Tiết Tiểu hàn

HoavaOng
Hoàng Kim
.

Tiết Tiểu hàn  rét nhẹ .
Đêm lạnh nhớ Đào Công.
Ngược gió đi không nản.
Tuyết xuân thương người hiền.

Đêm trắng và bình minh.
Thung dung chào ngày mới.
Phúc hậu sống an nhiên.
Đông qua rồi xuân tới.

Ngược gió đi không nản.
Rừng thông tuyết phủ dày.
Ngọa Long cương đâu nhỉ.
Đầy trời hoa tuyết bay …

tiettieuhan

24 TIẾT KHÍ LỊCH NHÀ NÔNG

Hoàng Kim

5 tháng Một bắt đầu rét nhẹ
21 tháng Một
trời lạnh cắt da
4 tháng Hai ngày
xuân mới đến
20 tháng Hai
Thiên Địa Nhân hòa

Mong em đừng quên “nhất thì nhì thục
Cuộc sống tình yêu chãy mãi không cùng
Em HỌC ĐỂ LÀM (Learning by Doing) 24
tiết khí
Mộc mạc hát vần 
Bài học đầu tiên.

Đồng dao cho em khuyên em đừng tưởng
Câu chuyện mùa xuân
thêm cho mồng Ba
Trải
Cốc Vũ qua ngày Hạ Chí
Đại Thử rồi Sương Giáng thành hoa.

Đất cảm trời thương, lòng người gắn bó
Dẫu khó vạn lần khéo liệu cũng xong
Em đừng ngại mùa Xuân rồi lâu đến
Bởi biết rằng
năm tháng đó là em.

24tietkhi

24 tiet khi PhanLanHoa

troixanhbannanluavangmua

SỚM XUÂN

Hoàng Kim

Trời xanh bán nắng lúa vàng mua
Xuân tới đông qua tiết trở mùa
Sớm xuân tỉnh thức nghe chim hót
Một khúc tâm tình trẻ tiếng thơ.

Hoàng Kim học để làm ở Ấn Độ

(tiếp vần liên hoàn … 24 tiết khí lịch nhà nông)

 
Peacefully
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Toni tình yêu cuộc sống

Lorain OhioKHÁT KHAO XANH. Toni sinh ở Lorain, Ohio, (ảnh Rona Proudfoot). Toni Morrison là ai? Em hãy đọc Toni Tình yêu cuộc sống. Chào ngày mới an lành. HK

Toni va Vietnam

TONI MORRISON NHÀ VĂN MỸ

Hoàng Kim

Toni Morrison, gọi tắt là Toni, tên khai sinh Chloe Anthony Wofford, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1931, là nhà văn nữ Mỹ gốc Phi, người thành phố New York, giáo sư Mỹ, phụ nữ đoạt giải Nobel Văn học năm 1993, giải Pulitzer năm 1988, nổi tiếng với các tác phẩm Tình yêu, Người yêu dấu, Bài ca Solomon, Mắt xanh.  Bà rất được kính trọng trong các phong trào quyền bình đẳng phụ nữ và thường phát biểu trong các đại hội của phụ nữ da đen. Tác phẩm của bà được dịch ra nhiều thứ tiếng và là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu. Morrison gọi Bill Clinton là “Tổng thống da đen đầu tiên”, vì bà cho rằng “Clinton phô bày hầu hết những nét đặc trưng của dân da đen: Một cậu bé gốc Arkansas, sinh ra trong một gia đình nghèo không cha, thuộc tầng lớp lao động, chơi kèn saxophone, và mê thức ăn McDonald”.

Toni Morrison là nhà văn tình yêu như tác phẩm mẫu mực mới đây của bà, một trong những biểu tượng văn hóa khát khao vươn tới. Đó là sự tôn vinh những giá trị đích thực của nhân loại: yêu thương con người, tôn trọng tự do, quan tâm bình đẳng giới, quan tâm người nghèo và những người kém may mắn.

Toni sinh ở Lorain, Ohio, là một thành phố thuộc quận Lorain, tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của thành phố này là 64.097 người. Toni là con thứ hai trong một gia đình công nhân da đen có bốn người con. Toni lớn lên cùng cuộc đại suy thoái những năm 1930 ở nước Mỹ. Bà sớm  bộc lộ niềm yêu thích văn học. Thuở nhỏ, bà học tiếng Latin, đọc các tác phẩm của văn học Nga, AnhPháp.

Jane Austen
AustenTolstoy  là bậc thầy thần tượng của Toni.  Austen (hình UTA) sinh ngày 16 tháng 12 năm 1775 mất ngày 18 tháng 7 năm 1817, là nữ văn sĩ Anh, tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng. Văn phong tuyệt kỹ trong nghệ thuật dẫn chuyện và xây dựng tình huống cùng với tầm cao văn hóa  xã hội đã đem tên tuổi Austen vào trong số những nhà văn nhiều ảnh hưởng và được trọng vọng nhất trên văn đàn nước Anh. Auten chưa bao giờ kết hôn nhưng có câu chuyện tình yêu lãng mạn với Tom Lefroy và thể hiện sâu sắc trong đời văn của mình. Austen đã ảnh hưởng sâu đậm đến phong cách văn chương của Toni.
Lev Tonstoy

Tolstoy là đại văn hào Nga với các kiệt tác Chiến tranh và hoà bìnhAnna Karenina, nhà viết tiểu thuyết vĩ đại nhất trong tất cả các nhà viết tiểu thuyết. Tolstoy sinh ngày  9 tháng 9 năm 1828 mất ngày 20 tháng 11 năm 1910  là nhà giáo dục, nhà triết học, nhà đạo đức, người theo chủ nghĩa nhân đạo, hoà bình,  nổi tiếng với tư tưởng đối kháng không bạo động, được thể hiện xuyên suốt các tác phẩm của mình, ảnh hưởng sâu đậm tới nhiều nhân vật danh tiếng của thế kỷ XX như Gandhi, Luther King, … và Toni.

Toni sau khi tốt nghiệp trung học loại ưu năm 1945 đã theo học ngành khoa học xã hội nhân văn tại trường Đại học Howard và hoàn thành chương trình cao học tại Đại học Cornell, sau đó làm giảng viên tại Đại học Texas, Đại học Howard và Đại học Yale. Biệt danh “Toni” có từ những ngày còn học ở đại học. Năm 1958 bà lấy chồng là Harold Morrison, có hai con là Harold và Slade. Sau năm 1964 bà sống độc thân và làm trợ lí biên tập cho nhà xuất bản Random House chuyên sách giáo khoa tiểu bang New York. Sau đó, bà trở thành biên tập viên chính, biên tập sách của nhiều nhà văn nổi tiếng từ năm 1967. Toni xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay “Mắt xanh” (The Bluest Eye) năm 1970, thu hút sự chú ý của công chúng Mỹ do sự mô tả sâu sắc cuộc sống và số phận của những người Mỹ gốc Phi. “Mắt xanh” nói về mơ ước của cô gái da đen ước mình có mắt xanh biểu tượng nét đẹp của người Mỹ da trắng, tác động sâu sắc đến sự thành kiến chủng tộc đang nhức nhối lương tâm nước Mỹ . Năm 1973, tiểu thuyết Sula của Toni trở thành sách bán chạy nhất và được trao Giải thưởng sách Quốc gia. Hai năm 1976 và 1977 bà dạy ở Đại học Yale và viết Bài ca Solomon (Song of Solomon), được trao Giải thưởng Quốc gia và Giải thưởng của Viện Hàn lâm Văn học và Nghệ thuật Mỹ. Toni từ năm 1989 giữ chức giáo sư Đại học Princeton, chuyên gia giảng dạy văn học Mỹ – Phi, thỉnh giảng và viết phê bình. Kể từ năm 1981, bà là thành viên Viện Hàn lâm Văn học và Nghệ thuật Mỹ, Viện Hàn lâm các Khoa học xã hội và Khoa học chính xác Mỹ. Bà đã nhận được nhiều giải thưởng văn học có uy tín, trong đó có giải Pulitzer năm 1988 cho tiểu thuyết Người yêu dấu (Beloved). Trong tác phẩm này, bà đã chỉ ra tác động kinh hoàng của kiếp nô lệ đến tình cảm của người mẹ. Câu chuyện của một phụ nữ da đen cho rằng thà tự tay giết chết con gái mình còn hơn phải đưa con đi làm nô lệ đã ám ảnh lương tâm nước Mỹ vừa phục hồi sau cuộc nội chiến, hướng tới giá trị nhân văn đa sắc tộc, tôn trọng quyền con người, quyền được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Tiểu thuyết “Người yêu dấu” đã thành công vang dội. Năm 1993, bà được nhận giải Nobel, trở thành người phụ nữ da đen đầu tiên được trao giả thưởng cao quý này. “Tình yêu” (Love)  là tiểu thuyết mới nhất của bà xuất bản năm 2003, rất được yêu thích và bà trở thành một trong những biểu tượng của văn hóa Mỹ.

Những tác phẩm chính của Toni Morrison gồm có:

  • The Bluest Eye (Mắt xanh, 1970), tiểu thuyết
  • Sula (1973), tiểu thuyết
  • Song of Solomon (Bài ca Solomon, 1977), tiểu thuyết
  • Tar Baby (Thủy thủ nhóc, 1981), tiểu thuyết
  • Dreaming Emmett (Giấc mơ em, 1986), kịch
  • Beloved (Người yêu dấu, 1987), tiểu thuyết
  • Jazz (Nhạc Jazz, 1992), tiểu thuyết
  • Playing in the Dark (Chơi đêm, 1992), tiểu luận
  • Racing Justice (Thi đua công bằng, 1992), tiểu luận
  • Paradise (Thiên đường, 1998), tiểu thuyết
  • The Big Box (Chiếc hộp lớn, 2000), truyện thiếu nhi
  • The Book of Mean People (Sách đời thường, 2001), truyện thiếu nhi
  • Love (Tình yêu, 2003), tiểu thuyết.

Nguồn chính thông tin về Toni Morrison trên Wikipedia tiếng Việt, Literary Encyclopedia biography, Voices from the Gaps biography, The Nobel Prize in Literature 1993,  Toni trên thế giới tiếng Anh quá nổi tiếng, đặc biệt với Tình Yêu (Love), Người yêu dấu (Beloved), Bài ca Solomon (Song of Solomon), Mắt xanh (The Bluest Eye). Toni ở Việt Nam là khát khao xanh chờ đợi của tôi và bạn đọc Việt, mong muốn được thưởng thức các bản chuyển ngữ uy tín, danh tiếng để người Việt được lắng đọng và chia sẻ tầm tư tưởng nhân văn cao vọi cùng với nghệ thuật văn chương bậc thầy của một nhà văn lớn đương đại. Người Việt mở rộng cửa giao lưu văn hóa nhìn ra thế giới.

 

Hoàng Kim
(bài đã đăng trên KHÁT KHAO XANH, DẠY VÀ HỌC)

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNGChucmungNammoi

CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Huyền Trang và tháp Đại Nhạn

HuyenTrangThapDaiNhan
CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày.

Huyền Trang và tháp Đại Nhạn

Hoàng Kim

Huyền Trang (玄奘) tên thật là Trần Vỹ, sinh năm 602 (hoặc 596?) thời Tùy Văn Ðế Dương Kiên, tại huyện Câu Thi, hiện là huyện Yêm Sư, tỉnh Hà Nam, mất ngày 5 tháng 2 năm 664 tại Ấn Đài, Thiểm Tây, Trung Quốc; Huyền Trang là một trong những người Thầy vĩ đại nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, nhà dịch thuật kinh điển Phật Giáo rất nổi tiếng, là nguyên mẫu Đường Tam Tạng đã được tiểu thuyết hóa trong tác phẩm “Tây Du Ký”, là người cùng thời với vua Đường Thái Tông  Lý Thế Dân.
HuyenTrang5

Năm 629 sư Huyền Trang xuất phát từ Trung Quốc hành hương sang đất Phật, năm 630 thì đến nơi, năm 645 quay về Trung Quốc. Huyền Trang đích thân mang kinh Phật về (1) và chủ trì dịch thuật thành 75 bộ kinh luận Phật Giáo với 1335 quyển, thực hiện liên tục trong suốt 19 năm với quy mô to lớn và chất lượng dịch thuật rất cao. Huyền Trang cũng là tác giả của bộ “Ðại Ðường Tây Vực Ký” 12 quyển có giá trị đặc biệt về địa lý, văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ và du lịch. Cao tăng Huyền Trang đồng thời cũng đào tạo một hệ thống tăng sĩ về Duy thức và Nhân minh Ấn Độ, là Quốc sư của triều đình. Người đã chấn hưng Phật Giáo và mang lại hiển vinh cho lịch sử Trung Quốc.

DuongHuyenTrangThapDaiNhan

Tháp Đại Nhạn là một tháp ở thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc được xây năm 652 trong thời kỳ của Đường Cao Tông (trị vì 649-683), lúc đó tháp có 5 tầng cao 54 m dùng để chứa bản dịch Kinh phật của Đường Tam Tạng. Tháp đã được xây lại năm 704 trong thời Võ Tắc Thiên, bề mặt ốp gạch được trùng tu vào thời nhà Minh (1368–1644) và được phụ chế vào năm 1964. Hiện tại tháp cao 64 mét. Từ đỉnh tháp có thể nhìn bao quát thành phố Tây An.

ThapDaiNhan1

Đi dưới vùng  trời minh triết của tháp Đại Nhạn lắng nghe cỏ cây và cổ vật kể chuyện.

HuyenTrang1

HuyenTrang2

Ngôi am cổ tự kia và phiến đá này còn lưu dấu vết tích của một vị chân tu.

DuongTamTangThapDaiNhan
Tháp Đại Nhạn và quần thể kiến trúc này tính đến nay đã ra ngoài ngàn năm.

DoiQuanDatNungTayAn
Ở Tây An còn có “đội quân đất nung của Tần Thủy Hoàng” với biết bao kỳ bí khác. Thế nhưng ấn tượng sâu sắc nhất trong tôi đối với Tây An vẫn là Huyền Trang với tháp Đại Nhạn. Đó là bài học lịch sử văn hóa nhân văn thật sâu sắc.

Huyền Trang và Tháp Đại Nhạn, một vùng di sản thiêng liêng thật đáng khâm phục.

Hoàng Kim

 

locxuan

ĐẠI ĐƯỜNG TÂY VỰC KÝ

Bu Lu Khin  Nguyễn Quốc Toàn.

Những ai đã đọc Tây Du kí hoặc xem phim Tôn Ngộ Không, hẳn không thể quên được nhân vật Đường Tăng. Nhưng đấy là Đường Tăng do nhà văn Ngô Thừa Ân dựa vào ông Đường Tăng có thật thời nhà Đường để hư cấu nên. Ngài Đường Tăng thật tên là Trần Vĩ còn gọi là Trần Huyền Trang ở tỉnh Hà Nam, sinh năm 600 thời nhà Tùy, mất năm 644 thời nhà Đường. Mới 13 tuổi ông đã xuất gia, 20 tuổi thọ Cụ túc giới. Ông say mê nghiên cứu Phật học và nhận thấy các bản kinh dịch ra tiếng Trung Quốc thời bấy giờ nhiều chỗ chưa rõ nghĩa nên lập chí đến Ấn Độ lưu học. Ông đã đi qua 138 nước và ghi lại thật đầy đủ địa hình, sông núi, quan phòng, thành trì, đường sá, giao thông, tập tục, phong thổ, khí hậu , sản vật, văn tự, ngôn ngữ, chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo của nhiều quốc gia vùng Trung á, Nam á, cùng với không ít các truyền thuyết cố sự Phật giáo. Sau 17 năm đèn sách tu tập, đến năm Trinh Quán thứ 9 triều Đường ông về nước mang theo 657 bộ kinh. 19 năm tiếp theo, ông chuyên tâm dịch kinh phật từ chữ Phạn ra chữ Hán. Tuyệt đại đa số các bản kinh chữ Hán của ngài Huyền Trang được Việt dịch lưu tuyền cho đến ngày nay.
Bu tui không có tham vọng giới thiệu toàn bộ tập sách vĩ đại “Đại Đường Tây Vực ký” mà chỉ trích đăng vài câu chuyện dân gian trong đó, ngõ hầu giúp các bạn mua vui khi trà dư tử hậu vậy.

1- CHUYỆN Ở NƯỚC KHUẤT CHI

Người dân Khuất Chi kể rằng, ngày xưa có một ông vua tôn sùng Tam Bảo (1) muốn vân du các nơi để thăm viếng và hành lễ các Phật tích, bèn giao quyền cho người em ruột, lo việc triều chính, cai trị đất nước. Ngày vua lên đường người em dâng lên ngài một chiếc hộp bằng vàng. Nhà vua hỏi
– Làm vậy là ý gì?
– Khi bệ hạ hồi giá sẽ mở ra xem.
Nhà vua nhận hộp vàng và giao cho quan hầu cận cất giữ cẩn mật. Khi trở về hoàng cung vua nghe có người tâu rằng: Bệ hạ đi vắng giám quốc dâm loạn trong cung. Nhà vua nổi cơn thịnh nộ, tính trị tội người em thật nặng, người em thưa:
– Mong Bệ hạ mở hộp ra xem, nếu thần có tội thì xin cam chịu mọi hình phạt, quyết không than phiền.
Nhà vua mở hộp ra xem thấy một khúc dương vật.
– Thật là quái dị. Ngươi giải thích thế nào đây ?
– Trước đây, Bệ hạ vân du, giao thần làm giám quốc, thần lo sợ gặp tai họa. nên tự cắt của quý của thần để sau này có vật chứng minh oan. Nay quả xẩy ra việc xin Bệ hạ minh xét.
Nhà vua nghe xong nể phục người em bội phần, lại càng thêm yêu mến, cho ra vào cung cấm tự do thoải mái.
Về sau người em đi trên đường gặp một đoàn 500 con bò đang bị lùa đến lò mổ giết thịt. Ông ta động mối từ tâm tự nhủ thầm “sao ta không cứu giúp lũ bò vô tội , gây dựng điều từ thiện, tạo nghiệp cho kiếp sau”, rồi bỏ tiền ra mua cả đàn bò để chúng khỏi bị giết thịt. Cái tâm đại từ bi ấy đã gây nên sức mạnh siêu phàm, dương vật mọc lại như cũ.
Từ khi phục hồi khả năng đàn ông, người em không ra vào cung cấm nữa. Nhà vua lấy làm lạ không hiểu vì lý do gì, bèn hỏi em. Người em cứ sự thật bẩm báo đầu đuôi gốc ngọn. Nhà vua cho là chuyện ly kỳ. bèn xây một ngôi chùa để biểu dương câu chuyện cảm động ấy, lưu lại cho hậu thế.
————–
(1) Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng.

2- CHUYỆN Ở NƯỚC BÀ LA NI TƯ

Ở một khu rừng có tòa Phật tháp nước Bà La Ni Tư -, nơi ngày xưa Đức Như Lai là vua Nai (ngài dùng phép thần thông biến hóa ra). Bấy giờ trong khu rừng có hai đàn nai, mỗi đàn hơn 500 con. Vua nước ấy đang đi săn, Bồ tát vua Nai cầu xin vua:
– Ngài đi săn muốn bắn bao nhiêu cũng được. Lũ chúng tôi thuộc sở hữu của ngài, cũng phải chịu chết thôi. Nhưng chết rồi cơ thể chúng tôi sẽ mục rửa hôi thối, vì ngài đâu ăn cho hết. Chúng tôi chịu cung cấp mỗi ngày một con nai cho ngài, ngài có thịt tươi, bọn chúng tôi cũng được kéo dài tuổi thọ. Nhà vua chấp thuận ý kiến vua Nai, bãi bỏ cuộc đi săn trở về cung. Hai đàn nai cũng giữ lời hứa mỗi ngày thay phiên nhau cung cấp cho nhà vua một con nai. Trong đàn nai nọ có một con đang mang thai, lần đó đến lượt nó phải chịu chết, nai đau đớn nói với vua Nai:
– Đúng là đến phiên tôi phải chịu chết nhưng con tôi đâu đã đến phiên!
Vua Nai giận mắng:
– Ai mà không biết quý sinh mệnh
Con nai than thở:
– Vua ta không có lòng nhân từ. Mẹ con mình không sống được bao lâu nữa rồi.
Vua Nai nói:
-Ta hiểu nỗi lòng người mẹ mong cho đứa con trong bụng lớn lên để rồi thành chú nai mạnh khỏe sống giữa đời. Thôi! ta quyết định đi chết thay cho nhà ngươi.
Nói rồi vua Nai đi thẳng đến hoàng cung vua ở, vua tiếp vua Nai và hỏi:
– Có việc gì vậy
Vua Nai đáp:
– Có một con nai cái đến phiên bị giết song nó đang mang thai chưa đến kỳ sinh nở, tôi thấy bất nhẫn nên lấy thân mình thay cho nó.
Nhà vua nghe thế bèn than:
– Ta là thân người mà bụng thì nai, còn người thân nai mà bụng là người.
Từ đó nhà vua bãi bỏ lệnh giết hại đàn nai, dùng khu rừng ấy cho đàn nai ở nên gọi là rừng Thí Lộc.

(theo đúng bản gốc của tác già trên FB)

______

Xem thêm:

SỰ THẬT VỀ THẦY TRẦN HUYỀN TRANG TỨC “ĐƯỜNG TAM TẠNG”
ĐI TÂY THIÊN LẤY KINH

Nguồn:    Sự thật về Thầy Trần Huyền Trang tức “Ðường Tam Tạng” đi Tây Phương thỉnh kinh
bài viết của học giả Vương Hồng Sến đăng tại Đặc San Quán Thế Âm, số 2, 1995. Quán Thế Âm Ni Tự, 128 Nollamara Avenue, Nollamara, WA, 6061, Australia, như sau:

“Mọi người Việt Nam chúng ta, ai ai cũng đã từng được nghe kể lại, hoặc đọc truyện Ông Ðường Tam Tạng đi Tây phương thỉnh kinh trong truyện Tây Du Ký Diễn Nghĩa. Trong lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc, bộ Tây Du Ký Diễn Nghĩa có cái đặc điểm ngộ nghĩnh là trẻ nhỏ đọc thì mê theo trẻ nhỏ; người lớn đọc thì lại say sưa theo người lớn. Trẻ nhỏ thì thích Tây du diễn nghĩa thần thông quảng đại, có bảy mươi hai phép biến hóa, Có Trư Bát giới chọc cười duyên dáng …. Còn người lớn thì say mê vì những ý nghĩa thâm trầm, trào lộng.

So vớí các bộ tiểu thuyết danh tiếng khác như Hồng Lâu Mộng, Thủy Hử v..v… phạm vi phổ biến của Tây Du diễn nghĩa còn rộng hơn nhiều. Căn cứ theo bộ truyện Tây du diễn nghĩa, thì thầy trò Tam tạng gồm bốn người (Tam tạng, Ngộ không, Ngộ năng, Ngộ tịnh) và một con ngựa (bạch mã) tướng tinh là rồng mắc đọa. Cả đoàn đi qua Tây phương ròng rã 14 năm trời, khi thỉnh được kinh trở về có tám vị Kim Cang đằng vân theo hộ tống đưa về Trường an, vừa khứ hồi trở lại Tây phương cõi Phật chỉ mất có tám ngày vãng phản. Truyện kể bốn thấy trò và một ngựa ngày đêm vượt rừng trèo núi, gặp yêu dẹp yêu, gặp phước làm phước, gian nan không sờn, tử sanh chẳng nệ, trải qua tám mươi mốt nạn lớn, nào là Bàn Ty động quyến rũ, nào là Hỏa diệm sơn đỏ hực, Tiểu lôi kinh khủng v..v… mới đến được Tây phương.

Trong truyện vì làm việc của Tam Tạng là khó, không ai làm được, nên muốn cho dân chúng dễ tin, phải thêm thắt và thi vị hóa cuộc hành trình bằng bao nhiêu yêu tinh đón đương, lớp đòi ăn thịt Ðường Tăng, lớp cám dỗ (chuyện bảy con nhện cởi truồng tắm sông có Bát giới tắm hùa, còn khêu gợi gấp mấy chuyện ngày nay in hình khiêu dâm). Thực sự, Tây du diễn nghĩa là một bộ truyện thần thoại, hầu hết sự kiện, tình tiết đều là bịa đặt.

Nhưng chuyện thầy Trần Huyền Trang (Tam Tạng) đi từ Ðông Ðộ qua thỉnh Kinh Tây Phương lại là chuyện lịch sử có thật. Trần Huyền Trang là một nhân vật có thật trong lịch sử nhà Ðường. Ông tên thật là Trần Vỹ, sanh vào năm thứ 16 đời Tùy Văn Ðế Dương Kiên (596 sau Tây lịch) tại huyện Câu Thi (hiện là Huyện Yêm Sư) Tỉnh Hà Nam. Và chuyện thỉnh kinh Tây Phương cũng là chuyện có thật, đã được chính Huyền Trang thuật lại rất cặn kẽ trong bộ “Ðại Ðường Tây Vực Ký”. Thầy chính là một nhân vật sống đã vào lịch sử một cách vinh quang. Thầy từng làm tôi cho vua Ðương Thái Tôn (Lý Thế Dân) là bậc minh quân đem lại hiển vinh cho lịch sử Trung Quốc.

Sự thực thầy Huyền Trang chỉ đi một mình, cỡi một con ngựa già làm chân. Ông đi và ở suốt 17 năm bên Tây phương, gồm 2 năm đi, 2 năm về và 13 năm ở lại du học tại Ấn Ðộ. Ði từ năm 629 mãi đến năm 645 (sau Tây lịch) mới về đến thành Trường an (Trung quốc). Tính ra Huyền Trang đã rời Ðại Ðường đến 17 năm, đi trên năm vạn dặm đường, qua 128 quốc gia lớn nhỏ. Khi về, ông đã mang về:

– 150 Xá Lợi tử ( Tinh cốt của Như Lai).
– 2 tượng Phật gỗ đàn tô ngân cao 4 thước
– 3 Tượng Phật bằng đàn hương : Cao 3th5, 2th9, 2th3
– 657 bộ Kinh, chia làm 520 hiệp
– Cùng một số bảo vật khác nữa. và phải dùng voi, lạc đà và 24 ngựa mới chở hết.

Trên thực tế, đường đi không có gặp yêu tinh cản trở (có chăng là bọn mọi dữ thích ăn thịt người) nhưng những khó khăn trở ngại cản trở lẫn vật chất và tinh thần lại hết sức nhiều và lớn, nếu là người khác ắt vô phương vượt khỏi. Có lúc Thầy Huyền Trang nhịn đói nhịn khát suốt bảy tám ngày ròng rã giữa một trảng sa mạc trời nắng chang chang, không một bóng cây, cũng không một bóng người qua lại. Nhưng ý chí của Thầy thật là sắt đá. Có lần đói khát khổ quá, bụng tính quay trở về phía đông để tìm chỗ xin nước uống đem theo rồi sẽ đi nữa, nhưng vừa quày ngựa trở về hướng đông đi đặng một đỗi đường thầy lại tự nhủ: “Trước kia, đã thề nếu qua không đến Ấn Ðộ, quyết không trở về Ðông một bước. Nay thà đi về hướng Tây mà chết, chớ lẽ nào đi về Ðông để sống hèn”.

Một lần khác, thầy gặp bọn mọi ăn thịt người (Tức bọn yêu tinh kể trong truyện Tây Du). Thầy Tam Tạng sẵn lòng hiến thân cho bọn quỷ khát máu ấy. Nhưng giữa lúc bàn tính, xảy có mưa to sét lơn. Bọn người rừng kinh sợ vì cho rằng trời không bằng lòng. Chúng lật đật giục thầy lên đường, nhưng thầy khăng khăng một mực nài bọn kia: hoặc hãy “ăn thịt Thầy” nếu quả thật thầy có phép làm cho bọn nó sống lâu muôn tuổi, hoặc nếu bọn chúng muốn cho thầy lên đường thì phải ăn năn sám hối, chừa thú tánh, chừa ăn thịt người từ đây. Và rốt cuộc Tam Tạng cải hóa được bọn chúng. Hơn một ngàn ba trăm năm trước đây dám một người một ngựa vượt suối trèo non, băng sa mạc, càn rừng sâu đi đến xứ Ấn Ðộ huyền bí xa xăm, Trần Huyền Trang quả là một nhà du thám vĩ đại trong lịch sử. Kỳ công đó, tinh thần nghị lực đó, người đời sau không thể không nghiêng mình bái phục.

Trong thời gian mười ba năm lưu trú tại Ấn Độ, thầy đi viếng hầu hết các di tích của đạo Phật, đặc biệt nhất là thầy ở lại chùa Na Lan Ðà, học đạo trong sáu năm. Tất cả những kinh điển của phái Ðại Thừa, Tiểu Thừa, Kinh Phệ đà (Veda), các sách thuốc, sách thiên văn, địa lý, kỹ thuật v v… đều tập trung tại chùa này. Chùa do pháp sư Giới Hiền chủ trì và pháp sư có đến trên mười ngàn tín đồ theo học đạo.

Sau sáu năm học tập, Huyền Trang trở nên một trong ba người học trò giỏi nhất của vị cao tăng Giới Hiền. Theo sách khảo cứu Pháp văn, chẳng những là một nhà sư đạo đức, Huyền Trang còn tỏ ra là một học giả uyên thâm, một nhà du thám kỳ tài, một nhà sử học uyên bác, một nhà địa lý học chơn tài, một nhà ngôn ngữ học xuất chúng, nhứt là một nhà phiên dịch giỏi không ai bằng. Lúc còn ở Tây Phương, đi đến đâu, thầy cũng nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình từng địa phương. Khi về Trường an, thầy viết lại thành bộ Ðại Ðường Tây Vực Ký, gồm 12 quyển, trong ấy ghi lại đầy đủ lịch sử, địa lý, phong tục, tập quán v.v. của 128 nước đã trải qua hoặc từng trú ngụ. Ngày nay, những tài liệu của Thầy để lại vẫn còn giúp ích rất nhiều cho các chuyên gia khảo cổ Ấn Ðộ và bất kỳ ai ngày nay cũng công nhận những điều nghe thấy và ghi chép của Thầy Huyền Trang rất là đích xác.

Từ ngày về Trường an, thầy Huyền Trang bắt tay vào công việc phiên dịch. Suốt mười chín năm ròng rã (từ 645-644) thầy dịch được tất cả bẩy mươi lăm bộ kinh, gần một ngàn ba trăm ba mươi lăm quyển từ Phạn tự dịch qua Hán tự và một bộ (Ðạo Đức Kinh) và một bản dịch “Ðại Thừa khởi tín luận” từ chữ Hán ra chữ Phạn, cùng để lại cho đời một bộ “Ðại Ðường Tây Vực ký” .

Trưa ngày mồng 5 tháng 2 năm 664, Thầy Huyền Trang gác bút nghìn thu tại chùa Ngọc Hoa, vì bịnh hoạn và già yếu. Thọ 69 tuổi. Ngày 14 tháng 4 thi hài Huyền Trang được an táng tại Bạch Lộc Nguyên. Ngày cử hành tang lễ có đến một triệu ngườì ở Trường An và các vùng lân cận qui tựu để tiễn chân thầy về nơi Cực Lạc. Ðám táng xong, có đến ba vạn người cất lều cư tang gần mộ phần. Từ xưa đến nay chưa có vị đế vương nào được ngưỡng mộ sùng bái bằng vị Thánh Tăng có một không hai này.”

(2) Lược sử về ngài Trần Huyền Trang, bài viết của TS. Huệ Dân ngày 31 tháng 1 năm 2011, đăng trên Đạp Phật ngày nay.

(3) Thiền sư Khương Tăng Hội, sơ tổ thiền tông Việt Nam và Trung Hoa, người có cha Ấn và mẹ Việt, xuất gia rất sớm và trụ trì ở Luy Lâu (Bắc Ninh ngày nay) và Kiến Nghiệp Đông Ngô (Nam Ninh ngày nay) vào thế kỷ thứ III trước cao tăng Huyền Trang khoảng 300 năm. Không rõ Thiền sư Khương Tăng Hội đã đến Tây An và Yên Kinh chưa?

(4)  Đại Đường Huyền Trang 2015 là phim mới. Đại Pháp Sư Huyền Trang là phim tài liệu đã cung cấp một góc nhìn tham chiếu.


Đại Đường Huyền Trang 2015

Đại Pháp Sư Huyền Trang

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG


Chúc mừng Năm mới 2016 vui khỏe hạnh phúc

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Tổng thống Obama lời nhắn sau cùng

 Obama1

CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày. Tổng thống Obama lời nhắn sau cùng. Tổng thống Barack Obama đọc Thông điệp Liên bang cuối cùng trong nhiệm kỳ của mình trước lưỡng viện Quốc hội Mỹ vào lúc 21h ngày 12/1/2016 (giờ Mỹ), tức 9h sáng 13/1/2016 giờ Việt Nam. Vị tổng thống này và bài viết này, tôi tin rằng, sẽ có nhiều người còn đọc lại. Sáu điểm nhấn đủ chuyển tải một thông điệp mạnh mẽ. Cảm ơn Obama.

Obama2
Obama3
Obama4
Obama5
Obama6

Bản tiếng Anh và tiếng Việt nguồn từ http://soha.vn và chọn đăng lại tại đây .

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Lòng son chiếu sử xanh

NgayHSSV

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày. Lòng son chiếu sử xanh.  Ngày 9 tháng 1 là Ngày truyền thống học sinh, sinh viên Việt Nam, là ngày tưởng niệm nêu cao tinh thần học sinhsinh viên. Ngày 9 tháng 1 năm 1950Trần Văn Ơn, một học sinh Việt Nam trường Pétrus Ký (sinh năm 1931) đã bị chính quyền Pháp nổ súng bắn chết trong phong trào biểu tình của học sinh sinh viên Sài Gòn. Cuộc biểu tình này nhằm hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh chống thực dân Pháp, bảo vệ nền Cộng hoà non trẻ. Ngày 9 tháng 1 năm 1283, nhằm ngày 8 tháng 12  năm Nhâm Ngọ, là ngày mất của Văn Thiên Tường, anh hùng dân tộc, tể tướng và nhà thơ nổi tiếng triều Tống, Trung Quốc, tác giả của hai câu thơ “Xưa nay hỏi có ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh“. Câu chuyện về họ rạng ngời trong lịch sử. (xem tiếp…)

Hãy đi về phía mặt trời
Lên đường đi em
Bình minh đã rạng
Hãy đi về phía mặt trời ! (xem tiếp)

HoangKim999
Hoàng Kim

Video yêu thích
Chào ngày mới. Hãy đi về phía mặt trời
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Tự nguyện tiếng Anh cho em

TuNguyen
KHÁT KHAO XANH. Tự nguyện tiếng Anh cho em. Mời các bạn thưởng thức bài hát “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh và bốn bản dịch lời Việt của bài hát này thành lời Anh của Nguyễn Thị Tuyết Hợp, Nguyễn Thị Bích Nga, Nguyễn Đức Toàn và Cúc Hoa; với sự thể hiện của bốn nghệ sĩ  Bích Liên, Hồ Quỳnh Hương, Thanh Thúy, Nhật Thủy.

Bài hát “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh có lời Việt thật ngọt ngào và lời thơ Anh chuyển ngữ khá sát nghĩa. Tôi đặc biệt thích thú bài hát song ngữ này vì sự tự nguyện của bốn người bạn cùng chung sức chuyển tải ngôn ngữ Việt ra tiếng Anh, với những điều cảm động sâu xa trong lời thơ hay đến mức nao lòng và vì sự dễ nhớ, dễ học cách chia động từ tiếng Anh:

“Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng / Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương/ Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm/ Là người, tôi sẽ chết cho quê hương” (If a bird, I would be a white pigeon/ If a flower, I would be a sun flower/ If a cloud, I would be a warm cloud/ A man, I will die for our country …).

Trong nguyên bản, lời thơ viết về sự hi sinh trong chiến đấu “Là người, xin một lần khi ngã xuống / Nhìn anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.” nay trong thời bình, chúng ta ước khi mình nằm xuống cũng là lúc trỗi dây của một thế hệ mới “Là người, xin một lần khi nằm xuống/ cùng anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.” (Being a man, before we die/ We’ll stand up with you raise highly the flag).   Hoàng Kim.

TỰ NGUYỆN
Nhạc và lời: Trương Quốc Khánh

Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm
Là người, tôi sẽ chết cho quê hương

Là chim, tôi sẽ cất cao đôi cánh mềm
Từ Nam ra ngoài Bắc báo tin nối liền
Là hoa, tôi nở tình yêu ban sớm
Cùng muôn trái tim ngất say hoà bình

Là mây, theo làn gió tung bay khắp trời
Nghìn xưa oai hùng đó tôi xin tiếp lời
Là người, xin một lần khi ngã xuống
Nhìn anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.

Voluntariness

TỰ NGUYỆN Nhạc và lời : Trương Quốc Khánh
Translation by Nguyễn Thị Tuyết Hợp

If a bird, I would be a white pigeon.
If a flower, I would be a sun flower.
If a cloud, I wold be a warm cloud.
A man, I will die for our country.

Being a bird, I would raise the soft wings
From South to the North, all news are joined.
Being a flower, I effloresce the early love
With all the hearts are enthralled the peace.

Being a cloud, with the wind I fly all the sky.
There’s been a superb millenary, today we’ll be catenary.
Being a man, before we die
We’ll stand up with you raise highly the flag.

THE VOLUNTEER

TỰ NGUYỆN Nhạc và lời : Trương Quốc Khánh
Translation by Nguyễn Thị Bích Nga (*)

(*) Góp ý chỉnh sửa của Nguyễn Thị Bích Nga: Anh Hoàng Kim thân mến.  Đây là bản chuyển ngữ tiếng Anh mà Bích Nga có sửa đổi vài chỗ (dựa theo bản chuyển ngữ tiếng Anh “gốc” của cô Tuyết Hợp) để chúng ta cùng HÁT với nhau nghen. Bích Nga đã hát thử nhiều lần rồi, hì hì, thấy cũng tạm được, 😀

If a bird, I would be a white pigeon.
If a flower, I would be a sun-flower.
If a cloud, I would be a whole warm cloud
A human, I will die for my country.

A bird, I would rise high my soft wings
From South to the North, I give good news.
A flower, I blossom the early love
With all the hearts enthralled by the peace.

A cloud, I would fly to all the sky
To follow our heroic history
A human, just once before I die
With my brothers, standing, raising the flag

THE VOLUNTEER

TỰ NGUYỆN Nhạc và lời : Trương Quốc Khánh
Translation by Nguyễn Đức Toàn (**)

(**) Tiếp theo NDT xin phép tự chỉnh chút ít để các thày cô tham khảo:
Following the self-adjustment provisions applying to the teachers little reference

As a bird, I should be a white pigeon.
As a flower, I should be the sun-flower.
As a cloud, I should be a warming cloud
As a man, I would die for my homeland.

As a bird, I should rise high my soft wings
From South to the North, I’d bring good news.
As a flower, I’d blossom the early love
With all the hearts enthralled by the peace.

As a cloud, with the wind I’d fly to the sky
To follow our heroic history
As a man, I wish if I’d fall down
Still see brothers stand to raise the flag.

 

THE VOLUNTEER

TỰ NGUYỆN Nhạc và lời : Trương Quốc Khánh
Translation by Cúc Hoa (***)

(**) Cúc Hoa đóng góp bản dịch

If I were a bird , I would be a white dove
If I were a flower , I would be a sunflower
If I were the cloud , I would be the warm one
If I were a man , I would die for my mother land

Being a bird , I will spread out my gentle wings
Fly from the North to the South to inform the connection
Being a flower, I will bloom in the loving morning
With all other boisterous hearts in the peace

Being the cloud, I will follow the wind to go through the sky
To continue those thousand majestic words
Being a man, there is only 1 wish when lying down
That is to see my brothers stand up and wave highly our flag.


TỰ NGUYỆN (NSUT Bích Liên)

Video thể hiện lời Việt của bài hát


Tự Nguyện – Hồ Quỳnh Hương


Tự nguyện (60 năm ngày truyền thống Học sinh, Sinh viên) – NSƯT Thanh Thúy


Tự nguyện – Nhật Thủy – Vietnam Idol Gala Trao Giải chung kết

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

Quà tặng cuộc sống

HoaHong
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Nhiều cấp phó? là  bài viết hay của giáo sư Nguyễn Lân Dũng đăng trên blog Nguyễn Lân Dũng  trả lời phỏng vấn của phóng viên VOV.VN. Khí phách Trần Quang Cơ là tin đọc nhiều nhất trên BBC Tiếng Việt nêu bật phẩm chất tử tế đã làm Trần Quang Cơ thành danh trong chiến cuộc ngoại giao mà suốt đời ông phụng sự một cách tận tụy. Như là có nhau là bài thơ hay của Huỳnh Mai do nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo tuyển chọn và giới thiệu được blog Khát khao xanh đăng lại và bổ sung hình ảnh tư liệu. Đêm nhớ là nén tâm hương tưởng nhớ với nhạc tuyển của hai nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu và Phan Nhân. Chào ngày mới 30 tháng 6 an lành.

NHIỀU CẤP PHÓ ?

Nguyễn Lân Dũng

PV: Thảo luận về Dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi), có ý kiến cho rằng, theo Thông tư hướng dẫn của Bộ Nội vụ quy định Sở không quá 3 Phó Giám đốc nhưng hiện có tới 4-5. Khi có ý kiến thì họ nói Trung ương quy định không quá 4 Thứ trưởng nhưng thực tế có 6-7. Luật đúng nhưng làm không nghiêm, trên sai một ly dưới đi một dặm và nếu không khắc phục thì “nhờn” luật, GS nhận định thế nào về ý kiến này?

GS: Việc thông qua một Luật cần thật thận trọng vì nó liên quan đến toàn dân, đến thể chế của chế độ. Vì vậy các đại biểu Quốc hội phải nghiên cứu kỹ lưỡng, phải gắng sức tham khảo nhiều chuyên gia và cử tri có hiểu biết pháp luật trước khi biểu quyết.
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vừa mới được Quốc hội thông qua đã xác định rõ vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận. Vì vậy, các Hội đồng tư vấn của Mặt trận, nhất là Hội đồng tư vấn Pháp luật Cần có đủ thời gian để nghiên cứu, thảo luận và báo cáo lên Ban thường trực và từ đó chuyển ý kiến chính thức sang Quốc hội.

Khi đã thảo luận kỹ lưỡng, lắng nghe mọi ý kiến khác nhau thì Luật sẽ là pháp lệnh bắt buộc mọi cấp, mọi ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành. Nếu làm sai Thủ tướng Chính phủ phải thi hành kỷ luật một cách dứt khoát và không nương nhẹ.

Luật Tổ chức Chính phủ chưa được thông qua, nhưng tôi tin rằng đa số các đại biểu Quốc hội sẽ thấy giúp việc Bộ trưởng không cần quá nhiều Thứ trưởng. Vì các nước lớn hơn ta, kinh tế phát triển hơn ta cũng đâu có nhiều Thứ trưởng? Hơn nữa Bộ trưởng phải là người quyết định nên chỉ cần những người giúp mình phải có kiến thức và kinh nghiệm tổng hợp, chứ đâu cần những người chỉ am hiểu một lĩnh vực hẹp.

Dưới Thứ trưởng đã có các Cục, các Vụ, đó mới là nơi tập hợp các chuyên gia am hiểu sâu về từng lĩnh vực.

PV: Việc “lạm phát cấp Phó” là do nể nang, do phong trào hay thực sự vì đòi hỏi của công việc? Theo GS, vì sao có tình trạng như vậy?

GS: Nếu cấp Phó không được tăng lương, không được cấp phát quyền đi xe công và nhiều cơ hội để có thêm bổng lộc (chính đáng và bất chính) thì tôi tin rằng, những chuyên gia giỏi vẫn chỉ muốn làm theo chức năng hiểu biết sâu của mình chứ thích thú gì làm Thứ trưởng để không còn điều kiện học hỏi thêm về nghiệp vụ mà mình đã có nhiều kinh nghiệm.

Khi đã xác định Thứ trưởng là người giúp việc Bộ trưởng chứ không phải người quyết định Bộ trưởng, thì rõ ràng quyền hạn của Thứ trưởng phải cụ thể và phải chịu trách nhiệm cao về các ý kiến tư vấn cho Bộ trưởng.

Trong thực tế, tôi còn thấy một số Bộ trưởng giao quyền quyết định cho Thứ trưởng và khi làm sai thì đổ hết trách nhiệm cho Thứ trưởng (thậm chí cho… nhân viên đánh máy!). Việc “ký nháy” cũng cần nghiêm túc xem xét lại. Không được quyền phát hành các công văn có cả chữ ký nháy (có khi còn ký rất to!). Thứ trưởng phải trực tiếp gửi kiến nghị bằng văn bản lên Bộ trưởng và Bộ trưởng xem xét để quyết định.

Nên chấm dứt chuyện cứ thấy có ký nháy của Thứ trưởng là Bộ trưởng ký. Thời trước ở nước ta và ngay ở các nước khác hiện nay đâu có chuyện kỳ lạ này?

PV: Từng có người nói rằng, vì họp hành quá nhiều nên cần nhiều Thứ trưởng và cấp Phó ở Sở, ngành để đi họp, thưa GS?

GS: Họp là việc trao đổi ý kiến sau khi đã tìm hiểu sâu sát thực tế. Bộ nào cũng rất đông cấp Thứ trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng, chưa kể đến vô số nhân viên, nhưng thật đáng ngạc nhiên khi thấy nhiều chuyện hầu như đối tượng phải thi hành trong cả nước đều không tán thành mà vẫn cứ quyết định một cách rất bảo thủ.

Nếu được hỏi, tôi có thể kể ra vô số chuyện như vậy. Đấy là chưa kể đến việc không thấy cần nghe ngóng, xem xét và trả lời chính thức những ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam – những cơ quan có quyền phản biện theo quy định của pháp luật.

PV: GS nghĩ sao về ý kiến, cơ quan quá nhiều cấp Phó sẽ dẫn tới chồng chéo nhiệm vụ và khó quy trách nhiệm?

GS: Bộ trưởng là Tư lệnh của một lĩnh vực. Chỉ có Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng chứ không phải ai khác. Vì vậy, Bộ trưởng nên ít họp hành hơn, trừ khi đi họp với Chính phủ. Và không nên tham gia Quốc hội trừ khi là khách mời trong những lúc cần trả lời.

Bộ trưởng cần giao nhiệm vụ rất cụ thể cho Thứ trưởng và nghe ý kiến của Thứ trưởng bằng chính tài trí của mình, chứ không dễ dàng theo ý quyết định của Thứ trưởng. Ở nhiều nước, Bộ trưởng nhiều Bộ quan trọng mà họ lại chọn người rất trẻ. Tất nhiên, không thể không tin đó là những người rất giỏi, dám chịu trách nhiệm về các quyết định của chính mình và không hề đổ tội cho ai khác.

Khi nào các Thứ trưởng được Bộ trưởng uỷ quyền mới được phát biểu như kiểu quyết định tại các Hội nghị, không được nói rất cụ thể như lâu nay khi chưa có sự đồng ý của Bộ trưởng. Bộ trưởng không thể tránh trách nhiệm về các ý kiến chưa chính xác của các Thứ trưởng.

PV: Tuy nhiên, việc nhiều cấp Phó cũng dẫn tới tốn ngân sách bởi kèm theo đó là xe công, thư ký, giúp việc, thưa GS?

GS: Ta không sợ tốn kém khi thực sự có hiệu quả. Nhưng nhiều cấp Phó rất hay làm hỏng việc lớn. Cấp Trưởng thường ỷ lại và không cần đi sâu đi sát các nhiệm vụ đã được giao,thường ỷ lại vào cấp Phó. Nên luôn nhớ cấp Phó chỉ là người giúp việc cho mình. Mình phải tự tìm hiểu qua nhiều nguồn thông tin, nhiều nguồn phản biện chứ không thể nhất nhất nghe ý kiến của cấp Phó. Xin nhắc lại chịu trách nhiệm bao giờ cũng phải là cấp Trưởng, kiểu như Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng.

Bất kỳ chuyện gì sai cũng không thể đổ lỗi cho Thứ trưởng, mà chỉ có thể nhận lỗi trước Thủ tướng và xem xét lại tinh thần trách nhiệm cũng như năng lực của vị Thứ trưởng đã tham mưu sai.

Để có những người thực sự đáng chia sẻ với trách nhiệm của Bộ trưởng, theo tôi, Bộ trưởng nên tổ chức công khai thi tuyển Thứ trưởng theo một danh sách do cán bộ trong Bộ và các chuyên gia ngoài Bộ kiến nghị. Càng không bao giờ nên chọn những người vừa kém chuyên môn lại vừa thích quyết định như là Bộ trưởng khi Bộ trưởng chưa uỷ quyền.

Khi Thứ trưởng có những quyết định sai thì ở nước ngoài họ từ chức một cách rất tự trọng.

Tôi không thể quên được câu chuyện ông kỹ sư Nhật Bản đã tự tử khi để xảy ra sai sót khi làm một chiếc cầu ở Thổ Nhĩ Kỳ, mặc dù chưa để xảy ra bất kỳ tai nạn gì đáng tiếc. Cảm kích trước tinh thần tự trọng của vị kỹ sư này mà nhiều ý kiến của dân chúng đã đề nghị nên lấy tên ông ta để đặt tên cho chiếc cầu ấy (!)

PV: Xin cảm ơn Giáo sư

Kim Anh/VOV.VN (thực hiện)
Nguồn: Blog NGuyễn Lân Dũng

KHÍ PHÁCH TRẦN QUANG CƠ


BBC 29 tháng 6 2015

TranQuangCo3

Ông Trần Quang Cơ (ở giữa, complet màu tối) đã tham gia quá trình bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ

Chắc hẳn nhiều người còn nhớ buổi giao ban năm ấy… Với sắc mặt thất thần, ông Trần Quang Cơ gần như gào to giữa phòng họp: “Mọi người biết không, người ta sắp cắt thủ cấp Nguyễn Cơ Thạch để dâng cho nước ngoài rồi”.

Đoán “triều đình” có biến, lũ chúng tôi (những đứa lần đầu được dự giao ban), chẳng ai bảo ai, im thin thít. Tôi cố gắng tập trung vào “Bản tin A” (*) nhưng đầu óc thì nghĩ mông lung.

Không tham quyền cố vị

Trước tháng 12/1986, đại sứ Trần Quang Cơ được Bộ triệu tập về họp. Khi trở sang nhiệm sở (Bangkok), ông kể lại với một cán bộ tâm phúc về quyết định của “anh Thạch” dự kiến điều ông về nước làm thứ trưởng ngoại giao và giới thiệu ông vào Ban Chấp hành TƯ Đảng.

Ông lưỡng lự trước đề nghị của Bộ trưởng và tâm sự: “Với cơ chế của ta thì không thể làm việc được”. Sợ ông từ chối cái ghế nhiều người đang mơ ước, cán bộ tâm phúc ấy nói với ông rằng, anh nên nhận lời anh Thạch. Cố nhiên, anh không đi thì “chợ vẫn đông”, nhưng anh làm sẽ tốt hơn khối người khác.

Thế mới biết, tại sao năm 1991, rồi năm 1993 ông lại đề nghị được rút khỏi danh sách Ban Chấp hành TƯ. Đặc biệt và có thể nói vô tiền khoáng hậu (xin lỗi nếu có ngoại lệ), ông từ chối cả cái ghế Bộ trưởng Bộ Ngoại giao khi Tổng Bí thư Đảng đã có quyết định.

Khí phách Trần Quang Cơ hẳn nhiên đạt tới “đỉnh” khi ông quyết định công bố “Hồi ức và Suy nghĩ” khá sớm, khoảng đầu 2001. Chính nhà ngoại giao Dương Danh Dy cũng không hiểu vì sao được ông tín nhiệm, giao tận tay một lúc cả hai bản đánh máy. Thấy chắc chắn sẽ có ích cho cái chung, ông Dy góp thêm một số ý kiến, sau đó công khai đưa lên mạng.

Hồi ký Trần Quang Cơ lập tức trở thành sách gối đầu giường đối với nhiều nhà quan sát và giới cầm bút muốn có nguồn tư liệu trung thực để phân tích tình hình Việt Nam những năm hậu chiến, thậm chí để hiểu thấu được cả những sự kiện mà hệ lụy của chúng còn kéo dài mãi tới hôm nay và mai sau.

Cống hiến và phản biện

Trần Quang Cơ đóng góp nhiều cho Ngành từ những ngày ông về phụ trách Vụ 2, vụ đối sách với Mỹ, đàm phán tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia, bình thường hóa với Trung Quốc. Từ những năm ấy, ông đã xác quyết các ý đồ và âm mưu của Trung Quốc đối với Việt Nam, đặc biệt là âm mưu cướp biển đảo.

Và Trần Quang Cơ đã bảo vệ đến tận cuối cuộc đời mình tất cả những kế sách mà ông cho là hiệu quả trong cuộc đấu tranh không cân sức với Trung Quốc.

Ông đã lên tiếng kêu gọi phải khẩn trương trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ và sớm gia nhập ASEAN. Triết lý sống còn về an ninh của đất nước được ông khái quát khá sớm: “Trong cái thế anh nằm ngay cạnh nước lớn, nước khổng lồ, mà không có bạn thì anh sẽ bị ép”. Đối với ông, chiến lược an ninh và đối ngoại phải hết sức linh hoạt, phải phù hợp với xu hướng chung của cục diện chính trị-kinh tế thế giới, nhất thiết phải tương thích với những đặc điểm lớn của thời đại đại.

Nhưng rồi ông cũng cay đắng đưa ra nhận xét, ngày ấy, ta đã làm những việc cần thiết đối với Mỹ và ASEAN “chậm trễ tới cả mười năm”.

Sau này, ngay cả khi đã “rửa tay gác kiếm” ông vẫn sẵn lòng cho chúng tôi biết thêm một số chi tiết giá trị trong cuộc vật lộn ngoại giao đằng sau các cuộc chiến, đặc biệt là những bão táp thời hậu chiến mà ông là người trong cuộc, có lúc từng là tác nhân và nhờ sự tỉnh táo mách bảo, biết rút ra sớm khỏi cuộc chơi trước khi có thể trở thành nạn nhân.

Phản biện thông minh và luôn có ý thức tích lũy để cống hiến. Từng là cán bộ địch vận, thuyết phục binh lính Pháp, cùng làm việc với nhiều “cây đa, cây đề” trong làng ngoại giao và văn hóa, một thời dưới trướng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từ ngày chuyển về Bộ Ngoại giao, ông càng có cơ hội phát huy tầm nhìn xa trông rộng đối với các vấn đề mỗi khi góp phần vào việc đề xuất chính sách.

Có lẽ các phẩm chất tử tế nói trên đã làm Trần Quang Cơ thành danh như nhận xét của nhà báo tự do Huy Đức. Tuy nhiên, chiến cuộc ngoại giao mà suốt đời ông phụng sự một cách tận tụy thì vẫn còn đó… và đang hết sức nan giải.

Nhưng vận mệnh đất nước không thể cứ “bèo dạt mây trôi” như thế này mãi. Ông ra đi nhưng dường như vẫn muốn nán lại để hỏi chúng ta: “Những người đang sống phải làm gì?”

Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong của riêng tác giả, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, nguyên Trưởng Nhóm Tư vấn Lãnh đạo Bộ Ngoại giao.

* Bản tin A: bản tin lưu truyền nội bộ hàng ngày của Bộ Ngoại giao
“NHƯ LÀ CÓ NHAU”, THƠ HUỲNH MAI

KHÁT KHAO XANH. ” Xin trời cho sợi nắng mai / Tôi đem trói những dông dài cất đi / Ngày sang hái lá nhu mì / Làm thơ, đem đổi chút gì… nhớ thương.Như là có nhau có lẽ là bài thơ hay nhất trong chùm Thơ Huỳnh Mai do anh Nguyễn Trọng Tạo tuyển chọn và giới thiệu. Bài thơ đẹp như sợi nắng mai. Đúng là viên ngọc quý, một giấc mơ hạnh phúc …

NHƯ LÀ CÓ NHAU

Xin trời cho sợi nắng mai
Tôi đem trói những dông dài cất đi
Ngày sang hái lá nhu mì
Làm thơ, đem đổi chút gì… nhớ thương

Một mai mưa nắng vô thường
Tôi mang trải suốt quãng đường người qua.
Rồi mai dẫu có đi xa
Còn đôi chiếc lá gọi là có nhau.

Lá xanh rồi sẽ lá nâu
Nhưng tình yêu mãi thắm màu biếc xanh
Hôm nay trời nắng thật lành
Dông dài tôi giữ hóa thành… nụ hôn.

HuynhMai
Huỳnh Mai  (ảnh rút từ Lộc xuân)


Lời bình của Nguyễn Trọng Tạo

THƠ HUỲNH MAI

NTT: Huỳnh Mai xuất hiện trên Blog Vnweblogs.com đã 7 năm nay với một giọng thơ ngọt ngào và rất dịu dàng. Khác với nhiều cây bút thích ồn ào, chị lặng lẽ khép mình bên vườn địa đàng để thụ hưởng hương thơm vị ngọt của tình yêu và cả những chát đắng của trái đời không may mắn. Nhưng sau tất cả, là một tấm lòng nhân hậu và vị tha. Bạn cứ lặng lẽ đọc thơ Huỳnh Mai, và bạn sẽ gặp một hồn thơ thật đáng yêu… (xem tiếp…)

ĐÊM NHỚ PHAN HUỲNH ĐIỂU, PHAN NHÂN

Hoàng Kim

HoGuom1000nam

Giai điệu “Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời” của Nhạc sĩ Phan Nhân đã được hát lên qua nhiều thế hệ.


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG mời bạn cùng lắng nghe những ca khúc vượt thời gian trong “Đêm nhớ Phan Huỳnh Điểu và Phan Nhân” . Hai nhạc sĩ tài danh đã qua đời ngày 29/6/2015. Giai điệu “Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời” của Nhạc sĩ Phan Nhân đã được hát lên qua nhiều thế hệ (ảnh trên).

PhanHuynhDieu
Nhạc sỹ nổi tiếng Phan Huỳnh Điểu, qua đời vào lúc 10 giờ15 sáng 29/6 tại Bệnh viện Thống Nhất, hưởng thọ 91 tuổi. Nhạc sỹ nổi tiếng Phan Nhân, từ trần lúc 11g45 tại nhà riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, thọ 85 tuổi.

Thuyền và biển, Ở hai đầu nỗi nhớ, Sợi nhớ sợi thương, Cuộc đời vẫn đẹp sao, Hành khúc ngày và đêm,  Bóng cây Kơ-nia,  Đoàn vệ quốc quân, … là những  “Tiếng hát mãi xanh” nổi bật, để đời của Nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu. Người sinh năm 1924 tại Đà Nẵng nguyên quán Quảng Nam, đã sáng tác hơn 100 ca khúc về tình yêu, nỗi nhớ, cách mạng, yêu thương được nhiều thế hệ yêu mến.

PhanNhan

Hà Nội – Niềm tin và hy vọng, Tình ca đất nước, Cây đàn ghi-ta của Victor Hara,  Chú ếch con là những ca khúc nổi bật, đặc sắc nhất của Nhạc sỹ Phan Nhân. Ông tên thật là Liêu Nguyễn Phan Nhân, sinh năm 1930, nguyên quán An Giang. Người sáng tác tuy không nhiều nhưng chất lượng cao, đặc biệt  là bài Hà Nội – Niềm tin và hy vọng, ca khúc được chọn làm giai điệu chính cho Lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.
(xem tiếp…).

Nguồn: Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com/2015/06/29/dem-nho-phan-huynh-dieu-phan-nhan/   Posted on 29.06.2015

Bài viết mới

Video yêu thích

ThuyenvaBien
Thuyền và biển
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook