn mạnh rằng cái “tâm” quyết định cái “tướng” của con người, rằng biến hoá của tướng mặt cũng là biểu hiện ra bên ngoài của sự biến hóa của tâm mang lại.

Thời xưa có câu ngạn ngữ: “Hữu tâm vô tương, tương do tâm sinh; hữu tương vô tâm, tương tùy tâm diệt”, ý nói có tâm thì dẫu vô tướng, tướng cũng sẽ do tâm mà sinh. Có tướng mà không tâm, thì tướng ấy cũng tuỳ tâm mà tiêu mất. Những lời này cũng là để nói rằng, tướng mạo của một cá nhân là tuỳ theo tâm niệm thiện-ác của cá nhân ấy mà biến hoá theo.

Dưới đây là một truyền thuyết lâu đời về “tướng do tâm sinh”:

Thời cổ đại có một thợ thủ công sinh sống ở tỉnh Sơn Đông. Mặc dù lớn lên khôi ngô tuấn tú nhưng anh ta lại thích tạc những hình tượng ma quỷ. Những tác phẩm điêu khắc của anh vô cùng sống động, và theo thời gian, việc buôn bán của anh càng ngày càng phát đạt. Một ngày, anh nhìn vào gương và vô cùng kinh ngạc khi thấy rằng diện mạo của mình đã trở nên hung tợn và xấu xí. Anh đã đến gặp rất nhiều danh y nổi tiếng, nhưng không ai có thể giúp được anh.

Chàng trai dừng lại ở một ngôi đền và kể sự tình với một người lớn tuổi. Ông lão trả lời: “Tôi có thể giúp điều ước của anh trở thành sự thật, với điều kiện là anh hãy tạc cho tôi một số bức tượng Quan Thế Âm với các dáng điệu khác nhau”. Người nghệ nhân đã đồng ý ngay lập tức và bắt đầu nghiên cứu tư tưởng và diện mạo của Quan Thế Âm Bồ Tát. Anh cũng cố gắng hết sức để thực hành theo đạo đức của Ngài như thể chính mình là đức Quan Thế Âm vậy.

Sau sáu tháng nghiên cứu và làm việc chăm chỉ, anh đã khắc được một số bức tượng sinh động của Phật Bà Quan Âm, thể hiện lòng tốt, từ bi, khoan dung và thần thánh của Ngài. Mọi người rất ngạc nhiên trước những bức tượng sinh động giống như thật. Người nghệ nhân cũng rất ngạc nhiên khi thấy rằng tướng mạo của mình đã hoàn toàn thay đổi, giờ đây nhìn anh thật hùng dũng và oai nghiêm.

Kỳ thực, từ Trung Y cổ đại cũng như sinh lý học và tâm lý học hiện đại là có thể thấy rằng đạo lý “tướng do tâm sinh” cũng giản đơn. Cái tướng mạo của người ta là do hai bộ phần ‘hình’ và ‘thần’ tạo thành. Hình tướng là đặc thù của sinh lý còn thần tướng vừa bao hàm nhân tố sinh lý, vừa phụ thuộc vào sự tu chỉnh quyết định. Nhất cử nhất động từng ý từng niệm trong cuộc sống, qua một thời gian thì dần dần sẽ ngưng đọng trên khuôn mặt, nghĩa là “hữu chư nội tất hình chư ngoại” (có gì bên trong ắt xuất hình bên ngoài).

Tâm niệm nảy sinh, cũng sẽ ảnh hưởng lên thân thể. Nếu như nội tâm an hoà tĩnh tại thì thần thanh khí sảng, lạc quan, đôn hậu, quang minh ngay thẳng. Điều đó sẽ khiến cho khí huyết điều hoà, ngũ tạng an định, công năng chính thường, thân thể khoẻ mạnh, ắt sẽ thể hiện ra mặt mũi sáng sủa, thần thái phấn khởi, ai gặp mặt cũng cảm thấy thoải mái, có cảm giác thân thiện an hoà một cách tự nhiên.

Tướng do tâm sinh: Trung y thời cổ đại nhìn tướng mặt biết bệnh

(HÌnh minh họa: Qua Kknews.cc)

Cổ nhân cho rằng, tướng mạo chính là thước đo sức khỏe thân thể của một người. Trung y thời cổ đại có thể thông qua nhìn tướng mạo mà biết được nguyên nhân của bệnh. Trung y cổ đại giảng: “Tứ chẩn”, gọi là “Vọng, Văn, Vấn, Thiết”, tức là bốn phương pháp để thầy thuốc thăm khám bệnh, gồm có Vọng (nhìn), Văn (nghe), Vấn (hỏi), Thiết (sờ).

Trong đó, Vọng chính là nhìn thần sắc. Vọng đứng đầu trong “Tứ chẩn”, cho nên nó được đánh giá là rất quan trọng trong chẩn đoán bệnh.

Từ bên ngoài của một người có thể thấy: Nếu một người mà mắt nhìn không được rõ thì điều đó chứng minh là gan người ấy có vấn đề. Đầu lưỡi không cảm giác rõ vị thì tim có vấn đề. Môi tái nhợt, không có sắc thì tính khí bất hòa. Mũi ngửi mà không rõ mùi vị thì phổi có vấn đề, tai nghe không rõ thì chức năng thận suy yếu. Các bộ phận khác nhau của tướng mạo là có liên quan mật thiết đến lục phủ ngũ tạng trong thân thể người. Cho nên, người ta nhìn sự biến hóa của tướng mạo bên ngoài sẽ biết được nguyên nhân then chốt của bệnh.

Đối với người lớn tuổi, từng trải, cũng có thể thông qua nhìn tướng, nhìn cách đi, nghe giọng nói, là biết được tính cách, sở thích và tình trạng bệnh của người này. Có rất nhiều điều khiến người ta tin rằng đã được định trước trong mệnh, nhưng cũng có rất nhiều điều đều là do tư tưởng không tốt, thói quen không tốt và hành vi không thiện của bản thân tạo thành.

Cho nên, cũng có thể coi “tâm” là nhân của “tướng”, “tướng” là quả của “tâm” (theo quan hệ nhân-quả). Nếu nội tâm của một người yên bình, tĩnh lặng, lạc quan, từ bi, ngay chính, lương thiện thì cơ thể của người ấy sẽ hoạt động một cách trơn tru, người ấy đương nhiên sẽ có được một sức khỏe tốt, tinh thần tốt và dung mạo phúc hậu.

An Hòa (dịch và t/h) / ĐKN

Tướng ăn quan trọng hơn tướng mặt, từ cách ăn nhìn rõ một người

Cách đây hơn 5 năm, tôi ứng tuyển vào vị trí giám đốc kinh doanh cho một tập đoàn đa quốc gia. Sau khi tôi vượt qua các vòng sơ tuyển, trước khi quyết định có nhận tôi vào làm hay không, Tổng giám đốc muốn mời tôi dùng cơm tối. Lúc đó tôi ngạc nhiên, không hiểu tại sao họ lại tiếp đón long trọng một người còn chưa phải là thành viên trong công ty như vậy? Mãi sau này tôi mới hiểu: Kỳ thực, bữa ăn đó chính là buổi phỏng vấn sau cùng.

Từ tướng ăn, thế ngồi cũng có thể phản ánh ra dục vọng của một người

Cổ nhân có câu: “Quân tử thực lược thường chi vị, tiểu nhân sanh tử bất túc” (Người quân tử ăn biết ngon là đủ, kẻ tiểu nhân ăn tới chết cũng không vừa), ở đây không chỉ là nói đến thức ăn mà còn nói đến cả dục vọng. Bậc quân tử phàm làm việc gì cũng có mức độ, còn kẻ tiểu nhân thì vô độ mà hành.

Việc ăn uống quan trọng chính là để bản thân được thoải mái, chúng ta khó có thể làm được tuyệt đối. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa cũng cần phải có sự chế ước tự thân, có câu: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, cần phải học cách quan sát trước sau, đừng để vì một chút sơ ý mà trở thành nỗi ám ảnh của người khác.

Tướng ăn xấu sẽ bị người khác xem thường

Trước đây, tôi có một đồng nghiệp có thói ăn hay lấy đũa gẩy gón thức ăn, khi gặp món mình không thích thì hay chống đũa gẩy gẩy thức ăn ở đĩa. Ví như có lần ăn cùng, hôm ấy ăn món mực xào chua cay, vì không thích ăn hành tây nên anh bạn này chuyên lấy đũa gẩy sang một bên, chọn miếng mình thích để ăn, nhìn rất phản cảm.

Một lần khác, trong đám cưới một người bạn, tôi vô tình ngồi ở một bàn toàn người không quen biết. Mỗi lúc thức ăn lên liền thấy 3, 4 người khách nhanh nhanh chóng chóng gặp thức ăn, có người khi thấy món ăn mình thích nên thức ăn trong bát vẫn còn chưa ăn hết đã vội gắp món mới về ăn, thậm chí có người khi thấy mọi người đã gắp hết lượt liền trút luôn cả đĩa vào bát mình. Người ngồi trong mâm đều ăn diện bảnh bao, lịch sự nhưng tôi khó lòng tôn kính họ cho được.

Tướng ăn quyết định cả vận mệnh và sự nghiệp

Có người bạn nói với tôi: “Từ nhỏ ở nhà đã được mẹ quản giáo rất nghiêm khắc, cái gì mẹ cũng quản, từ tướng đi ra sao, tướng đứng thế nào, tướng ngồi làm sao, ngay cả tướng ngủ mẹ cũng yêu cầu. Khi ăn thì không được chọn, gắp miếng nào ăn miếng đó, tôi luôn cảm thấy mẹ quản quá nhiều, nhưng đợi đến khi lớn rồi đi làm mới phát hiện một điều, tướng ăn của một người đôi khi không chỉ là ảnh hưởng tới công việc mà còn quyết định cả vận mệnh, sự nghiệp của một người”.

Tôi còn nhớ cách đây hơn 5 năm, tôi ứng tuyển vào vị trí giám đốc kinh doanh cho một tập đoàn đa quốc gia làm về ngành điện tử. Sau khi phỏng vấn qua các vòng sơ tuyển, trước khi quyết định có nhận tôi vào làm hay không, thư ký của tổng giám đốc nhà máy đã gọi điện cho tôi, thông báo tổng giám đốc muốn mời tôi dùng cơm tối.

Tôi có chút ngạc nhiên nhưng vẫn nhận lời đi. Khi đến nơi, ngoài tổng giám đốc ra còn có cả hai người giám đốc cùng tham gia. Lúc đó tôi giật mình, không hiểu tại sao họ lại tiếp đón long trọng một người còn chưa phải là thành viên trong công ty như vậy? Mãi sau này khi vào công ty tôi mới hiểu, đây là quy định của công ty cho những vị trí quan trọng.

Kỳ thực, bữa ăn đó chính là buổi phỏng vấn sau cùng, xem tôi ứng xử như thế nào trong bữa ăn, đặc biệt có thể hoà nhập với hai vị giám đốc kia không? Bởi công việc của tôi sau này có quan hệ mật thiết với hai vị này, và cũng đây cùng là vòng phỏng vấn quan trọng nhất.

Qua đây chúng ta có thể thấy, những người làm việc lớn đòi hỏi sự tỉ mỉ, chi tiết cỡ nào? Câu nói “Người làm việc lớn không quên tiểu tiết” cũng chính là ý này đây. Có thể từ cách ăn, từ cách giao tiếp ứng xử với mọi người trong bữa ăn mà nhìn được ra sự giáo dưỡng của một người.

Cách bạn ăn phản ánh sự giáo dưỡng của bạn

Có câu rằng: “Sự giáo dưỡng của một người đều thể hiện ở cách ăn”. Tướng ăn tốt không chỉ thể hiện ở thế ngồi, dáng ăn mà còn được thể hiện ở cách biết chăm sóc người khác khi ăn, biết quan tâm đến cảm nhận của người ngồi ăn cùng.

Nhớ lại hồi còn nhỏ, tôi lớn lên ở nhà ngoại. Ngay từ khi còn nhỏ bà đã dạy tôi ăn cơm phải đợi người lớn cùng ngồi vào mâm cơm, khi người lớn động đũa rồi thì tôi mới được cầm đũa ăn, trước khi ăn cần phải mời ông bà, cha mẹ, các anh các chị rồi mới được ăn. Khi ăn phải nhỏ nhẹ, không được phát ra tiếng, khi gắp thức ăn thì chỉ nên gắp thức ăn ở góc đối diện gần mình nhất, cho dù đó là thứ mình không thích ăn nhất cũng phải lặng lẽ ăn hết.

Khi còn nhỏ, luôn cho rằng bà ngoại quá khắt khe, quá nhiều quy tắc thật là phiền phức. Bây giờ nhìn lại mới cảm nhận được sự thâm thuý những lời bà dạy, có thể thu nhận được lợi ích cả đời. Nuôi dưỡng một thói quen lâu ngày sẽ biến thành tự nhiên, dần dần nó cũng trở thành tư cách của một người.

Giáo dục chính là việc được bắt đầu từ những chi tiết nhỏ nhoi nhất, đặc biệt là trong những việc bình thường có tần suất lặp lại nhiều lần. Cổ nhân có câu: “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Trẻ em sinh ra như tờ giấy trắng, cần phải được chú trọng dạy bảo từ những bước cơ bản, học đi, học đứng, học nói, học gói, học mở.

Thiết nghĩ một người muốn trưởng thành, muốn có chỗ đứng trong xã hội, bước chân ra đời tạo thân, lập nghiệp cần phải có cho mình một nhân cách sống. Trẻ em cần phải được chú trọng giáo dục ngay từ khi còn nhỏ, lấy giáo dục gia đình làm nền tảng để giáo dưỡng nhân cách. Giáo dưỡng nhân cách ở đây chẳng phải là những gì quá lớn lao, mà chỉ cần bắt đầu từ những hành động nhỏ hàng ngày mà cha mẹ chính là những tấm gương cho trẻ noi theo.

Minh Vũ

RuouNui

NHỚ RƯỢU NÚI BẠN HIỀN
Hoàng Kim


Ngày đầu xuân nhớ ruộng
Thương rượu núi bạn hiền
Thèm thái dương đồng rộng
Giấc trưa lành mênh mông
*
Lão Khoa thơ văn như phù thủy.
Mình kể chuyện này đã năm năm.
Hôm nay thung dung về chốn cũ.
Bất ngờ Rượu núi Lò Cao Nhum.

Hú , Rượu núi, đọc thơ vui

“Nào bạn ơi!
Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời.
Chụm bền ngọn núi
Giữa chiếu đan bằng tia mặt trời” (1)

“Chiều buông ngọn khói hoang sơ
Tiếng chuông ngàn tuổi tỏ mờ trong mây”
“Cái còn thì vẫn còn nguyên
Cái tan thì tưởng vững bền cũng tan” (2)

“Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm” (3)

Mình ở xóm lá với Lão Khoa (4)
Ong và Hoa (5) việc ai siêng nấy
Rượu núi hôm nay vui biết mấy
Bạn hiền nắng ấm trăng thanh.

(*) Cảm nhận trên trang Rượu núi nhân dịp
ghé thăm CÂU HÁT MƯỜNG PHĂNG
Chín sẽ quên và mười sẽ quên
Nhưng không quên Pú Thẩu (*) Đại tướng” …
(1) Thơ Lò Cao Nhum
(2) Thơ Trần Đăng Khoa
(3) Thơ Hoàng Kim
(4) Bài viết “Nhớ Lão Khoa tìm ra rượu núi
cảm nhận và bài đăng lần đầu tiên
(5) Thơ Hoàng Kim

MÌNH Ở XÓM LÁ VỚI LÃO KHOA

(Trích “TRUYỆN LÃO KHOA“, Hoàng Kim)

Lão Khoa thơ văn như phù thuỷ. Bạn hãy đọc ÔNG CHỦ XE BỤI và cái kết của lão Khoa “Thương trường là chiến trường. Đây là chiến trường còn kinh hơn thời bom đạn! Chỉ có người trong cuộc mới biết được thôi. Nhiều đại gia trông bên ngoài rất hoành tráng, nhưng đang chết dần từng ngày. Nợ ngân hàng đến nghìn tỷ. Xoay xỏa thế nào. Chỉ còn chờ ngày sập tiệm. Ông không tin à? Kinh lắm! Thế nên mình cứ buôn thúng bán bưng, cứ làm ông chủ xe bụi cho chắc chắn. Nhếch nhác nhưng khỏe re. Rỗi rãi, có khi mình sẽ lại viết văn. Mà nếu viết văn, cuốn sách đầu tiên, không khéo mình lại viết về ông Lựu! Lôi ông Lựu ra bán, chắc chắn đắt hơn bia bụi rất nhiều! Nói rồi, Lưu Xuân Tình ngửa cổ cười. Trông lão rờn rợn như một gã địa chủ nhà quê, có của ăn của để. Kinh! “. Tôi chỉ bình được một chữ (kèm vỗ đùi đánh đét): Phục! Sướng thiệt! Tôi tự hào mình ở xóm lá với lão Khoa !

XUÂN DIỆU BÌNH THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA

Tôi nhớ cách đây 40 năm khi chú Xuân Diệu đến đọc thơ ở Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc. Mấy ngày hôm trước, trên bảng thông tin của Trường viết hàng chữ bằng phấn trắng. Lúc 7g tối thứ Bảy này có phim TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT CÓ THỂ HOÃN ! Thuở đó liên hệ phim rạp thật khó. Người viết có lẽ vì không chắc chắn nên đã viết câu trước rất khiêm tốn, nhỏ nhắn, còn câu sau thì viết rất to, ý muốn nói có thể có phim mà cũng có thể không, trường hợp đặc biệt có thể hoãn (để mọi người đừng phiền). Buồn cười là không hiểu sao, có lẽ là vì quá mong mỏi nên các lớp sinh viên chúng tôi lại kháo nhau, rũ nhau đi xem vì tên phim hay lắm, ngộ lắm. Trời mới chập tối, sân trường đã có nhiều người đến xí chỗ tốt gần rạp chiếu. Mặc dù thứ bảy là ngày cuối tuần, nhiều bạn thường về Hà Nội hoặc đi Bích Động. Cuối cùng, thì việc sẽ đến phải đến. Tối đó không có phim thật nhưng thay vào đó Đoàn trường đã rước được nhà thơ Xuân Diệu về nói chuyện.

Tôi thích thơ nên ngồi gần và nhớ như in cái chuyện thay kính của nhà thơ Xuân Diệu khi ông trò chuyện đến chỗ hứng nhất (Sau này trong “Chân dung và đối thoại”, tôi đặc biệt ấn tượng cái chi tiết tả thực này của Trần Đăng Khoa là Xuân Diệu không có thói quen lau kính mà ông có hai kính để luôn thay đổi, khi kính bị mờ là ông thay kính khác và nói chuyện thật say mê). Ông nói rất hào hứng và tôi thì nhìn ông như bị thôi miên. Đột nhiên ông chỉ vào mặt tôi: “Đố em biết Trần Đăng Khoa mấy tuổi?”. Tôi sững người hơi lúng túng vì bất ngờ nhưng sau đó kịp đáp ngay là Trần Đăng Khoa cỡ tuổi Hoàng Hiếu Nhân nên tôi nghĩ rằng có lẽ Khoa nhỏ hơn tôi ba tuổi. Hình như chú Xuân Diệu quên béng mất câu hỏi và cũng chẳng quan tâm đến tôi đang chờ đợi ông giải đáp cho mọi người là đúng hay sai. Mắt Xuân Diệu tự dưng như mơ màng, như thảnh thốt nhìn vào một chốn xa xăm … Giọng ông hạ chùng hẳn xuống như nói thủ thỉ với riêng tôi trước mặt mà quên mất cả một cử tọa đông đảo: “Tôi học bà má Năm Căn gọi anh giải phóng quân bằng thằng giải phóng quân cho nó thân mật. Tôi gọi Trần Đăng Khoa là thằng cháu Khoa vì sự thân mật, chứ thực tình Trần Đăng Khoa lớn lắm…. lớn lắm… lớn lắm (ông lắc lắc đầu và lặp lại ba lần). Mai sau, muốn biết thời gian lao của nước mình, người đọc chắc chắn phải tìm đến Khoa. Xuân Diệu đây này (Ông gập người xuống, tay nắm mũi làm điệu bộ )Tôi phải cúi..úi ..i xuống như thế này (Xuân Diệu gập người thấp, rất thấp, tay lay mũi, tay đỡ kính) đến lấm mũi và gọi là …. ông Khoa”. Ông đột ngột nói to: “ÔNG KHOA!” (mọi người cười ồ lên). Tôi – Xuân Diệu nói tiếp- đang chuyển thể và giới thiệu thơ Khoa ra thế giới. Hay lắm ! Thú lắm ! Tôi đọc cho các anh chị nghe nhé. EM KỂ CHUYỆN NÀY … Ông đọc chậm rãi –

Chưa khi nào và chưa bao giờ tôi nghe thơ hay đến vậy. Và tôi thuộc, thuộc nằm lòng suốt 40 năm! Các bạn biết không, tôi rất dở việc nhớ số điện thoại, thế mà lại thuộc một bài thơ dài. Số điện thoại của tôi đây, Hoàng Kim 0903613024. Bạn hãy kiểm tra bất chợt bất cứ lúc nào để biết chắc rằng tôi không có thủ một cuốn thơ của Khoa trong tay. Và rằng thật may mắn trên đời, chúng tôi có Khoa cùng xóm lá và Khoa thì may mắn có người thầy không lồ như Xuân Diệu để đứng lên vai, để lắng nghe những lời khen chê và tự soi lại mình, để Khoa mãi là Khoa trong lòng người cùng thời và Khoa không thể viết nhạt, không phụ lòng người đọc.

Để minh chúng, tôi xin chép lại bài thơ tôi nghe từ dịp đó. Bản này so với các bản in sau này, hình như Khoa có sửa một ít chữ hoặc cũng có thể nhà thơ Xuân Diệu hoặc tôi nhớ sai …

* Phản hồi từ: Trần Đăng Khoa @Hoang Kim Cám ơn bác đã cho tôi những tư liệu rất hay về nhà thơ XD. Động tác và tính cách là rất chuẩn. XD đúng như vậy. Hy vọng dịp nào chúng ta gặp nhau. Chúc bác thành công trong sự nghiệp Dạy và Học.

EM KỂ CHUYỆN NÀY…

Trần Đăng Khoa

Sáng nay
Bọn em đi đánh dậm
Ở ao làng
Bên ruộng Lúa xanh non
Những cô Lúa phất phơ bím tóc
Những cậu Tre
Bá vai nhau
Thầm thì đứng học

Những chị Cò trắng
Khiêng Nắng
Qua Sông
Cô Gió chăn Mây trên Đồng
Bác Mặt trời
đạp xe qua đỉnh Núi
vẻ vui tươi
nhìn chúng em nhăn nhó cười …

Chúng em rất vui
vì đánh được nhiều Cá.
Này chị Cua càng
giơ tay chào biển Lúa
Này thằng Rói nhớ ai
mà khóc mãi
mắt đỏ ngầu như lửa.
Này câu Trê
đánh võ ở đâu
mà ngã bẹp đầu.
Lòng chúng em dào dạt …

Bỗng …
Trên con đường cát
Có vài bạn gái
Dáng chừng vừa đi học về
Đầu đội mủ rơm
Lưng đeo túi thuốc
Khăn quàng nở xòe trước ngực
Theo gió bay bay…

-Các bạn tìm gì ở đây?
Hây tìm lọ mực
Hay tìm bút máy đánh rơi ?
Các bạn đều trả lời

– Hôm qua
Thằng Mỹ bị bắn rơi
xuống cánh đồng ta
Các chú dân quân dong nó đi xa
Vẫn còn lại
những dấu chân in trên cát
Vẫn còn lại
những dấu chân tội ác
Trông vào nhức mắt
Các bạn đào đổ xuống ao sâu
Đổ xuống lòng mương
Từ lúc mờ sương
Cho tới khi
tiếng trống gọi về trường
Vẫn chưa hết
những dấu chân trên cát
Vẫn chưa hết
những dấu chân tội ác
Các bạn còn đào
đổ xuống ao sâu.

– Chao ôi !
Những lão Trê
đánh võ ngã bẹp đầu
Thắng Rói
mắt đỏ ngầu như lửa
và những chị Cua càng
dơ tay chào biển Lúa
đã ăn phải dấu chân này
bẩn thỉu biết bao …

Chúng em lặng nhìn nhau
Chẳng ai bảo ai
Chúng em đổ cả xuống ao
Trở về nhà với chiếc giỏ không
Và hát nghêu ngao

(Em kể chuyện này…
Mẹ không mắng
nên chúng em rất thích)
Những chị chim Sâu trên cành
Nhìn chúng em cười
Tích !
Tích !

* Phản hồi từ: Trần Đăng Khoa @Hoangkim Tôi quên bài thơ này rồi mà bác thì nhớ. Tài thật. Có nhiều câu thêm vào như “mẹ không mắng đâu nên em rất thích”. Còn thì cơ bản chính xac. Vái bác

ĐÊM YÊN TỬ NGHĨ VỀ CÔN SƠN

Tôi viết cảm nhận này trực tiếp trên trang mạng của Khoa . Ý nghĩ chảy nhanh ra đầu bút. Tôi đang đánh máy bài thơ EM KỂ CHUYỆN NÀY chưa kịp lưu thì cảm nhận của Khoa hiện ra: “@Hoang Kim. Cám ơn bác đã cho tôi những tư liệu rất hay về nhà thơ Xuân Diệu. Động tác và tính cách là rất chuẩn. Xuân Diệu đúng như vậy. Hy vọng dịp nào chúng ta gặp nhau. Chúc bác thành công trong sự nghiệp Dạy và Học”. Hãy khoan, Khoa ơi để mình kể bạn nghe chuyện Đêm Yên Tử nghĩ về Côn Sơn nhé. Mình ám ảnh chuyện này quá. Chuyện này ví như: Sự ghi ơn người khai sinh chữ quốc ngữ; Nguyễn Du đâu chỉ đại thi hào; Hồ Chí Minh rất ít trích dẫn; Bác có nhầm lẫn kẻ phi thường; Qua đèo chợt gặp mai đầu suối, Tâm linh đọc lại và suy ngẫm … Đó đều là những bí ẩn lịch sử cần người minh triết để thấu hiểu để trao lại… Mình nếu như không viết được vào ô cảm nhận này, vào chính thời điểm này thì hình như ít người hiểu thấu.

Đêm Côn Sơn của Khoa là đêm lạ lùng ! Đêm Yên Tử nghĩ về Côn Sơn là đêm thiêng kỳ l ạ. “Tỉnh thức giữa đêm thiêng Yên Tử. Để thấm hiểu đức Nhân Tông. Ta thành tâm đi bộ . Lên tận đỉnh chùa Đồng. Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc.” Hình như bí ần của Nhân Tông và Nguyễn Trãi đã mách Khoa ở Đêm Côn Sơn và đã gợi cho mình nhìn thấy một chút dấu hiệu nhận biết để mách cho Khoa ghi lại. Thơ văn thời Lý Trần, Lê, Mạc, Nguyễn đặc biệt là các danh sĩ tinh hoa Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Nguyễn Du, Đặng Dung, Phùng Khắc Khoan, Phan Huy Chú, Phan Chu Trinh, Nguyễn Hiến Lê đều rất cần những chuyên luận kỹ. Bác Trường Chinh là người viết nhiều thơ, nhưng trước tác thơ của chính bác chọn lưu lại chỉ là “Dưới đèn đọc Ức Trai” và “Đi họp” hẳn là có ý sâu sắc riêng. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo có bài thơ “Nguyễn Trãi trước giờ tru di” cũng là bài thơ hay lắng đọng nỗi niềm của một góc nhìn về Nguyễn Trãi.

Năm trước khi “Chân dung và đối thoại” vừa mới ra lò. Mình nhớ cái chi tiết của Khoa khi nói về Đêm Côn Sơn trong đó có bốn câu:

“Ngoài thềm rơi cái lá đa.
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.
Mờ mờ ông bụt ngồi nghiêm.
Nghĩ gì ông vẫn ngồi yên lưng đền”.

Khoa viết rằng Xuân Diệu khen Khoa nghe tinh, có giác quan tinh tế và Xuân Diệu đã thay một chữ “nghĩ” cho chữ “sợ”mà ông Bụt hóa thành cơ thể sống, đã thành sự sống. Sự thẩm thơ tinh tưởng của Xuân Diệu là vậy. Ông chỉ thay đổi một chữ mà bài thơ biến đổi cả thần thái. Chữ “nghĩ “ này hay tương tự chữ “đi” trong câu thơ “Trái đất ba phần tư nước mắt/ Đi như giọt lệ giữa không trung” làm đổi thần thái câu thơ “Trôi như giọt lệ giữa không trung” mà Khoa đã bình luận.

Mình muốn bình thêm cái ý “thần đồng” nghĩa là “tuổi nhi đồng mà làm được những điều như có thần mách bảo”. Khoa né tránh bình luận chuyện này và viết “bây giờ thì y đã già và dứt khoát không phải là kẻ đắc đạo, vậy mà y vẫn phải còng lưng, ý ạch vác cái cây thánh giá ở lứa tuổi trẻ con.” Thực ra, phải nhìn nhận rằng Khoa có những câu thơ rất quý và rất lạ, lúc trẻ con mà đã viết được những câu “thần đồng” như trên mà người lớn không thể viết nổi.

Mình đã có cảm giác thật kỳ lạ khi ngồi một mình lúc ba giờ khuya ở dưới chân Bụt Trần Nhân Tông nơi vòm đá hang cọp phía sau chùa Bảo Sái gần đỉnh chùa Đồng. Nơi đó và giờ đó là lúc Trần Nhân Tông mất. Người từ chùa Hoa Yên lúc nữa đêm đã nhờ Bảo Sái- một danh tướng cận vệ và đại đệ tử thân tín – cõng Người lên đây.

Bảy trăm năm sau, giữa đêm thiêng Yên Tử, ngồi một mình trong đêm lạnh, đúng nơi và khoảng ba giờ khuya lúc đức Nhân Tông mất Lắng nghe tiếng lá cây gạo trên 700 tuổi rơi rất mỏng lúc canh khuya. Bóng của Phật Nhân Tông mờ mờ ngồi nghiêm ngồi yên bình thản lưng đền. Lúc đó vụt hiện trong đầu mình bài kệ “Cư trần lạc đạo” của đức Nhân Tông, bài thơ Yên Tử “đề Yên Tử sơn, Hoa Yên Tự” của Nguyễn Trãi và văng vẳng trong thinh không thăm thẳm vô cùng bài thơ chiêu tuyết Nguyễn Trãi “đêm Côn Sơn” của Khoa. Mình phục Khoa quá!

Khoa ơi, hãy tin mình đi. Những câu thơ thần đồng sức người không viết được. Khoa đã may mắn chạm được mạch tâm linh dân tộc, như tiếng đàn bầu ngân lên từ ruột trúc, mới viết được những câu thơ hay và lạ đến thế. Khoa ngẫm xem những câu thơ sau đây của Nguyễn Trãi tả Bình minh trên Yên Tử thật đúng là thần bút: “Non thiêng Yên Tử, đỉnh kỳ phong. Trời mới ban mai đã rạng hồng. Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả. Nói cười lồng lộng giữa không trung. Giáo trúc quanh chùa giăng nghìn mẫu. Cỏ cây chen đá rũ tầng không, Nhân Tông bảo tháp còn lưu dấu Mắt sáng hào quang tỏa ánh đồng”

Bình minh Yên Tử, https://thungdung.wordpress.com/yentu/

Nguyễn Trãi viết thơ trên đỉnh Yên Tử lúc ban mai, gần 5 giờ sáng. Vậy Người leo núi từ khi nào? Đi từ hôm trước hay đi từ lúc nửa đêm như đức Nhân Tông? E chỉ có Yên Tử trả lời.

* Phản hồi từ: TRẦN ĐĂNG KHOA @Hoàng Kim Cám ơn bác đã yêu quý cậu Khoa. Nhưng chuyện đã qua lâu rồi, chúng ta hãy để cậu “yên giấc ngàn thư”, vì cu cậu cũng đã xong phận sự. Tôi chỉ tò mò, sao bác lên Yên Tử giữa đêm? Bác lại có nhiều vốn liếng về Yên Tử và Trần Nhân Tông, giá bác làm thơ hay viết bút ký, tùy bút về Đêm Yên Tử thì hay biết mấy. Đặc biệt là không khí Yên Tử. Đã có nhiều bài thơ, ca khúc rất hay viết về vùng đất này. Thêm một tấm lòng và góc nhìn nữa của HK cũng sẽ làm cho YT phong phú thêm đấy.

Cảm ơn Trần Đăng Khoa đã khuyến khích mình viết về Yên Tử. Hôm trước Búi Anh Tấn, tác giả của cuốn sách Đàm đạo về Điếu Ngự Giác Hoàng (Trần Nhân Tông) 405 trang, được nhiều người yêu thích, cũng đã khuyến khích mình như ý của Khoa. Mình sẽ cố gắng và rất mong được sư góp ý thẩm định của các bạn.

Hoàng Kim

RƯỢU NÚI
Lò Cao Nhum

Bạn đến
Mời ngồi xếp bằng tròn trên núi
Giữa chiếu đan bằng tia mặt trời.

Bát rượu trăng rằm
Mong hồn vía bạn đừng thất lạc
Cầu cụ ông, cụ bà cây si, cây đa
Gái bản nụ hoa, trai mường cây nghiến
Ngửa bàn tay cũng da
Úp bàn tay cũng thịt.

Rượu nhà tôi
Ủ từ lá sắc rừng gai
Chắt từ củ mài hốc đá
Vợ tôi nấu thơm từ lửa đỏ đêm dài.

Rượu nhà tôi
Có ngọt mật ong vách đá
Có chua măng ướp chum vò
Có cay của bạn tình cắn nhầm hạt ớt
Có đắng của em chồng phải lòng chị dâu.

Rượu nhà tôi
Rượu buộc chỉ cổ tay
Thắp lửa tình chiêng, tình trống
Đã uống vắt kiệt chum mà uống
Đã say đổ tràn tình mà say.

Nào bạn ơi
Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời
Chụm bền ngọn núi
Giữa chiếu đan bằng tia mặt trời.


Nhà thơ Lò Cao Nhum đọc bài thơ Rượu núi

Lời bình của nhà thơ NGUYỄN ĐỨC MẬU

Mở đầu bài thơ Rượu núi là mấy câu thơ giản dị theo kiểu mời khách đến nhà. Tác giả ngỏ lời rất mộc mạc, chân chất nhưng cũng biết lấy cái cớ mời bạn để nói về thứ rượu rất riêng của bản mình. Bởi lẽ vừa là chủ nhà, Lò Cao Nhum vừa là nhà thơ. Từ hương vị của rượu núi anh mở rộng biên độ để phát triển ý tưởng và tạo được những câu thơ gần với ngạn ngữ, giầu sự đúc kết, cô đọng: Gái bản nụ hoa, trai mường cây nghiến/ Ngửa bàn tay cũng da/ Úp bàn tay cũng thịt.

Lò Cao Nhum giới thiệu về rượu núi bằng chi tiết và hình ảnh rất thật: Ủ từ lá sắc rừng gai/ Chắt từ củ mài hốc đá/ Vợ tôi nấu thơm từ lửa đỏ đêm dài…, tuy nhiên tác giả không dừng lại ở chi tiết, hình ảnh, anh có những câu nói về cái “cay” cái “đắng” của rượu thật đột biến: Có cay của bạn tình cắn nhầm hạt ớt/ Có đắng của em chồng phải lòng chị dâu… Câu thơ hay không phải vì vần điệu mà vì sự liên tưởng gợi mở. Và sau khi đã giới thiệu cái men say của rượu núi, tác giả buông một câu mời thật hào phóng: Đã uống vắt kiệt chum mà uống/ Đã say đổ tràn tình mà say.

Ở đoạn kết bài thơ, sức khái quát được nâng lên. Từ động tác uống rượu thường ngày, tác giả viết: Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời/ Chụm bền ngọn núi… Câu thơ có sự dồn nén, hàm xúc gợi cho người đọc những suy nghĩ về mối quan hệ thương yêu của bè bạn, chòm bản xa gần. Toàn bộ bài thơ Rượu núi được viết bằng bút pháp giản dị, giầu chất dân tộc. Phải chăng Rượu núi là thứ rượu chan chứa tình đời, tình người, và chính những câu thơ hay trong bài cũng là men rượu chắt ra từ cuộc sống?

Trong cuộc thi truyện ngắn và thơ năm 1996 do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức, bài thơ Rượu núi đã giành được vị trí xứng đáng trong số các giải thưởng, thực sự là một đóng góp độc đáo cả về ý lẫn tình.

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/vui-den-chon-thung-dung/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

RuouNui

Hoàng Kim.

“Lão Khoa thơ văn như phù thủy”.
Mình kể chuyện này đã năm năm.
Hôm nay thung dung về chốn cũ.
Bất ngờ Rượu núi Lò Cao Nhum.

Hú , Rượu núi, đọc thơ  vui

“Nào bạn ơi!
Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời.
Chụm bền ngọn núi
Giữa chiếu đan bằng tia mặt trời” (1)

“Chiều buông ngọn khói hoang sơ
Tiếng chuông ngàn tuổi tỏ mờ trong mây”
“Cái còn thì vẫn còn nguyên
Cái tan thì tưởng vững bền cũng tan” (2)

“Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm” (3)

Mình ở xóm lá với Lão Khoa (4)
Ong và Hoa (5) việc ai siêng nấy
Rượu núi hôm nay vui biết mấy
Bạn hiền nắng ấm trăng thanh.

(*) Cảm nhận trên trang Rượu núi nhân dịp
ghé thăm CÂU HÁT MƯỜNG PHĂNG
Chín sẽ quên và mười sẽ quên
Nhưng không quên Pú Thẩu (*) Đại tướng” …
(1) Thơ Lò Cao Nhum
(2) Thơ Trần Đăng Khoa
(3) Thơ Hoàng Kim
(4) Bài viết “Nhớ Lão Khoa tìm ra rượu núi
cảm nhận và bài đăng lần đầu tiên
(5) Thơ Hoàng Kim

MÌNH Ở XÓM LÁ VỚI LÃO KHOA

(Trích “TRUYỆN LÃO KHOA“, Hoàng Kim)

Lão Khoa thơ văn như phù thuỷ. Bạn hãy đọc ÔNG CHỦ XE BỤI và cái kết của lão Khoa “Thương trường là chiến trường. Đây là chiến trường còn kinh hơn thời bom đạn! Chỉ có người trong cuộc mới biết được thôi. Nhiều đại gia trông bên ngoài rất hoành tráng, nhưng đang chết dần từng ngày. Nợ ngân hàng đến nghìn tỷ. Xoay xỏa thế nào. Chỉ còn chờ ngày sập tiệm. Ông không tin à? Kinh lắm! Thế nên mình cứ buôn thúng bán bưng, cứ làm ông chủ xe bụi cho chắc chắn. Nhếch nhác nhưng khỏe re. Rỗi rãi, có khi mình sẽ lại viết văn. Mà nếu viết văn, cuốn sách đầu tiên, không khéo mình lại viết về ông Lựu! Lôi ông Lựu ra bán, chắc chắn đắt hơn bia bụi rất nhiều! Nói rồi, Lưu Xuân Tình ngửa cổ cười. Trông lão rờn rợn như một gã địa chủ nhà quê, có của ăn của để. Kinh! “. Tôi chỉ bình được một chữ (kèm vỗ đùi đánh đét): Phục! Sướng thiệt! Tôi tự hào mình ở xóm lá với lão Khoa !

XUÂN DIỆU BÌNH THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA

Tôi nhớ cách đây 40 năm khi chú Xuân Diệu đến đọc thơ ở Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc. Mấy ngày hôm trước, trên bảng thông tin của Trường viết hàng chữ bằng phấn trắng. Lúc 7g tối thứ Bảy này có phim TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT CÓ THỂ HOÃN ! Thuở đó liên hệ phim rạp thật khó. Người viết có lẽ vì không chắc chắn nên đã viết câu trước rất khiêm tốn, nhỏ nhắn, còn câu sau thì viết rất to, ý muốn nói có thể có phim mà cũng có thể không, trường hợp đặc biệt có thể hoãn (để mọi người đừng phiền). Buồn cười là không hiểu sao, có lẽ là vì quá mong mỏi nên các lớp sinh viên chúng tôi lại kháo nhau, rũ nhau đi xem vì tên phim hay lắm, ngộ lắm. Trời mới chập tối, sân trường đã có nhiều người đến xí chỗ tốt gần rạp chiếu. Mặc dù thứ bảy là ngày cuối tuần, nhiều bạn thường về Hà Nội hoặc đi Bích Động. Cuối cùng, thì việc sẽ đến phải đến. Tối đó không có phim thật nhưng thay vào đó Đoàn trường đã rước được nhà thơ Xuân Diệu về nói chuyện.

Tôi thích thơ nên ngồi gần và nhớ như in cái chuyện thay kính của nhà thơ Xuân Diệu khi ông trò chuyện đến chỗ hứng nhất (Sau này trong “Chân dung và đối thoại”, tôi đặc biệt ấn tượng cái chi tiết tả thực này của Trần Đăng Khoa là Xuân Diệu không có thói quen lau kính mà ông có hai kính để luôn thay đổi, khi kính bị mờ là ông thay kính khác và nói chuyện thật say mê). Ông nói rất hào hứng và tôi thì nhìn ông như bị thôi miên. Đột nhiên ông chỉ vào mặt tôi: “Đố em biết Trần Đăng Khoa mấy tuổi?”. Tôi sững người hơi lúng túng vì bất ngờ nhưng sau đó kịp đáp ngay là Trần Đăng Khoa cỡ tuổi Hoàng Hiếu Nhân nên tôi nghĩ rằng có lẽ Khoa nhỏ hơn tôi ba tuổi. Hình như chú Xuân Diệu quên béng mất câu hỏi và cũng chẳng quan tâm đến tôi đang chờ đợi ông giải đáp cho mọi người là đúng hay sai. Mắt Xuân Diệu tự dưng như mơ màng, như thảnh thốt nhìn vào một chốn xa xăm … Giọng ông hạ chùng hẳn xuống như nói thủ thỉ với riêng tôi trước mặt mà quên mất cả một cử tọa đông đảo: “Tôi học bà má Năm Căn gọi anh giải phóng quân bằng thằng giải phóng quân cho nó thân mật. Tôi gọi Trần Đăng Khoa là thằng cháu Khoa vì sự thân mật, chứ thực tình Trần Đăng Khoa lớn lắm…. lớn lắm… lớn lắm (ông lắc lắc đầu và lặp lại ba lần). Mai sau, muốn biết thời gian lao của nước mình, người đọc chắc chắn phải tìm đến Khoa. Xuân Diệu đây này (Ông gập người xuống, tay nắm mũi làm điệu bộ )Tôi phải cúi..úi ..i xuống như thế này (Xuân Diệu gập người thấp, rất thấp, tay lay mũi, tay đỡ kính) đến lấm mũi và gọi là …. ông Khoa”. Ông đột ngột nói to: “ÔNG KHOA!” (mọi người cười ồ lên). Tôi – Xuân Diệu nói tiếp- đang chuyển thể và giới thiệu thơ Khoa ra thế giới. Hay lắm ! Thú lắm ! Tôi đọc cho các anh chị nghe nhé. EM KỂ CHUYỆN NÀY … Ông đọc chậm rãi –

Chưa khi nào và chưa bao giờ tôi nghe thơ hay đến vậy. Và tôi thuộc, thuộc nằm lòng suốt 40 năm! Các bạn biết không, tôi rất dở việc nhớ số điện thoại, thế mà lại thuộc một bài thơ dài. Số điện thoại của tôi đây, Hoàng Kim 0903613024. Bạn hãy kiểm tra bất chợt bất cứ lúc nào để biết chắc rằng tôi không có thủ một cuốn thơ của Khoa trong tay. Và rằng thật may mắn trên đời, chúng tôi có Khoa cùng xóm lá và Khoa thì may mắn có người thầy không lồ như Xuân Diệu để đứng lên vai, để lắng nghe những lời khen chê và tự soi lại mình, để Khoa mãi là Khoa trong lòng người cùng thời và Khoa không thể viết nhạt, không phụ lòng người đọc.

Để minh chúng, tôi xin chép lại bài thơ tôi nghe từ dịp đó. Bản này so với các bản in sau này, hình như Khoa có sửa một ít chữ hoặc cũng có thể nhà thơ Xuân Diệu hoặc tôi nhớ sai …

* Phản hồi từ: Trần Đăng Khoa @Hoang Kim Cám ơn bác đã cho tôi những tư liệu rất hay về nhà thơ XD. Động tác và tính cách là rất chuẩn. XD đúng như vậy. Hy vọng dịp nào chúng ta gặp nhau. Chúc bác thành công trong sự nghiệp Dạy và Học.

EM KỂ CHUYỆN NÀY…

Trần Đăng Khoa

Sáng nay
Bọn em đi đánh dậm
Ở ao làng
Bên ruộng Lúa xanh non
Những cô Lúa phất phơ bím tóc
Những cậu Tre
Bá vai nhau
Thầm thì đứng học

Những chị Cò trắng
Khiêng Nắng
Qua Sông
Cô Gió chăn Mây trên Đồng
Bác Mặt trời
đạp xe qua đỉnh Núi
vẻ vui tươi
nhìn chúng em nhăn nhó cười …

Chúng em rất vui
vì đánh được nhiều Cá.
Này chị Cua càng
giơ tay chào biển Lúa
Này thằng Rói nhớ ai
mà khóc mãi
mắt đỏ ngầu như lửa.
Này câu Trê
đánh võ ở đâu
mà ngã bẹp đầu.
Lòng chúng em dào dạt …

Bỗng …
Trên con đường cát
Có vài bạn gái
Dáng chừng vừa đi học về
Đầu đội mủ rơm
Lưng đeo túi thuốc
Khăn quàng nở xòe trước ngực
Theo gió bay bay…

-Các bạn tìm gì ở đây?
Hây tìm lọ mực
Hay tìm bút máy đánh rơi ?
Các bạn đều trả lời

– Hôm qua
Thằng Mỹ bị bắn rơi
xuống cánh đồng ta
Các chú dân quân dong nó đi xa
Vẫn còn lại
những dấu chân in trên cát
Vẫn còn lại
những dấu chân tội ác
Trông vào nhức mắt
Các bạn đào đổ xuống ao sâu
Đổ xuống lòng mương
Từ lúc mờ sương
Cho tới khi
tiếng trống gọi về trường
Vẫn chưa hết
những dấu chân trên cát
Vẫn chưa hết
những dấu chân tội ác
Các bạn còn đào
đổ xuống ao sâu.

– Chao ôi !
Những lão Trê
đánh võ ngã bẹp đầu
Thắng Rói
mắt đỏ ngầu như lửa
và những chị Cua càng
dơ tay chào biển Lúa
đã ăn phải dấu chân này
bẩn thỉu biết bao …

Chúng em lặng nhìn nhau
Chẳng ai bảo ai
Chúng em đổ cả xuống ao
Trở về nhà với chiếc giỏ không
Và hát nghêu ngao

(Em kể chuyện này…
Mẹ không mắng
nên chúng em rất thích)
Những chị chim Sâu trên cành
Nhìn chúng em cười
Tích !
Tích !

* Phản hồi từ: Trần Đăng Khoa @Hoangkim Tôi quên bài thơ này rồi mà bác thì nhớ. Tài thật. Có nhiều câu thêm vào như “mẹ không mắng đâu nên em rất thích”. Còn thì cơ bản chính xac. Vái bác

ĐÊM YÊN TỬ NGHĨ VỀ CÔN SƠN

Tôi viết cảm nhận này trực tiếp trên trang mạng của Khoa . Ý nghĩ chảy nhanh ra đầu bút. Tôi đang đánh máy bài thơ EM KỂ CHUYỆN NÀY chưa kịp lưu thì cảm nhận của Khoa hiện ra: “@Hoang Kim. Cám ơn bác đã cho tôi những tư liệu rất hay về nhà thơ Xuân Diệu. Động tác và tính cách là rất chuẩn. Xuân Diệu đúng như vậy. Hy vọng dịp nào chúng ta gặp nhau. Chúc bác thành công trong sự nghiệp Dạy và Học”. Hãy khoan, Khoa ơi để mình kể bạn nghe chuyện Đêm Yên Tử nghĩ về Côn Sơn nhé. Mình ám ảnh chuyện này quá. Chuyện này ví như: Sự ghi ơn người khai sinh chữ quốc ngữ; Nguyễn Du đâu chỉ đại thi hào; Hồ Chí Minh rất ít trích dẫn; Bác có nhầm lẫn kẻ phi thường; Qua đèo chợt gặp mai đầu suối, Tâm linh đọc lại và suy ngẫm … Đó đều là những bí ẩn lịch sử cần người minh triết để thấu hiểu để trao lại… Mình nếu như không viết được vào ô cảm nhận này, vào chính thời điểm này thì hình như ít người hiểu thấu.

Đêm Côn Sơn của Khoa là đêm lạ lùng ! Đêm Yên Tử nghĩ về Côn Sơn là đêm thiêng kỳ l ạ. “Tỉnh thức giữa đêm thiêng Yên Tử. Để thấm hiểu đức Nhân Tông. Ta thành tâm đi bộ . Lên tận đỉnh chùa Đồng. Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc.” Hình như bí ần của Nhân Tông và Nguyễn Trãi đã mách Khoa ở Đêm Côn Sơn và đã gợi cho mình nhìn thấy một chút dấu hiệu nhận biết để mách cho Khoa ghi lại. Thơ văn thời Lý Trần, Lê, Mạc, Nguyễn đặc biệt là các danh sĩ tinh hoa Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Nguyễn Du, Đặng Dung, Phùng Khắc Khoan, Phan Huy Chú, Phan Chu Trinh, Nguyễn Hiến Lê đều rất cần những chuyên luận kỹ. Bác Trường Chinh là người viết nhiều thơ, nhưng trước tác thơ của chính bác chọn lưu lại chỉ là “Dưới đèn đọc Ức Trai” và “Đi họp” hẳn là có ý sâu sắc riêng. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo có bài thơ “Nguyễn Trãi trước giờ tru di” cũng là bài thơ hay lắng đọng nỗi niềm của một góc nhìn về Nguyễn Trãi.

Năm trước khi “Chân dung và đối thoại” vừa mới ra lò. Mình nhớ cái chi tiết của Khoa khi nói về Đêm Côn Sơn trong đó có bốn câu:

“Ngoài thềm rơi cái lá đa.
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.
Mờ mờ ông bụt ngồi nghiêm.
Nghĩ gì ông vẫn ngồi yên lưng đền”.

Khoa viết rằng Xuân Diệu khen Khoa nghe tinh, có giác quan tinh tế và Xuân Diệu đã thay một chữ “nghĩ” cho chữ “sợ”mà ông Bụt hóa thành cơ thể sống, đã thành sự sống. Sự thẩm thơ tinh tưởng của Xuân Diệu là vậy. Ông chỉ thay đổi một chữ mà bài thơ biến đổi cả thần thái. Chữ “nghĩ “ này hay tương tự chữ “đi” trong câu thơ “Trái đất ba phần tư nước mắt/ Đi như giọt lệ giữa không trung” làm đổi thần thái câu thơ “Trôi như giọt lệ giữa không trung” mà Khoa đã bình luận.

Mình muốn bình thêm cái ý “thần đồng” nghĩa là “tuổi nhi đồng mà làm được những điều như có thần mách bảo”. Khoa né tránh bình luận chuyện này và viết “bây giờ thì y đã già và dứt khoát không phải là kẻ đắc đạo, vậy mà y vẫn phải còng lưng, ý ạch vác cái cây thánh giá ở lứa tuổi trẻ con.” Thực ra, phải nhìn nhận rằng Khoa có những câu thơ rất quý và rất lạ, lúc trẻ con mà đã viết được những câu “thần đồng” như trên mà người lớn không thể viết nổi.

Mình đã có cảm giác thật kỳ lạ khi ngồi một mình lúc ba giờ khuya ở dưới chân Bụt Trần Nhân Tông nơi vòm đá hang cọp phía sau chùa Bảo Sái gần đỉnh chùa Đồng. Nơi đó và giờ đó là lúc Trần Nhân Tông mất. Người từ chùa Hoa Yên lúc nữa đêm đã nhờ Bảo Sái- một danh tướng cận vệ và đại đệ tử thân tín – cõng Người lên đây.

Bảy trăm năm sau, giữa đêm thiêng Yên Tử, ngồi một mình trong đêm lạnh, đúng nơi và khoảng ba giờ khuya lúc đức Nhân Tông mất Lắng nghe tiếng lá cây gạo trên 700 tuổi rơi rất mỏng lúc canh khuya. Bóng của Phật Nhân Tông mờ mờ ngồi nghiêm ngồi yên bình thản lưng đền. Lúc đó vụt hiện trong đầu mình bài kệ “Cư trần lạc đạo” của đức Nhân Tông, bài thơ Yên Tử “đề Yên Tử sơn, Hoa Yên Tự” của Nguyễn Trãi và văng vẳng trong thinh không thăm thẳm vô cùng bài thơ chiêu tuyết Nguyễn Trãi “đêm Côn Sơn” của Khoa. Mình phục Khoa quá!

Khoa ơi, hãy tin mình đi. Những câu thơ thần đồng sức người không viết được. Khoa đã may mắn chạm được mạch tâm linh dân tộc, như tiếng đàn bầu ngân lên từ ruột trúc, mới viết được những câu thơ hay và lạ đến thế. Khoa ngẫm xem những câu thơ sau đây của Nguyễn Trãi tả Bình minh trên Yên Tử thật đúng là thần bút: “Non thiêng Yên Tử, đỉnh kỳ phong. Trời mới ban mai đã rạng hồng. Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả. Nói cười lồng lộng giữa không trung. Giáo trúc quanh chùa giăng nghìn mẫu. Cỏ cây chen đá rũ tầng không, Nhân Tông bảo tháp còn lưu dấu Mắt sáng hào quang tỏa ánh đồng”

Bình minh Yên Tử, https://thungdung.wordpress.com/yentu/

Nguyễn Trãi viết thơ trên đỉnh Yên Tử lúc ban mai, gần 5 giờ sáng. Vậy Người leo núi từ khi nào? Đi từ hôm trước hay đi từ lúc nửa đêm như đức Nhân Tông? E chỉ có Yên Tử trả lời.

* Phản hồi từ: TRẦN ĐĂNG KHOA @Hoàng Kim Cám ơn bác đã yêu quý cậu Khoa. Nhưng chuyện đã qua lâu rồi, chúng ta hãy để cậu “yên giấc ngàn thư”, vì cu cậu cũng đã xong phận sự. Tôi chỉ tò mò, sao bác lên Yên Tử giữa đêm? Bác lại có nhiều vốn liếng về Yên Tử và Trần Nhân Tông, giá bác làm thơ hay viết bút ký, tùy bút về Đêm Yên Tử thì hay biết mấy. Đặc biệt là không khí Yên Tử. Đã có nhiều bài thơ, ca khúc rất hay viết về vùng đất này. Thêm một tấm lòng và góc nhìn nữa của HK cũng sẽ làm cho YT phong phú thêm đấy.

Cảm ơn Trần Đăng Khoa đã khuyến khích mình viết về Yên Tử. Hôm trước Búi Anh Tấn, tác giả của cuốn sách Đàm đạo về Điếu Ngự Giác Hoàng (Trần Nhân Tông) 405 trang, được nhiều người yêu thích, cũng đã khuyến khích mình như ý của Khoa. Mình sẽ cố gắng và rất mong được sư góp ý thẩm định của các bạn.

Hoàng Kim

RƯỢU NÚI

Lò Cao Nhum

Bạn đến
Mời ngồi xếp bằng tròn trên núi
Giữa chiếu đan bằng tia mặt trời.

Bát rượu trăng rằm
Mong hồn vía bạn đừng thất lạc
Cầu cụ ông, cụ bà cây si, cây đa
Gái bản nụ hoa, trai mường cây nghiến
Ngửa bàn tay cũng da
Úp bàn tay cũng thịt.

Rượu nhà tôi
Ủ từ lá sắc rừng gai
Chắt từ củ mài hốc đá
Vợ tôi nấu thơm từ lửa đỏ đêm dài.

Rượu nhà tôi
Có ngọt mật ong vách đá
Có chua măng ướp chum vò
Có cay của bạn tình cắn nhầm hạt ớt
Có đắng của em chồng phải lòng chị dâu.

Rượu nhà tôi
Rượu buộc chỉ cổ tay
Thắp lửa tình chiêng, tình trống
Đã uống vắt kiệt chum mà uống
Đã say đổ tràn tình mà say.

Nào bạn ơi
Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời
Chụm bền ngọn núi
Giữa chiếu đan bằng tia mặt trời.


Nhà thơ Lò Cao Nhum đọc bài thơ Rượu núi

Lời bình của nhà thơ NGUYỄN ĐỨC MẬU

Mở đầu bài thơ Rượu núi là mấy câu thơ giản dị theo kiểu mời khách đến nhà. Tác giả ngỏ lời rất mộc mạc, chân chất nhưng cũng biết lấy cái cớ mời bạn để nói về thứ rượu rất riêng của bản mình. Bởi lẽ vừa là chủ nhà, Lò Cao Nhum vừa là nhà thơ. Từ hương vị của rượu núi anh mở rộng biên độ để phát triển ý tưởng và tạo được những câu thơ gần với ngạn ngữ, giầu sự đúc kết, cô đọng: Gái bản nụ hoa, trai mường cây nghiến/ Ngửa bàn tay cũng da/ Úp bàn tay cũng thịt.

Lò Cao Nhum giới thiệu về rượu núi bằng chi tiết và hình ảnh rất thật: Ủ từ lá sắc rừng gai/ Chắt từ củ mài hốc đá/ Vợ tôi nấu thơm từ lửa đỏ đêm dài…, tuy nhiên tác giả không dừng lại ở chi tiết, hình ảnh, anh có những câu nói về cái “cay” cái “đắng” của rượu thật đột biến: Có cay của bạn tình cắn nhầm hạt ớt/ Có đắng của em chồng phải lòng chị dâu… Câu thơ hay không phải vì vần điệu mà vì sự liên tưởng gợi mở. Và sau khi đã giới thiệu cái men say của rượu núi, tác giả buông một câu mời thật hào phóng: Đã uống vắt kiệt chum mà uống/ Đã say đổ tràn tình mà say.

Ở đoạn kết bài thơ, sức khái quát được nâng lên. Từ động tác uống rượu thường ngày, tác giả viết: Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời/ Chụm bền ngọn núi… Câu thơ có sự dồn nén, hàm xúc gợi cho người đọc những suy nghĩ về mối quan hệ thương yêu của bè bạn, chòm bản xa gần. Toàn bộ bài thơ Rượu núi được viết bằng bút pháp giản dị, giầu chất dân tộc. Phải chăng Rượu núi là thứ rượu chan chứa tình đời, tình người, và chính những câu thơ hay trong bài cũng là men rượu chắt ra từ cuộc sống?

Trong cuộc thi truyện ngắn và thơ năm 1996 do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức, bài thơ Rượu núi đã giành được vị trí xứng đáng trong số các giải thưởng, thực sự là một đóng góp độc đáo cả về ý lẫn tình.

Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn

NGUYỄN TRÃI KIỆT TÁC THƠ VĂN
Hoàng Kim

Bài thơ thần “Yên Tử “của Nguyễn Trãi “Non thiêng Yên Tử đỉnh kỳ phong. Trời mới ban mai đã rạng hồng. Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả. Nói cười lồng lộng giữa không trung…” (thơ Nguyễn Trãi trên Yên Tử, hình ảnh và cẩn dịch Hoàng Kim). Nguyễn Trãi đã có nhiều tôn vinh, nhưng như giáo sư Phan Huy Lê đã nhận xét trong bài “Nguyễn Trãi, 560 năm sau vụ án Lệ Chi Viên“: ”Cho đến nay, sử học còn mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu và hành động lợi dụng việc từ trần đột ngột của vua Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giá họa dựng nên vụ án kết liễu thảm khốc cuộc đời của một anh hùng vĩ đại, một nữ sĩ tài hoa, liên lụy đến gia đình ba họ. Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hi vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng. Với thời gian và những công trình nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà sử học, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà văn hoá…, lịch sử càng ngày càng làm sáng rõ và nâng cao nhận thức về con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, về những công lao, cống hiến, những giá trị đích thực của ông trong lịch sử cứu nước và dựng nước, lịch sử văn hoá của dân tộc”. Dẫu vậy, trong tất cả những tư liệu lịch sử để lại thì tư liệu sáng giá nhất, rõ rệt nhất, sâu sắc nhất lại chính là Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn: “Họa phúc có nguồn đâu bổng chốc, Anh hùng để hận mãi nghìn năm” “Số khó lọt vành âu bởi mệnh. Văn chưa tàn lụi cũng do trời “. “Yên Tử” “Ngôn chí,” “Quan hải”, “Oan than”

Nguyễn Trãi là bậc anh hùng dân tộc, nhà chính trị kiệt xuất và danh nhân văn hóa lỗi lạc của dân tộc Việt, Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc nay là huyện Thường Tín, Hà Nội, sinh năm 1380 , mất năm 1442,. cha là Nguyễn Phi Khanh, nguyên quán làng Chi Ngại , huyện Phương So8n (Chí Linh, Hải Dương) mẹ là Trần Thị Thái, con gái của Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm 1400, cha con đều từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Ông trở thành mưu sĩ bày tính mưu kế về mọi mặt chính trị, quân sự, ngoại giao của nghĩa quân Lam Sơn. Ông là khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, được ban quốc tính, năm 1428 viết Bình Ngô đại cáo thiên cổ hùng văn, năm 1433 ông đã viết văn bia Vĩnh Lăng nổi tiếng khi Lê Lợi mất,.Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông. Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê).

Dưới đây là năm bài thơ trong Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi và cảm nhận “Trời ban tối biết về đâu?” của Vũ Bình Lục

YÊN TỬ

Nguyên văn chữ Hán

題 安子山花煙寺

安山山上最高峰,
纔五更初日正紅。
宇宙眼窮滄海外,
笑談人在碧雲中。
擁門玉槊森千畝,
掛石珠流落半空。
仁廟當年遺跡在,
白毫光裏睹重瞳。

Ðề Yên Tử sơn Hoa Yên tự

Yên Sơn sơn thượng tối cao phong
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu
Quải thạch châu lưu lạc bán không
Nhân miếu đương niên di tích tại
Bạch hào quang lý đổ trùng đồng.

YÊN TỬ

Đề chùa Hoa Yên, núi Yên Tử
Nguyễn Trãi

Non thiêng Yên Tử đỉnh kỳ phong
Trời mới ban mai đã rạng hồng
Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả
Nói cười lồng lộng giữa không trung
Giáo trúc quanh chùa giăng nghìn mẫu
Cỏ cây chen đá rũ tầng không
Nhân Tông bảo tháp còn lưu dấu
Mắt sáng hào quang tỏa ánh đồng

(Bản dịch của Hoàng Kim)

Trên dải Yên Sơn đỉnh tuyệt vời
Đầu canh năm đã sáng trưng rồi
Mắt ngoài biển cả ôm trời đất
Người giữa mây xanh vẳng nói cười
Giáo ngọc quanh nhà giăng vạn khoảnh
D4i châu treo đá rũ lưng trời
Nhân Tông còn miếu thời nao đó
Thấy rõ đôi ngươi giữa ánh ngời (1)

(1) Tương truyền vua Trần Nhân Tông mắt có hai con ngươi
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

Trên núi Yên Tử chòm cao nhất
Vừa mới canh năm đã sáng trời
Tầm mắt bao trùm nơi biển tận
Từng mây nghe thoảng tiếng ai cười
Rừng vươn giáo dựng tre nghìn mẫu
Đá rũ rèm buông nhũ nửa vời
Miếu cổ Nhân Tông hằng để dấu
Mắt còn trắng tỏa ánh đôi ngươi.

(Bản dịch của Lê Cao Phan)

Trên non Yên Tử chòm cao nhất,
Trời mới canh năm đã sáng tinh.
Vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả,
Nói cười người ở giữa mây xanh.
Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa,
Bao dãi tua châu đá rủ mành.
Dấu cũ Nhân tôn còn vẫn đấy,
Trùng đồng thấy giữa áng quang minh.

(Bản dịch của nhóm Đào Duy Anh)
Nguồn: Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh,
NXB Khoa học xã hội, 1976

Trên non Yên Tử ngọn cao nhất
Chỉ mới canh năm sáng đỏ trời!
Ngoài vũ trụ xanh màu biển thẳm
Giữa mây biếc rộn tiếng người cười.
Cửa cài ngọc dựng, ken nghìn mẫu
Đá rũ châu rơi, rớt nửa vời!
Miếu cổ Nhân Tông di tích đó
Đôi mày sáng trắng rực hai ngươi!

(Bản dịch của Lâm Trung Phú)

NGÔN CHÍ

Am trúc, hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến chốn yên hà
Cơm ăn dù có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
Nước dưỡng cho thanh, trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải luống ương hoa
Trong khi hứng động bề đêm tuyết
Ngâm được câu thần dững dưng ca

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

QUAN HẢI

Nguyên văn chữ Hán

樁木重重海浪前
沉江鐵鎖亦徒然
覆舟始信民猶水
恃險難憑命在天
禍福有媒非一日
英雄遺恨幾千年
乾坤今古無窮意
卻在滄浪遠樹烟

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền
Trầm giang thiết tỏa diệt đồ nhiên
Phúc chu thủy tín dân do thủy
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng [3] di hận kỷ thiên niên.
Càn khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang viễn thụ yên.

Dịch nghĩa : NGẮM BIỂN

Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt ngầm dưới sông cũng vậy thôi.
Thuyền bị lật mới tin rằng dân là như nước
Cậy đất hiểm cũng khó dựa, mệnh là ở trời.
Họa phúc có manh mối không phải một ngày
Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau.
Lẽ của trời đất và xưa nay, thực là vô cùng
Vẫn là ở chỗ sắc nước bát ngát, cây khói xa vời

CỬA BIỂN

Lớp lớp cọc ngăn giữa sóng nhồi
Thêm ngầm dây sắt – uổng công thôi !
Lật thuyền, thấm thía dân như nước
Cậy hiểm, mong manh : mệnh ở trời
Hoạ phúc có nguồn, đâu bỗng chốc?
Anh hùng để hận, dễ gì nguôi?
Xưa nay trời đất vô cùng ý
Nơi sóng xanh cây khói tuyệt vời

(Bản dịch của HƯỞNG TRIỀU)

OAN THÁN

Nguyên văn chữ Hán

浮俗升沉五十年
故山泉石負情緣
虛名實禍殊堪笑
眾謗孤忠絕可憐
數有難逃知有命
大如未喪也關天
獄中牘背空遭辱
金闕何由達寸箋

Phù tục thăng trầm ngũ thập niên ;
Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.
Hư danh thực họa thù kham tiếu ;
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.
Số hữu nan đào tri thị mệnh ;
Văn như vị táng dã quan thiên.
Ngục trung độc bối [1] không tao nhục ;
Kim khuyết hà do đạt thốn tiên ?

Dịch nghĩa THAN NỔI OAN

Nổi chìm trong phù tục đã năm chục năm,
Đành phụ tình duyên với khe và đá của núi cũ.
Danh hư mà họa thực, rất đáng buồn cười ;
Lắm kẻ ghét một mình trung, rất đáng thương hại.
Khó trốn được số mình, biết là vì mệnh ;
Tư văn như chưa bỏ, cũng bởi ở trời.
Trong ngục viết ở lưng tờ, khi không bị nhục ;
Cửa khuyết vàng làm thế nào mà đạt được tờ giấy lên ?

Dịch Thơ: THAN NỔI OAN:

Biển tục thăng trầm nữa cuộc đời
Non xưa suối đá phụ duyên rồi
Trung côi , ghét lắm, bao đau xót
Họa thực, danh hư , khéo tức cười
Số khó lọt vành âu bởi mệnh
Văn chưa tàn lụi cũng do trời
Trong lao độc bối cam mang nhục
Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?

Bản dịch của Thạch Cam

Năm mươi năm thế tục bình bồng
Khe núi lòng cam bội ước chung
Cười nạn hư danh, trò thực họa
Thương phường báng bổ kẻ cô trung
Mạng đà định số, làm sao thoát
Trời chửa mất văn, vẫn được dùng
Lao ngục đau nhìn lưng mảnh giấy
Oan tình khó đạt tới hoàng cung.

Bản dịch của Lê Cao Phan

NGUYỄN TRÃI KIỆT TÁC THƠ VĂN
Hoàng Kim


Nguyễn Trãi đạị cáo Bình Ngô
Văn bia Vĩnh Lăng ghi rõ:

“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần
bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường,Tống, Nguyên
mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có”

Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc

Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
linh thiêng đã lặng thầm phù trợ“

Ngày 9 tháng 3 năm 111 TCN
Thời Hán Vũ Đế Lưu Triệt .
Nam Việt bị nhập vào nhà Hán
Ngàn năm sau vết nhục sạch làu.

Nhật nguyệt hối rồi minh’
Trăng che trời đêm rồi sáng
Nguyễn Trãi ngàn năm linh cảm
Ngày 9 tháng 3 thật lạ lùng !

Triệu Đà tích xưa còn đó
Nam Việt nhập vào nhà Hán
Sử xưa Triệu Đinh Lý Trần
Đối Hàn Đường Tống Nguyên

Sách nay Đinh Lê Lý Trần
thay cho Triệu Đinh Lý Trần
Ngàn năm vết nhục sạch làu.
Chính sử còn, sự thật đâu ?

Soi gương kim cổ
Tích truyện xưa
Ghi lại đôi lời
Trăng che mặt trời
Nhật thực hôm nay.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp
Ngày 9 tháng 3 năm 2016 Nhật thực Việt Nam
Ngày 9 tháng 3 lúc 10: 45 trăng che mặt trời
CNM365 ta chọn lại vài hình hay để ngắm …
Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn
Ức Trai ngàn năm linh cảm

TRỜI BAN TỐI, BIẾT VỀ ĐÂU?

Vũ Bình Lục

(Về bài thơ NGÔN CHÍ – SỐ13 của Nguyễn Trãi)

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

Nguyễn Trãi sống cách chúng ta khoảng sáu trăm năm. Riêng nói về thơ Nôm, dẫu thất lạc sau thảm hoạ tru di năm 1442, cũng còn được hơn 250 bài. Có thể nói, Nguyễn Trãi đã dựng lên một tượng đài sừng sững bằng thơ, mà trước hết là thơ viết bằng ngôn ngữ dân tộc-Thơ Nôm. Chùm thơ “Ngôn chí” có rất nhiều bài hay, đọc kỹ, nghiền ngẫm kỹ mới thấy cái hay, bởi chữ Nôm cách nay sáu trăm năm, rất nhiều từ nay không còn dùng nữa, hoặc rất ít dùng. Phải tra cứu một số từ, một số điển tích, mới dần sáng tỏ một hồn thơ lớn, lớn nhất, trong lịch sử thơ ca Việt Nam!

Đây là bài Ngôn chí số 13, do những người biên soạn sách Tuyển tập thơ văn Nguyễn Trãi sắp xếp.

Hai câu đầu: Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu

Hai câu thơ đơn thuần chỉ là tả cảnh, đặc tả một buổi chiều, mà gam màu chủ đạo là màu vàng thẫm rất quen mà huyễn hoặc. Bóng chiều tà đã ngả, đang quấn lấy một ngôi lầu ở bên sông, hay đang trùm lên ngôi lầu bên sông một màu vàng thẫm. Nhưng có điều cần lưu ý, đây là ngôi lầu giành cho đàn bà con gái thuộc tầng lớp quý tộc giàu sang, trong một không gian rộng lớn và yên tĩnh, rất yên tĩnh. Câu tiếp theo mới thật diễm lệ: Thế giới đông nên ngọc một bầu. Vậy thế giới đông là gì? Theo điển dẫn, đông chính là khí tốt, khí thiêng của thế giới, của vũ trụ đông đặc lại mà thành phong cảnh đẹp như ngọc. Thế đấy! Còn như Bầu, cũng theo điển sách Đạo gia, kể rằng Trương Thân thường treo một quả bầu rất lớn, hoá làm trời đất, ở trong cũng có mặt trời mặt trăng, đêm chui vào đó mà ngủ, gọi là trời bầu, hay bầu trời cũng vậy…Quả là một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ, rất xưa, tinh khiết và tráng lệ, dường như đã đạt đến mức cổ điển!

Đấy là hai câu thất ngôn. Hai câu tiếp theo, lại là lục ngôn, vẫn tiếp tục tả cảnh:
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giải nguyệt in câu.

Tuyết sóc, nghĩa là tuyết ở phương bắc (sóc) chả biết gieo xuống từ bao giờ, mà còn giăng mắc trên những cành cây như những bông hoa trắng muốt, như điểm phấn cho cây, trang trí làm đẹp cho cây. Có người bảo nước ta làm gì có tuyết, chỉ là ước lệ cho đẹp văn chương mà thôi. Nhưng họ nhầm đấy! Các tỉnh phía Bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang và chắc là còn một số nơi khác nữa ngày nay vẫn có tuyết, nhiều nữa kia. Vậy thì sao thơ văn ngày xưa các cụ ta nói đến tuyết, con cháu lại hàm hồ bác bỏ? Cách đây mấy trăm năm, sao lại không thể không có tuyết mà các cụ phải đi mượn của người? Phía bắc là tuyết, là hoa tuyết điểm phấn cho cây, thì Cõi đông giải nguyệt in câu. Phương đông in một giải lụa trăng vàng óng. Thế là cả một không gian rực rỡ sắc màu. Màu trắng của tuyết hoa tương ánh cùng màu vàng của ánh nguyệt in bóng nước, của chiều tà vàng thẫm, tạo một bức tranh vừa rộng vừa sâu, gợi một khoảnh khắc giao thoa hỗn mang rất nhiều tâm trạng.

Hai câu tiếp theo, vẫn cấu trúc bằng lục ngôn:
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu

Bây giờ là sương khói trong chiều muộn. Cúi xuống nhìn dòng nước, thấy khói chiều in xuống mặt nước trong veo phẳng lặng. Quyên, từ cổ là mặt nước trong, do đó quyên phẳng nghĩa là mặt nước trong phẳng lặng, như thể nhìn rõ khói chiều đang chìm dưới đáy nước. Rõ là nước lộn trời, vàng gieo đáy nước, “Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”. Có lẽ Nguyễn Du mấy trăm năm sau đã tiếp thu tinh thần của câu thơ Nguyễn Trãi mà sáng tạo lại trong Truyện Kiều câu thơ trên, khi mà tiếng Việt đã đạt đến độ nhuần nhuyễn và trang nhã chăng? Còn trên trời thì đàn chim nhạn đang xếp hình chữ triện mà mỏi mệt bay về rừng tìm chốn ngủ. Và gió nhẹ, thổi rỗng cả trời…

Cảnh chỉ là điểm xuyết, mà gợi nên bức tranh đủ sắc màu, rất sống động, và tiếp đó, nó như thể đang chuyển động dần về phía đêm tối, về phía lụi tàn.

Hai câu cuối, tác giả viết:
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối ước về đâu?

Con thuyền nhỏ nhoi (Thuyền mọn) của Tiên sinh, hay con thuyền của một vị khách nào đó, vẫn còn đang mải miết chèo trên sông, như chẳng muốn dừng lại. Trong nhập nhoạng bóng tà, con thuyền mọn như càng nhỏ bé hơn, chưa muốn, hay chưa tìm được nơi đỗ lại mà nghỉ ngơi, hay bởi vì Trời ban tối, ước về đâu, biết về đâu? Câu bảy thất ngôn, dàn trải thêm, biểu hiện sự buông thả, lửng lơ, phân vân… Câu tám bỗng đột ngột thu lại lục ngôn, như một sự dồn nén tâm sự.

Có bao nhiêu phần trăm sự thực trong bức tranh chiều tà bên sông lộng lẫy mà buồn? Có lẽ cũng chẳng nên đặt vấn đề cân đong cụ thể, bởi thơ nhìn chung là sản phẩm sáng tạo của trí tưởng tượng, thực và ảo hoà trộn đan xen. Hai câu kết của bài thơ xem ra mới thật sự là tâm điểm của bài thơ. Phải chăng, con thuyền mọn kia, chính là hình ảnh Ức Trai Tiên sinh, như con thuyền nhỏ bé ấy, đang một mình đi tìm bến đỗ, mà chưa tìm thấy nơi đâu là bến là bờ? Từ cái ngôn chí này, có thể ước đoán Ức Trai viết bài thơ này vào thời điểm quân Minh đang đô hộ nước ta, Ức Trai đang bị giam lỏng ở thành Đông Quan, chưa tìm được minh chủ mà đem tài giúp nước? Cũng có thể đây là thời điểm Nguyễn Trãi bị thất sủng, về ở ẩn tại Côn Sơn, trong hoàn cảnh chính sự trong nước đang rất đen tối, nhất là ở nơi triều chính. Nguyễn Trãi từ tin tưởng, đến nghi ngờ và thất vọng trước thực tại đau lòng: Biết bao trung thần bị hãm hại, còn lũ gian thần hiểm ác nổi lên như ong, nhũng lọan cả triều đình. Làm sao mà không bi quan cho được khi mà Trời ban tối, biết về đâu?

*

Lên non thiêng Yên Tử, tôi thành tâm đi bộ từ chùa Hoa Yên lúc nửa đêm để lên thấu đỉnh chùa Đồng lúc ban mai. Nguyễn Trãi bài thơ thần trên trang sách mở, lồng lộng giữa nền trời bình minh trên đỉnh cao phong Yên Tử. Tôi chợt tỉnh thức, thấm thía, thấu hiểu sự nhọc nhằn của đức Nhân Tông hội tụ minh triết Việt. Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn.”xưa nay trời đất vô cùng ý. Nơi sóng xanh cây khói tuyệt vời”.

Hoàng Kim

Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn, https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-trai-kiet-tac-tho-van/ xem tiếp Tư liệu đền thờ Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê huyện Thường Tín https://www.facebook.com/watch/?v=1388956931535595

CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC http://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) -Thanh Thúy
Ban Mai; Chỉ tình yêu ở lại
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

 

 

Thiên nhiên và bạn quý

THIÊN NHIÊN VỚI CON NGƯỜI
Hoàng Kim

Thiên nhiên với con người; Minh triết của Đức Phật; Văn chương ngọc cho đời; Thành tâm với chính mình; Truyện Tam Cố Thảo Lư; Gia Cát Mã Tiền Khóa; An vui cụ Trạng Trình; Gốc mai vàng trước ngõ; Một gia đình yêu thương Tỉnh thức cùng tháng năm là các mẫu chuyện hay, bài học cuộc sống vô giá

Thiên nhiên là bà mẹ của cuộc sống chúng ta. Đến với thiên nhiên, chúng ta được tắm mình trong nguồn năng lượng vô tận của trời xanh, cây xanh, gió mát và không khí an lành. Tôi thật yêu thiên nhiên nên đã sớm ngộ ra được bài học vô giá này của Lê Quý Đôn tinh hoa “Dẫu có bạc vàng trăm vạn lượng. Không bằng kinh sử một vài pho”

Cuộc đời Lê Quý Đôn dù bận rộn đến đâu, ông vẫn lưu tâm công trình chính với ghi chép nhỏ. Các ghi chép nhỏ này lưu lại điều ông thật sự tâm đắc, mắt thấy, tai nghe, hoặc ông xâu chuỗi các điều sâu sắc. Kiến văn tiểu lục(12 quyển), là những ghi chú nhỏ của Lê Quý Đôn (mà tiếng Anh ngày nay gọi là Notes), và ông đã lưu lại ngay điều không nỡ quên này.

Thiên nhiên với con người chi phối mạnh mẽ nhất tới quy luật nhân quả cuộc sống con người. Tôi tích hợp bài ‘Đức Phật với cây xanh’ (mời xem hộp trích dẫn) Nhớ thầy Nguyễn Quốc Toàn và VN-FOOD-PARADISE, với việc trích dẫn bài ‘Thiên nhiên và con người’ phim tài liệu khoa học của VTV2 cùng một số hình ảnh của Lớp 10A TT ĐHNN2 Hà Bắc

ĐỨC PHẬT VỚI CÂY XANH
Nguyễn Quốc Toàn

Xưa nay, các thái tử được sinh ra trong cung vàng điện ngọc, bên cạnh những người hầu tận tụy trong hoàng cung. Riêng thái tử Tất đạt đa – sau này là đức Phật Thích ca được chào đời trong vườn Lâm tì ni của nước Ca tỳ la vệ. Mẹ ngài – hoàng hậu Ma da trên đường về thăm quê bỗng chuyển dạ. Trong tư thế đứng, hai tay níu chặt cành cây vô ưu, người mẹ sinh con trai trong rừng cây xanh tốt, hoa lá vẫy chào.

Đến năm 29 tuổi, thái tử giả từ hoàng cung, đi tìm con đường giải thoát chúng sinh. Ngài bỏ ra 6 năm đi vào rừng sâu, tu học với các nhóm khổ hạnh. Với người Ấn Độ 2500 năm trước, quan niệm càng khổ hạnh, hành xác, càng giảm được tội lỗi để giải thoát. Tuy nhiên chỉ ăn mỗi ngày một hạt vừng, sức khỏe của thái tử ngày một kiệt quệ, có nguy cơ chết đói. Ngài mô tả tình trạng này trong kinh Trung bộ như sau: “ Vì ta ăn ít mỗi ngày nên cơ thể ta trở nên hết sức gầy yếu. Tay chân ta như các lóng tre khô đầy khúc khuỷu…xương sườn ta lộ rõ như rui cột của ngôi nhà đổ nát…da đầu ta khô héo nhăn heo như trái mướp đắng được cắt đem phơi nắng, khô héo, nhăn nheo…”

Thái tử Tất đạt đa nhớ lại một sự kiện lạ lùng thuở ấu thơ. Lúc đó, phụ vương ngài chủ trương khuyến nông, thân hành xuống cày ruộng, còn thái tử ngồi dưới bóng cây Diêm phù (1) và đột nhiên nhập vào một trạng thái ly dục, ly bất thiện pháp, một trạng thái thiền định, đi kèm với tầm, tứ, hỷ, lạc (2). Nay nhớ lại, ngài tự hỏi, phải chăng thiền định là con đường đi đến giác ngộ ??

Thái tử Tất Đạt Đa bỏ hẳn lối tu khổ hạnh, và trở lại cuộc sống bình thường. Ngài nhập định suốt 49 ngày đêm dưới bóng cây assatha (3), với bốn giai đoạn thiền. Vào đêm thứ 49 ngài ngộ được tam minh. Với “Túc mạng minh” ngài bình tâm hồi tưởng các tiền kiếp. Với “Thiên nhãn minh” ngài vượt trí phàm tục. Thấy được mọi người sẽ được tái sinh vào cõi lành hay cõi dữ tùy theo hạnh nghiệp của mình. Với “Lậu tận minh” ngài đã hoàn thành đời phạm hạnh, những gì cần làm ngài đã làm xong, không còn tái sinh nữa. Đêm ấy, năm 528 trước CN, thái tử Tất đạt đa trở thành đức Phật, đấng giác ngộ tỉnh thức, được giải thoát ngoài vòng luân hồi sinh tử.

Đọc thêm kinh Đại Bản (trang 21, 22) của đức Phật, ta biết về sự thành tựu của 7 vị Phật thời quá khứ dưới 7 loại cây xanh :

– Ngài Tì bà thi thành Phật dưới gốc cây ba ba la

– Ngài Thi khí thành phật dưới gốc cây phân đà lị

– Ngài tì xá bà thành phật dưới gốc cây sa la

– Ngài Câu lâu tôn thành phật dưới góc cây thi lị sa

– Ngài Câu na hàm thành phật dưới gốc cây ô tam bà la

– Ngài Ca diếp thành Phật dưới gốc cây ni câu luật

– Ngài Tất đạt đa thành Phật Thích ca dưới gốc cây asshatha (bồ đề)

Ở tuổi 35, ngài đi thuyết pháp khắp xứ Nê Pan và Ấn Độ trong 45 năm, với 6000 bản kinh. Tất cả được ngài truyền giảng trong rừng cây xanh. Chẳng hạn, kinh “Pháp môn căn bổn” ngài thuyết giảng cho các Tỷ kheo trong rừng Subhaga dưới gốc cây Sa la vương. “ Kinh Tư Lượng” ngài thuyết giảng trong vườn Lộc Uyển. “Kinh lá rừng” được ngài thuyết giảng trong rừng cây Samsapà. Ngài nhặt hai ngọn lá Samsapà khô dưới đất để minh hoa cho bài kinh của mình, chứ không ngắt lá xanh trên cây. Chi tiết đó, tượng trưng thuyết “Y Chánh bất nhị” của đức Phật . Y Chánh gồm Y báo và Chánh báo. Y báo là môi trường trường sống của con người, trong đó có rừng cây xanh. Chánh báo là nhân loại. Con người và cây rừng không phải một, nhưng không thể là hai. Nếu tàn phá hủy hoại cây rừng là con người tự tàn phá chính mình.

Năm đức Phật 80 tuổi, ngài đến vùng Kusinàrà. Tại đây ngài nằm nghỉ trong cánh rừng sala đang nở hoa. Ngài từ giả cõi tạm, các đệ tử tiến hành lễ trà tỳ, tiễn biệt ngài vào cõi Niết bàn. Thái tử Tất đạt đa duyên nợ với cây xanh từ lúc chào đời dưới tán cây vô ưu, thành Phật dưới tán cây Assatha (bồ đề) và nhập niết bàn trong rừng cây Sala (Cây vô ưu). Hoàng hậu Ma da đứng vịn vào loài cây này khi sinh thái tử Tất đạt đa, năm 563 trước CN

1) Diêm phù: Còn gọi là cây Jambu, tượng trưng đất nước Ấn Độ

2) Đầy đủ là: Tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm. Năm thiền chi trong các tầng thiền. Trong sách Đức Phật lịch sử, tác giả Schumann không nói đến “nhất tâm”

3) Assatha: Sau khi thái tử thành Phật, cây này có tên bồ đề,sự giác ngộ.


ĐỌC ‘HIỂU ĐỜI” CỦA CHU DUNG CƠ
Hoàng Kim

NGỌC PHƯƠNG NAM. Dạy và học Thung dung đã đạt một triệu lượt người đọc. Trong đó Đọc Hiểu đời của Chu Dung Cơ là một trong số những bài viết được nhiều người xem. Tôi đọc lại bài này và càng thấm thía lời ông: “ Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn. Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình , biết đủ thì lúc nào cũng vui. Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui. Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui… Ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao…’’

HIỂU ĐỜI

Chu Dung Cơ

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.

Qua một ngày mất một ngày.
Qua một ngày vui một ngày.
Vui một ngày lãi một ngày

Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi.

Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn.
Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ!

Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền.
Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó

“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.

Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.

Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn,

Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi.

Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ.

Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ.

Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.

Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.

Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy.

Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).

Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.
Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui. Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.

Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.

Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già.

Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên “vừa phải”.

Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống…).
Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh).
Người khôn phòng bệnh (chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống).

Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.

Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh … Tất cả đều là muộn.

Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh

“Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.

Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành mạnh.

Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu sắc, có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.

Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.

Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già.

Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt. Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu chấm hết thật tròn.

CHU DUNG CƠ LÀ NGƯỜI THẾ NÀO?

Lời bình của Hoàng Kim

Chu Dung Cơ khi lên nhậm chức thủ tướng Trung Quốc, trước họa tham nhũng và chống đối, ông đã làm “Bàng Đức mang quan tài ra trận”. Dịp đó, chuyện cực ngắn Trung Quốc loan truyền câu chuyện vui “Con chim ngập trong đống phân”. Không hiểu sao, liên tưởng thân phận của những người bị vùi dập trong cách mạng văn hóa nay nhờ ơn tri ngộ của Đặng Tiểu Bình kéo lên từ tủi nhục, tôi lại thấy lo cho ông. Liệu ông có quá “đại ngôn” để rước họa vào thân? Sau này, khi thấy ông xuất xử đúng mực, hợp lý,”dĩ công vi thượng” (đặt việc công lên trên) “tận nhân lực” (làm hết mình) và khéo lui đúng lúc thì mới thấy ông quả là người hiểu đời. Vương Mông, người cùng thời với ông, viết “Triết lý nhân sinh của tôi” dài mà không thừa. Ông (Chu Dung Cơ) thì viết “Hiểu đời” ngắn mà không thiếu. Tôi thích nhất câu” Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn”. Nhưng sao ông lại chỉ nói đến người già trong khi những lời ông đáng suy ngẫm cho lớp trẻ lắm chứ ?.

BÀNG ĐỨC MANG QUAN TÀI RA TRẬN

Bàng Đức và Mã Đại là những tướng giỏi của Mã Siêu. Trước đó, Mã Siêu trả thù cho cha là Mã Đằng bị Tào Tháo giết hại đã khởi binh Tây Lương cùng Hàn Toại là người em kết nghĩa của cha đánh thắng Tào Tháo nhiều trận lừng lẫy nhờ sự dũng cảm thiện chiến. Sau vì Mã Siêu bị trúng kế ly gián của Tào Tháo nên thua. Mã Siêu rốt cục lại rơi vào kế của Khổng Minh nên cùng Mã Đại về hàng Lưu Bị. Bàng Đức thế cô buộc phải hàng Tào Tháo.

Từng trãi chiến trân và biết dung nạp nhân tài, Tào Tháo đã không phân biệt đối xử mà trọng đãi Bàng Đức hết mực. Bàng Đức cảm ơn tri ngộ của Tào Tháo nên quyết lấy cái chết để báo đền. Ông đã khiêng quan tài ra trận quyết tử chiến với Quan Vũ, một danh tướng khét tiếng vũ dũng mà mọi tướng lĩnh của Tào Tháo đều e ngại khi đối trận. Sau này, Bàng Đức bị Quan Vũ giết chết.

Nhiều năm sau, Quan Vũ, Lưu Bị, Khổng Minh lần lượt chết, Hán Trung nhà Thục bị nhà Ngụy (họ Tào) thôn tính, con cháu của Bàng Đức đã truy lùng, tận diệt dòng họ của Quan Vũ để báo thù.

Thủ tướng Chu Dung Cơ sau này cũng đã làm người đời liên tưởng “Bàng Đức mang quan tài ra trận”.

CON CHIM NGẬP TRONG ĐỐNG PHÂN

Trời quá lạnh, một con chim bị cóng rơi xuống cánh đồng.

Trong lúc chim nằm bất động, một con bò đi qua đại tiện lên thân mình nó.

Chim được phân bò ủ ấm dần, tỉnh lại, thấy ấm áp và hạnh phúc, nó cất tiếng hót vui mừng.

Một con mèo đi qua, nghe tiếng chim hót liền tìm kiếm và phát hiện chim giữa đống phân, mèo bới phân kéo chim ra ăn thịt.

Bài học:
1. Không phải ai ỉa vào mình cũng là kẻ thù của mình.
2. Không phải ai kéo mình ra khỏi đống phân cũng là bạn mình.
3. Khi đang ngập ngụa trong đống phân thì tốt nhất là ngậm cái mồm lại

(GS Mai Văn Quyền: Không phải của mình mà của Hà Triều Hiệp đấy! chuyện cực ngắn của Tàu đấy !)

Nguồn: NGỌC PHƯƠNG NAM https://hoangkimvietnam.wordpress.com/2010/09/26/doc-hieu-doi-cua-chu-dung-co/

BinhMinhYenTu

DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đâycập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Bài ca thời gian
Run away with me.
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter