Linh Giang sông quê hương

LINH GIANG SÔNG QUÊ HƯƠNG
Hoàng Kim

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con

“Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn “

Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/linh-giang-song-que-huong

HOME RIVER

Learning the attitude of water that goes like the river

My house is near a confluence
Rao Nan, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh River charming Mountain River
The place where I was born.

“Rowing far away the SON wharf
Not to see our village that makes me sadder “
Lullaby makes me heart- rending
My parents died early when I was a baby.

Leaving our village since then
Diving in smog from the wharf of our river
Keeping full oath in Spring days
When the country unify, we’ll live together in the South

English translation
by NgocphuongNam



LINH RIVER

Hoang Kim
Learning the attitude of water that goes like the river

By confluence sited is my home
Rao Nam, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh river of charming
That is place releasing a person

Rowing out of the Son
Let is the upset not involved in my mind
Such a sad lunlaby
Parents is dead left five child barren

Leaving home since then
Smog of wharf is driven my life
When Vietnam unified
The South chosen the homeland to live.

English translation
by Vu Manh Hai

😍https://hoangkimlong.wordpress.com/category/linh-giang-song-que-huong Linh Giang sông quê hương “Chèo thuyền cho khuất bến Son Để con khỏi chộ nước non thêm buồnCảm ơn anh Bu Nguyễn Quốc Toàn và anh Ruc Hung để thấm thía đọc lại Tỉnh thức cùng tháng năm Gia Cát Mã Tiền Khóa Thành tâm với chính mình https://youtu.be/t-el5mFWkjU để thấu hiểu vì sao Lưu Bị nhói trong tim thụp lạy tôn hiền tài nặng lòng Son đến vậy!

ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG
Hoàng Kim

1
Linh Giang sông quê hương
Lời thề trên sông Hóa
Đá Đứng chốn sông thiêng
Đại Lãnh nhạn quay về.
2
Lời dặn của Thánh Trần
Minh triết Hồ Chí Minh
Thầy nghề nông chiến sĩ
Đồng xuân lưu dấu hiền
3
Chuyện đời tôi Hoàng Kim
Chín điều lành hạnh phúc
Chim Phượng về làm tổ
Chung sức trên đường xuân
4
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Tô Đông Pha Tây Hồ
Nguyễn Hiến Lê sao sáng
5
Việt Nam con đường xanh
Cây Lương thực Việt Nam
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Sóc Trăng Lương Định Của.
6
Dạo chơi non nước Việt
Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng
Lên Trúc Lâm Yên Tử
An Viên Ngọc Quan Âm
7
Trường tôi nôi yêu thương
Dấu xưa thầy bạn quý
Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi
8
Đi như một dòng sông
Giấc mơ thiêng cùng Goethe
Châu Mỹ chuyện không quên
Ấn Độ địa chỉ xanh
Trung Quốc một suy ngẫm
9
Giấc mơ lành yêu thương
Cuối dòng sông là biển
Sự chậm rãi minh triết
Cây đời mãi tươi xanh

(*) Linh Giang sông quê hương là nôi Đất Anh hùng, làng sinh Tướng nơi sinh thành của trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Binh đoàn 559 (Binh đoàn Trường Sơn)

HỌC ĐI MÀ NHỚ MÃI
Hoàng Kim


Trên bục giảng mùa xuân
Chuyện nước phân cần giống
Nghề nhà nông hạt gạo
Chuyện đời không thể quên

Học đi em
Học đi mà nhớ mãi
Có một thời để nhớ
Có một thời để thương …

Linh Thủy làng Kim Linh
Thọ Linh đập Rào Nan
Đá Đứng chốn sông thiêng
Tích xưa và chuyện mới

Nghe nhạc Trịnh Công Sơn
Mẹ ở làng Thọ Linh
Chuyện cụ Nguyễn Tư Thoan
Khát vọng đập Rào Nan

Linh Giang sông quê hương
Quảng Bình với Trường Sơn
Quảng Bình đất và người
Đọc mà nước mắt chảy …

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/quang-binh-dat-va-nguoi/

KHÁT VỌNG RÀO NAN
Tùy bút của Hoàng Minh Đức


Cả làng tôi ngày xưa nghèo đói
Cày thuê không kiếm nổi bát cơm
Cơm “củ to cha ơi” con gọi(*)
Một thìa cơm cõng đọi khoai vằm

Nam Quảng Trạch mất mùa nắng hạn
Lúa nghẹn đòng lau trắng phất phơ
Rào Nan hững hờ trôi về biển
Để ngàn năm khát cháy đôi bờ…

Ai đã từng đi theo đoàn làm phim tài liệu “Khát vọng Rào Nan”, đi từ đầu nguồn cho đến cuối cửa Gianh mới cảm nhận hết dư vị ngọt ngào pha lẫn niềm đau nỗi buồn của dòng nước ngọt Rào Nan. Không biết cái tên Rào Nan có tự bao giờ, chỉ biết rằng đó là một trong ba nhánh của hệ thống sông Linh Giang đổ ra biển cả. Trước khi vua Chế Củ dâng 3 châu Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý từ dãy Hoành Sơn đến dãy Bạch Mã cho Đại Việt thì Rào Nan có tên là Linh Thủy. Con sông Linh Thủy chạy qua làng Kim Linh xuống làng Minh Lệ, La Hà rồi đến cửa Gianh.

Sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước thì làng Kim Linh phải đổi tên thành làng Thọ Linh vì kiêng tên húy chúa Nguyễn Kim. Chính tại nơi đây, làng Thọ Linh đã chứng kiến một thuở vui buồn của đập Rào Nan. Miền đất vùng Nam Quảng Trạch trước đây (nay thuộc thị xã Ba Đồn) đồng chua nước mặn, đồng ruộng luôn bị nước biển xâm nhập bao vây, là nơi thiếu nước ngọt trầm trọng nhất tỉnh Quảng Bình. Trước Cách mạng Tháng Tám, những năm hạn hán các làng đổ nhau đi cầu đảo. Ngay tri phủ Quảng Trạch, Đặng Hiếu An cũng về miếu Thần Cụt bên Rú Cấm lập đàn tràng, cầu đảo, bơi trải hai, ba ngày liền.

Từ sau năm 1965, chiến tranh ngày càng ác liệt thì niềm khát vọng chinh phục Rào Nan ngày càng lớn.

Chiến tranh. Hạt gạo cần thiết hơn bao giờ hết. Gạo một phần để tự túc lương thực cho dân 10 xã vùng Nam Quảng Trạch. Gạo để gửi ra các chiến trường. Ấy thế mà hầu hết các mặt hàng thiết yếu và ngay cả hạt gạo Quảng Trạch cũng do Trung ương chi viện. Hạt gạo đất lửa Quảng Bình phải cắn ra làm ba, làm tư cho chiến trường Trị – Thiên và các bạn Lào, Căm pu chia. Quảng Trạch lúc đó dân số 20 vạn người, gấp đôi, gấp ba các huyện khác. Ông Nguyễn Tư Thoan, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình nói “Quảng Trạch đủ ăn là cả tỉnh đủ ăn”. Hai vựa lúa Quảng Ninh, Lệ Thủy đủ cung cấp cho thị xã Đồng Hới và các huyện Bố Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa. Ông đã phát biểu tại hội nghị tổng kết cuối năm 1967: “Vũ khí trang phục không làm được, còn lương thực ăn hàng ngày mà không lo được là một nỗi nhục của Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta”.

Ngay từ khi ông manh nha ý tưởng thay trời làm mưa, cùng Sơn Tinh trị thủy vùng Nam Quảng Trạch đã không ít người phản đối. Nhà báo, nhà thơ Phan Văn Khuyến, người chứng kiến cuộc họp dưới nhà hầm Huyện ủy Quảng Trạch thời ấy đã kể lại rằng: “Ông Đoàn Tiến Khứ, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch, người có học vấn cao nhất tỉnh thời bấy giờ về khoa học kỹ thuật thủy lợi đã dẫn lời của Lê Nin: Nếu chỉ có nhiệt tình mà thiếu tri thức thì trở thành kẻ phá hoại. Ông nói “Cách đây bảy năm ta mời đoàn chuyên gia Hung-ga-ri đến khảo sát vùng Đồng Đâu trên thượng nguồn để xây đập thủy điện kết hợp với lấy nước tưới ruộng. Nhưng do chiến tranh công việc bỏ dở. Bây giờ muốn làm cũng phải mời chuyên gia nước ngoài hoặc từ Bộ Thủy lợi về khảo sát chứ không nên làm theo ý chủ quan như thế này”.

Nghe trái ý, ông Thoan làm động tác phứt râu liên tục, mặc dù trên cằm ông chẳng có một sợi râu nào. Ông đứng phắt dậy: “Đừng lý luận dài dòng nữa. Anh hãy nói ý kiến của mình đồng tình hay phản đối. Ta không còn thời gian để nên thế này, nên thế khác nữa. Nếu không tìm cách giải quyết lương thực tại chỗ theo tinh thần của Trung ương thì chưa chết vì bom đạn cũng đã chết vì đói, còn đâu nữa mà “vì miền Nam thân yêu, vì Trị – Thiên ruột thịt”.

Vốn tính khảng khái, không hề run sợ trước cấp trên, ông Khứ vẫn không chịu: – Tôi vốn sinh ra và lớn lên giữa vùng đất Quảng Trạch. Tôi biết khi cây lúa đông xuân đang lên xanh tốt, gặp cự đòng đòng đúng lúc gió nam về, nếu thắp một mồi lửa là cháy sạch. Tôi là một người làm khoa học, nhưng biết mà không nói thì sẽ ân hận cả đời. Là một đảng viên, thường vụ quyết thì tôi phải chịu, chứ bảo tôi đồng tình dễ dàng sao được.

Một vài đại biểu cũng mạnh dạn phản đối theo ông Khứ nhưng chỉ nói chung chung, chẳng có một luận cứ, luận chứng nào sáng tỏ thêm. Giữa lúc không khí hội nghị đang căng thẳng thì từng đợt máy bay liên tiếp rạt qua trên hội trường, tiếng đạn rốc két xé gió bắn xối xả xuống làng, tiếng bom sát thương nổ ầm ầm bên bãi tập kết hàng để chở sang bến Mới, cách đó chừng một cây số. Dứt loạt bom, ông Thoan đứng bật dậy như cái lò xo:

– Tôi không hiểu nhiều về lí thuyết, nhưng thực tế đã dạy cho tôi nhiều bài học. Ở các ngầm Đá Mài, Khe Sâu, Long Đại, ngay cả các con sông Lý Hòa, Chánh Hòa, cầu Dài Đồng Hới ta đổ gạch đá xuống cho xe ra chiến trường mà các trận lụt lớn có trôi hết cả đâu. Thế là nửa tháng sau, như một ông thầy địa lí đi tìm long mạch cùng các thổ thần đất đai, ông Nguyễn Tư Thoan chống gậy đi dọc bờ sông và tìm được một địa điểm bên động Ngùi để đắp đập.


Hơn một năm sau, với sức mạnh của một vạn lượt người được huy động từ 7 huyện, thị, đến giữa năm 1969, con đập bằng đá lèn nổi lên sừng sững như một hòn núi vĩnh viễn chặn ngang dòng nước mặn từ biển vào. Khi hoàn thành công trình, làng Thanh Thủy mất hẳn một hòn lèn cung cấp vật liệu chính cho đập Rào Nan. Con đập dài 135 mét, chân rộng hơn 30 mét, cao 6 mét ( không tính phần lún dưới bùn), ngạo nghễ thách thức với thời gian. Ngày khánh thành đập không có bia rượu liên hoan, không có cờ hoa, biểu ngữ, cả 8 chiếc máy bơm ầm ầm đổ nước vào bể chứa. Dòng nước ngọt theo các con mương chạy về làng quê. Nước đi đến đâu lũ trẻ con chạy theo hò reo đến đó. Nhiều người hớn hở chạy ra đón nước chảy qua mương bên hồi nhà, vục tay xuống nước mà ứa nước mắt. Có người bụm tay đưa nước lên miệng uống ừng ực như chưa bao giờ được uống. Lũ trẻ con thì khỏi phải nói. Chúng trần truồng nhảy xuống dòng nước xô đẩy, té nước, reo hò như điên như dại.

* * *

Năm 1969, giặc Mỹ đã ngừng ném bom miền Bắc. Tôi đang sơ tán (K8) ngoài Thanh Hóa trốn về theo xe bộ đội vào Quảng Bình. Bố tôi theo trường Sư phạm chuyển về xã Quảng Phương (Quảng Trạch). Mỗi khi ghé thăm nhà là ông lại cùng mẹ con tôi tát nước. Mẹ tôi làm trong đội thủy lợi của xã Quảng Minh. Mẹ theo các cô, các chú xây cống thủy lợi trên cánh đồng làng. Tôi đang là học sinh cấp 2, lao động phụ mỗi ngày công được tính 7 điểm. Trước mùa mưa bão, các xã lên lao động gia cố lại đê Rào Nan. Làng nào, xã nấy trống dong cờ mở đào đất đắp đê. Từng đoàn thuyền chở đất đá đổ thêm xuống đập. Trên mặt đập đã có một lớp bê tông dày phủ các rọ sắt. Học lên cấp 3, tôi theo trường đi lao động đào mương đắp đê ở các xã. Hè nào cũng về đi theo mẹ làm thủy lợi Rào Nan.

Năm 1972, giặc Mỹ quay trở lại ném bom miền Bắc. Nhớ đến con đập đã đánh phá hồi trước chúng xúm lại như lũ diều hâu vây lấy đàn gà con. Gặp lưới lửa phòng không của bộ đội hải quân và hai trận địa 14 li 5 bố trí trên đồi thông bắn lên chúng vội vàng trút bom bừa bãi xuống dòng sông. Bị bom Mỹ phá, lũ lụt cũng “thừa gió bẻ măng” làm sạt thêm mấy quãng. Đập Rào Nan phải oằn mình hứng chịu cả thiên tai và địch họa.

Nước Rào Nan đối với đời sống người dân vùng Nam Quảng Trạch cần thiết như cơ thể con người cần máu. Máu tiếp sức cho quê hương Nam Quảng Trạch đứng trụ với mưa bom bão đạn của quân thù. Khi có nước về cả làng thức dậy để tát nước vào vườn. Tuổi thanh niên, có bữa đi chơi khuya về đang mắt nhắm mắt mở thì mẹ gọi dậy đi tát nước. Dọc con mương nhà nào nhà nấy treo chiếc đèn chai bên bụi tre để tát nước vào vườn. Cây lúa bị cháy khô thì con người cũng khô cháy theo. Giữa những ngày nam nắng người ta giành nhau từng giọt nước. Có khi người ở xã này xách rượu và lạc rang lên hối lộ đội trực nước của xã khác để xin tháo cánh cửa cống chảy về làng mình một vài tiếng đồng hồ. Năm 1979, tôi về phụ trách lao động ở trường cấp 3 vừa học vừa làm Quảng Trung. Nhà trường đảm nhiệm nuôi bèo hoa dâu và nhân giống lúa X1 cho các hợp tác xã. Đội trực nước xã Quảng Tân cũng tuần hành dọc đê để xem có xã nào tháo trộm nước của xã mình không. Tôi và các em học sinh trực trường đã chứng kiến thanh niên các đội trực nước đánh nhau suýt “bươu đầu mẻ trán”.

Có nước Rào Nan, vùng Nam Quảng Trạch được mùa mấy chục năm liền. Lúc bưng bát cơm ai cũng nghĩ tới công lao của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình, Nguyễn Tư Thoan. Ông được xem như Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc trên miền đất lửa. Năm 2015, tôi theo đoàn nhà văn của Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình ra gặp bác Nguyễn Thanh ở Quảng Trung để lập Ban vận động xây dựng miếu thờ ông Nguyễn Tư Thoan. Bác Thanh là anh trai của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên. Bác đã tròn 100 tuổi, làm trưởng ban danh dự cuộc vận động. Chị Thủy, con gái đầu lòng của ông Thoan cùng anh Đinh Phú Tư, một Huyện ủy viên Quảng Trạch (cũ) đến nhà tôi để chở cây đa. Tôi trồng cây đa còn Đinh Phú Tư thì trồng cây đề. Vậy mà năm sau chị Thủy gọi điện ra báo có hai người dưới Ba Đồn vác búa lên đập cái am thờ. Hai cái cây của chúng tôi đang xanh tốt họ đào lên. Tấm bia tưởng niệm bị vứt xuống Rào Nan. Trong bộ phim “Tiếng vọng” được phát trên Đài Truyền hình Việt Nam, ông Trần Sự, nguyên Chủ tịch tỉnh Quảng Bình thời chiến tranh đã chất vấn đồng chí Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Hoàng Đăng Quang đã trả lời Tỉnh ủy Quảng bình không hề có chủ trương đập phá bia của ông Nguyễn Tư Thoan. Ai lại chối bỏ công lao của một người đã từng làm cho dân hết đói.

Bia đá không còn nhưng cũng chẳng sao. Người dân vùng Nam Quảng Trạch, (nay là thị xã Ba Đồn) vẫn thắp hương thờ ông trong lòng. Ngay trên vị trí năm xưa ông dừng lại lấy cây gậy cắm xuống để đắp đập, một con đập hiện đại được xem là công trình của thế kỷ 21 đã mọc lên. Đây là vị trí lý tưởng nhất trong ba địa điểm mà Bộ Thủy lợi đã khảo sát. Một sự trùng hợp đến bất ngờ của thời đại 4.0 với một lãnh đạo tỉnh có trình độ học vấn cấp 2 ở thế kỷ trước.

* * *

Công trình thủy lợi Rào Nan lắm lúc thăng trầm. Năm 2018, khi nghe tin có dự án xây đập mới, nhiều người ra sức phản đối. Một anh bạn giáo viên dạy văn quê ở Quảng Sơn đến nhà tôi. Anh nói người ta đứng chật đường, dựng băng rôn khẩu hiệu và phát tờ rơi không cho xây đập. Linh mục nhà thờ Diên Trường thì đêm nào cũng phát thanh trên loa kích động giáo dân. Trên trang facebook cá nhân “Joseph Hao Nguyen” ông đã hướng cho con chiên phản đối dự án. Linh mục Trần Văn Thành, quản xứ Tam Tòa, TP. Đồng Hới khi tham gia bình luận “Chiến đi” các cụ! Thà mất lòng trước, được mạng dân”.

Xuân Vui, phụ trách bản tin Cựu chiến binh tỉnh gọi điện cho tôi lên Quảng Sơn xem xét tình hình. Mới đến cổng Ủy ban Nhân dân xã thì một người quen đã đứng đợi đó. Anh ta nói: “Chú không được viết bài ủng hộ họ đâu nhé. Viết là có tội với dân đó”. Tôi nói: “Anh là một sĩ quan quân đội về hưu mà cũng nhận thức như thế ư. Công trình hồ chứa thủy lợi – thủy điện Cửa Đạt ở xã Xuân Mỹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, có dung tích 1,5 tỉ mét khối lớn gấp hơn 150 lần dung tích thượng lưu đập Rào Nan của mình mà còn không việc gì trong mùa lũ nữa huống hồ đập Rào Nan. Hơn nữa công trình đập Rào Nan lần này sẽ được xây kiên cố lắm”.

Tôi chìa ra tập tài liệu và diễn giải cho anh nghe: hệ thống cọc khoan nhồi gồm 283 cọc, đường kính 1 mét vững chãi dưới đáy lòng sông 20 mét, cắm sâu vào nền đá gốc 1 mét. Đập sẽ ăn sâu vào trong núi đá, chiều dài đập dâng mới sẽ là 177,4 mét, làm sao mà trôi được. Đồng chí Mai Xuân Thành, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Quảng Sơn dẫn tôi lên đập Rào Nan và chỉ vị trí xây đập tràn mới. Khi tôi hướng ống kính về thì anh xua tay: “Đừng chụp hình tôi vào anh ạ. Nhiều người dân không hiểu sẽ chỉ trách tôi”. Tôi biết anh rất dè chừng vì sợ dân sẽ phản đối nếu xảy ra sự cố.

* * *

Cuối năm 2021, đoàn văn nghệ sĩ chi hội Văn học Nghệ thuật Quảng Trạch – Ba Đồn lên tham quan đập Rào Nan. Trời đang sa mù chuyển dần sang mưa bụi. Từng đợt gió heo may chạy theo lòng sông lùa vào cổ áo rát rạt. Con đường mới lên Cao Quảng chạy trên đỉnh đồi, cao hơn con đường cũ đến chục mét. Dãy cột điện cao thế mới dựng lên dọc đường đi chưa kịp mắc dây. Trên đập, mấy công nhân của Công ty TNHH Tập đoàn Sơn Hải đang miệt mài hàn xì vật liệu kết cấu giàn cầu.

Chúng tôi đi bộ trên cầu sang bờ Nam. Rừng tràm hoa vàng đang mùa nở rộ làm đẹp thêm cảnh núi non hùng vĩ. Kỹ sư Đinh Anh Nam tổ trưởng tổ giám sát thi công công trình đi theo giới thiệu với chúng tôi, đập Rào Nan là loại đập tràn tự do, ngưỡng thực dụng chân không dạng Ôphixêrốp. Cống lấy nước nằm trong thân đập phía bờ Bắc, cống xả cát, xả lũ, nằm ở bờ Nam. Chiều dài đập là 177,4 m, cắm sâu vào chân núi đá. Các hàng cọc khoan nhồi được cắm sâu vào tầng đá mẹ 1 mét giữ các rọ đá vững chắc bảo vệ bờ. Đến nay công ty cũng đã hoàn thành được hơn 85% khối lượng. Nước đã tự chảy quanh năm đủ cung cấp nước tưới cho đồng ruộng của 16 xã, phường Ba Đồn và 6 xã Quảng Trạch. Nước Rào Nan đảm bảo cho 1.800 ha nuôi trồng thủy sản. Với lưu lượng nước 32.000m3 phục vụ dân sinh và 12.000m3 trong một ngày đêm phục vụ sản xuất công nghiệp. Bây giờ chẳng tốn một đồng tiền điện nào để chạy máy bơm như ngày xưa.

Trên cầu, nhiếp ảnh gia Phạm Văn Thức đứng dưới trời mưa điều khiển thiết bị bay vè vè dọc theo con đường 559B quay quang cảnh thượng nguồn Rào Nan. Nước đã ngập con đường 559B khoảng 4,6 km. Trạm bơm Rào Nan cũ nước ngập đến tầng 2. Nhà anh Trần Đình Ngọ, một cựu chiến binh thôn Linh Cận Sơn nằm phía trên đập nước cũng ngập đến gần một nửa thân cây dừa. Vườn cây và 3 hồ nuôi ba ba, tôm cá của anh đã nằm sâu dưới nước. Nghe nói gia đình anh được đền bù 7,8 tỉ đồng để chuyển đi lập vườn mới. Anh Nam cho chúng tôi xem mấy bức hình xả lũ vừa qua. Tất cả 15 cửa van và 2 cửa xả cát phun cao hơn mực nước hạ lưu là 3 mét. Con người đã hoàn toàn chế ngự được thiên nhiên. Dòng nước hung hãn từ Đồng Đâu xuống như con thuồng luồng dữ tợn đã bị chặn đứng bởi con đập kiên cố. Anh cũng cho chúng tôi xem các kịch bản phòng chống sự cố vỡ đập, ngay cả tình huống xấu nhất là động đất. Công ty TNHH tập đoàn Sơn Hải đảm nhiệm thi công công trình là công ty có uy tín tuyệt đối của tỉnh Quảng Bình. Xem đoạn đường bảo hành của công ty trên đường Quốc lộ 1A thì biết. Anh cho biết, nếu vừa rồi không bị sự cố covid – 19 ở thị xã và người dân ngăn cản làm chậm tiến độ, thì cuối tháng 12 năm nay sẽ bàn giao công trình. Dù sao đến trung tuần tháng 11 này công trình cũng đã hoàn thành được 85% rồi. Bây giờ chẳng cần tranh giành nhau từng giọt nước như ngày xưa, bà con cứ dùng thoải mái. Công ty Sơn Hải đã khởi công làm hai chiếc cầu dân sinh nữa trên dòng sông Nan qua thôn Cồn Nâm ở xã Quảng Minh và qua Hà Sơn ở xã Quảng Sơn. Hai chiếc cầu sẽ mở ra tiềm năng phát triển kinh tế vùng cồn bãi và các gia trại trong xóm núi. Nhìn con đập đồ sộ vững như bàn thạch đi qua mùa lũ chắc chắn những người một thời nhẹ dạ cả tin nghe theo kẻ xấu bây giờ cũng đang ân hận lắm.

Tạm biệt dòng Nan, tạm biệt con đập Rào Nan. Tạm biệt những con người thân yêu đang ở lại với công trình xây dựng trong cơn mưa lạnh, trong lòng tôi ấm áp lạ lùng. Một mùa xuân nữa lại đến. Một mùa xuân tràn ngập niềm tin và khát vọng. Dòng Rào Nan không còn hờ hững trôi về biển cùng rừng lau trắng phất phơ mà đang tràn ngập niềm vui. Mùa lũ đã đi qua, mùa xuân lại về.

(Nguồn : Hoàng Minh Đức FB)

ĐẤT ANH HÙNG, LÀNG SINH TƯỚNG
Tác giả bài viết: Dương Sông Lam
Nguồn tin: cstc.cand.com.vn

Tháng Tám mùa thu, dọc theo dòng Gianh thơ mộng, chúng tôi ngược lên thăm xã anh hùng, làng “sinh Tướng” ở thôn Trung Thôn, xã Quảng Trung, Thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

Dọc dài theo con đường làng uốn cong như dải lụa, gặp những cụ cao niên trong làng, chúng tôi được nghe những câu chuyện ăm ắp nghĩa tình son sắt với quê hương, đất nước của những người con làng Trung Thôn như Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Trung tướng Nguyễn Hữu Cường, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh…

Ngôi làng ven sông, đất không rộng, người không đông, cuộc sống xưa nay của bà con vẫn còn nhiều vất vả, nhưng người làng luôn tự hào bởi đây là mảnh đất anh hùng và sinh ra nhiều người giỏi đóng góp công sức cho quê hương, đất nước.

Chuyện ghi ở làng Anh hùng

Bên ly trà mang đậm hương vị vùng sông nước dòng Gianh, Chủ tịch xã Quảng Trung, ông Nguyễn Văn Hóa – hồ hởi cho biết, Quảng Trung luôn được xem là “cái nôi” cách mạng ở nam sông Gianh, Quảng Bình trong những ngày đầu thành lập Đảng.

Chi bộ Đảng đầu tiên của nhiều xã ven sông Gianh ra đời ở mảnh đất giàu truyền thống cách mạng này. Ngay sau ngày Đảng ra đời (1930), nhiều người con của Quảng Trung, nhiều đồng chí Đảng viên kiên trung của Đảng như Nguyễn Huyên, Nguyễn Biểu, Nguyễn Hữu Lương, Nguyễn Sỹ Đồng… đã nhen nhóm ngọn lửa cách mạng ở vùng cát Quảng Bình.

Từ chi bộ lúc đầu chỉ có 3 người (1937), ánh sáng của Đảng đã được cán bộ, đảng viên Quảng Trung thắp sáng tập hợp quần chúng nhân dân ven sông Gianh đứng lên giải phóng xiềng xích thuộc địa, phong kiến (1945). Tiếp đó, nhân dân Quảng Trung lại góp công, góp sức cùng đồng bào cả nước làm nên hai chiến công thần thánh của dân tộc là đánh bại thực dân, đế quốc để đưa non sông về một mối…

Đường về làng xã Quảng Trung, thị xã Ba Đồn, Quảng Bình.

Trong những năm gần đây, khi nói về việc học ở vùng cát Quảng Bình, Quảng Trung luôn được xem như một trong những xã đi đầu ở bờ Nam sông Gianh. Người Quảng Trung luôn tự hào về những con em quê hương biết vượt qua gian khó để trưởng thành. Nơi đây có những bà mẹ cả đời lặn lội thân cò nơi bờ ruộng, mép sông để nuôi con. Những người cha tần tảo trong gian khó để truyền cho con cái chí, cái dũng để vào đời.

Người Quảng Trung vẫn luôn lấy tấm gương bà Đặng Thị Cấp (sinh năm 1882), mẹ của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên để noi theo trong việc thu xếp việc nhà, việc nước và nuôi con ăn học. Khi mới bước qua tuổi 20, bà Đặng Thị Cấp theo ông Nguyễn Hữu Khoán về nhà chồng làm dâu. Hai vợ chồng tần tảo để nuôi 7 người con, khi đói khi no nhưng người làng bảo chưa bao giờ thấy bà Cấp một lần kêu ca, than thở. Đêm đêm, khi người làng đã chìm trong giấc ngủ thì cái cối giã gạo ở nhà bà Cấp vẫn từng nhịp đều đều cho đến gần sáng. Người phụ nữ nghèo ven sông Gianh tần tảo, bươn chải thức khuya dậy sớm như vậy để nuôi đàn con khôn lớn.

Năm 49 tuổi, chồng là ông Khoán qua đời, nỗi vất vả lại càng đè lên vai người mẹ nghèo Đặng Thị Cấp. Song bà vẫn nhất quyết không chịu cho con thất học, buộc con phải học để kiếm cái chữ. Khi cách mạng cần, chính ngôi nhà của bà Đặng Thị Cấp trở thành cơ sở cách mạng trong những năm 1937-1945 tại bờ Nam sông Gianh, Quảng Bình. Đêm đêm, bà vừa giã gạo, bóc ngô, vừa canh cho nhiều cán bộ xứ ủy, tỉnh, huyện họp bàn về hoạt động mở rộng phong trào cách mạng tại nhà mình.

Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bà hăng hái tham gia công tác phụ nữ, công tác Hội Mẹ chiến sĩ, vận động năm con trai và một con dâu tham gia vệ quốc. Khi quê hương bị giặc chiếm đóng, theo chủ trương của tỉnh, bà vận động bà con tiêu thổ kháng chiến, tản cư người già, trẻ con đến vùng tự do.

Năm 1950, tuy quê nhà còn bị địch chiếm, nhưng vì muốn trực tiếp phục vụ chiến đấu, bà hồi cư vận động bà con quyên góp thóc gạo, tiếp tế cho du kích đánh giặc… Chính người mẹ nghèo, giàu lòng yêu nước Đặng Thị Cấp đã nhen nhóm, truyền lửa lòng yêu nước để các con bà đi theo cách mạng và nhiều người đã trưởng thành, trở thành những cán bộ nòng cốt của Đảng và Nhà nước, được nhân dân hết sức tin yêu …

Trường THCS xã Quảng Trung nơi ươm mầm nhiều thế hệ học trò trong xã đã trưởng thành.

Nhà có ba vị Tướng bên bờ Nam sông Gianh

Khi nói về gia đình bà Đặng Thị Cấp, không chỉ người làng Quảng Trung mà người dân cả vùng cát Quảng Bình đều hết mực tự hào. Là một người mẹ nghèo, vất vả tần tảo khuya sớm bên sông Gianh để nuôi con ăn học, cống hiến cho dân cho nước, bà Đặng Thị Cấp có sáu người con, trên 50 cháu, chắt gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ.

Bà đã có hai người con và một người cháu được phong quân hàm cấp Tướng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, đó là Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn; Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh, nguyên Phó Viện trưởng, Học viện Hậu cần, Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng; Trung tướng Nguyễn Hữu Cường, Tư lệnh Quân khu 4 và trên 50  sỹ quan cấp tá (có 5 người là Đại tá), cấp úy phục vụ trong lực lượng vũ trang.

Gia đình bà Đặng Thị Cấp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương, tặng “Bảng vàng danh dự” và “Gia đình có công với nước”. Năm 2005, ngôi nhà của bà đã được Đảng, Nhà nước công nhận và dựng bia “Di tích cách mạng”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên thăm hỏi, động viên Bộ đội và Thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn trong những năm kháng chiến

Trong các con cháu của bà Đặng Thị Cấp, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên thường được nhắc đến hơn cả. Vị tướng Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn, thủ lĩnh của bộ đội, thanh niên xung phong Trường Sơn, cuộc đời của ông luôn được đồng đội xem như bản trường ca về người lính.

Ngày tóc còn để chỏm, cậu bé Nguyễn Hữu Vũ vừa lên 10 tuổi đã phải mồ côi cha, dù cực khổ nhưng bà mẹ nghèo Nguyễn Thị Cấp vẫn nhất quyết không để con thất học. Nguyễn Hữu Vũ được mẹ gửi đi tìm thầy học chữ Hán, chữ quốc ngữ. Những bài học của thầy đã sớm truyền lửa cho cậu bé tinh thần yêu nước.

Năm 12 tuổi, Nguyễn Hữu Vũ bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng, lấy bí danh là Nguyễn Văn Đồng, sau đó đổi thành Đồng Sỹ Nguyên. Trong những năm 30 của thế kỷ trước, Đồng Sỹ Nguyên cùng vài ba đồng chí của mình đã gây dựng cơ sở cách mạng ở vùng Bắc và Nam sông Gianh rộng lớn.

Nhiều lần bị thực dân Pháp truy nã gắt gao, ông đã phải qua Lào, Thái Lan hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước để tiếp tục gây dựng cơ sở. Năm 1945, Đồng Sỹ Nguyên được bầu làm Chủ nhiệm Việt Minh, kiêm Chỉ huy trưởng Bộ đội Quảng Bình, ông là đại biểu Quốc hội khóa 1 năm 1946.

Phóng viên Chuyên đề CSTC gặp gỡ người dân Quảng Trung tìm hiểu về vùng đất cách mạng này.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên được giao nhiệm vụ làm Tư lệnh Binh đoàn 559 (Binh đoàn Trường Sơn), xây dựng tuyến đường giao thông chiến lược Trường Sơn để bộ đội vào Nam chiến đấu, giải phóng, thống nhất đất nước.
Dưới sự chỉ huy tài tình của ông, đường mòn Trường Sơn từ một con đường nhỏ đã trở thành một tuyến giao thông vận tải lớn với cả hệ thống đường được giới truyền thông mệnh danh là “trận đồ bát quái xuyên rừng rậm”.

Tầm quan trọng của con đường chiến lược này thể hiện rõ nhất với quân số lúc cao điểm hơn 12 vạn binh sĩ, trong đó có hơn 1 vạn là lực lượng Thanh niên xung phong, biên chế thành 8 sư đoàn và một sư đoàn cao xạ tên lửa phối thuộc. Hệ thống đường chiến lược này khi Đồng Sỹ Nguyên vào tiếp nhận chỉ có 5 tiểu đoàn xe với 750 xe, chia thành 4 binh trạm; đến năm 1975 đã phát triển thành 2 sư đoàn vận tải với 10.000 xe.

Đường Trường Sơn không còn những con đường đơn lẻ, mà phát triển thành một hệ thống đường vận tải phức tạp với hơn 16.700km đường bộ, trong đó có hơn 800km đường kín, 1.500km đường rải đá, 200km đường nhựa. Bên cạnh đó còn có 1.500km đường ống dẫn xăng dầu, 1.350km đường dây cáp thông tin, 3.800km đường giao liên, 500km đường sông.
Nhằm cắt đứt đường chi viện của ta, quân đội Mỹ và đồng minh đã tìm mọi cách từ thô sơ đến hiện đại nhất nhằm mục đích cắt đứt con đường vận tải chiến lược này. Các khí tài điện tử được lập thành “Hàng rào điện tử MacNamara”, cây nhiệt đới, pháo đài bay B-52, vũ khí thời tiết, hóa học… đến các cuộc hành quân càn quét lớn đến biệt kích phá hoại đều được quân đội Mỹ sử dụng. Những tổn thất do kẻ thù gây ra cho chúng ta không hề nhỏ, song tuyến đường vẫn luôn được bảo đảm thông suốt.

Để trọn tình, trọn nghĩa với đồng chí, đồng đội đã hy sinh, đầu năm 1974, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã quyết định xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn tại khu đồi Bến Tắt, nằm ở chân phía Đông dãy Trường Sơn, cạnh trục đường Hồ Chí Minh Đông Trường Sơn. Khu đồi Bến Tắt ở bờ Nam sông Bến Hải, thuộc xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh cũng là nơi đóng Sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Từng có nhiều năm gắn bó với đường Hồ Chí Minh huyền thoại, dù sống đến gần cuối cuộc đời nhưng Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vẫn luôn nghĩ về đồng đội. Mới đây, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã có đơn gửi UBND tỉnh Quảng Trị bày tỏ nguyện vọng sau khi từ trần được về an nghỉ tại Nghĩa trang Trường Sơn, để được gần gũi với đồng chí, đồng đội của mình.

Nguồn: Đất Anh hùng, làng sinh Tướng – Đài TT-TH thị xã Ba Đồn badontv.vn https://badontv.vn/chuyen-muc/que-huong-dat-nuoc-con-nguoi/dat-anh-hung-lang-sinh-tuong-389.html

Quảng Bình đất và người
THƠ VĂN THẦY HỒ NGỌC DIỆP
Hoàng Kim


Đọc trang văn hóa Bạc Liêu
Thơ thầy giáo cũ thương yêu gọi về
Thầy ơi nắng sớm mưa che
Lời thương thầm lắng, mải mê kiếm tìm.

Nhớ thầy đáy biển tìm kim
Chim sa núi Bắc, thầy tìm non Nam
Tìm Người ở giữa Trường Sơn” (1)
Dáng ai bóng núi xanh hơn sắc rừng

Tháng năm lắng đọng yêu thương
Người Thầy chiến sĩ” (2) lặng thầm yêu thương
Trần Thị Lý với Nguyễn Chơn” (3)
Bác Hồ huệ trắng thơm hương” (4) lòng người

xem tiếp Quảng Bình đất và người https://hoangkimlong.wordpress.com/category/quang-binh-dat-va-nguoi/

THƠ VĂN THẦY HỒ NGỌC DIỆP
Hoàng Kim


Học văn để làm gì? Để giữ ngọc di sản. Quảng Bình đất và người thẳm thẳm nhớ trong tôi với nhiều chuyện quý.

Thuở nhỏ học văn, tôi ấn tượng nhất là tích cổ cha mẹ kể về Lục Vân Tiên tại Nguồn Son nối Phong Nha (1) và Cao Biền trong sử Việt (2). Cha mẹ tôi mất sớm, những thầy văn đầu đời của tôi là Hoàng Ngọc Dộ khát vọng (3), “Hoàng Trung Trực đời lính” (4), thầy Nguyễn Khoa Tịnh “Em ơi can đảm lên” (5), thầy Trần Đình Côn Bài ca Trường Quảng Trạch (6), thầy Phạm Ngọc Căng (7) người Thanh Hóa, phó Hiệu trưởng đầu tiên của Trường cấp ba bắc Quảng Trạch và thầy Hồ Ngọc Diệp người Đồng Hới dạy văn (8). Tôi cũng may mắn được học văn với ông tôi Minh Sơn Hoàng Bá Chuân (9) là em ruột bà ngoại tôi khi thăm ông ra ở với cậu tại 64 Hàng Bạc Hà Nội. Ông đã bày cho tôi cách làm thơ Đường. .

Hoàng Kim nay chép lại sáu câu chuyện lắng đọng Thơ văn thầy Hồ Ngọc Diệp 1) “Tìm mộ em ở Trường Sơn” 2) “Người thầy chiến sĩ” 3) “Bác Hồ với ngày thương binh liệt sĩ 27/7”; 4) “Chuyện về nữ anh hùng bên dòng sông Lũy” 5) “Nhà văn Hoàng Bình Trọng với nghiệp đời gập ghềnh”; 6) “Nhạc sĩ Trần Hoàn viết cho sự giã biệt”, lưu lại một tích truyện về người thầy dạy văn của mình. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-van-thay-ho-ngoc-diep/


TÌM MỘ EM Ở TRƯỜNG SƠN
Hồ Ngọc Diệp


Vươt đèo, leo dốc,phạt gai
Qua bao con suối,miệt mài tìm em
Mộ em núi đã giăng lèn
Ba bề là đá,bốn bên là rừng

Nghe con mang,tác ngập ngừng
Suối xa như đã lạnh dừng tiếng reo
Ngặt thưa bìm bịp kêu chiều
Giữa hoang sơ,lòng những phiêu diêu buồn

Ngàn lau trắng thác mây tuôn
Bước chân hoang hoải bồn chồn ngẩn ngơ
Em đi từ bấy đến giờ
Thương con,lòng mẹ thẫn thờ đợi con

Xa quê từ buổi trăng tròn
.Ấp e chưa đón nụ hôn người tình
Em ngã xuống,sắc nguyên trinh
Vì dân,vì nước quên mình tuổi xanh

Mau về với mẹ cùng anh
Ở đâu? chiều đã phủ nhanh rừng già

NGƯỜI THẦY CHIẾN SĨ
Hồ Ngọc Diệp


Từ mái trường, tình nguyện xung phong
Khoác AK, thầy lên đường ra trận
Người thì gầy, bộ Tô Châu thì rộng
Nào hề chi, có thép ở bên trong

Đường hành quân qua bao núi, bao sông
Bỗng gặp học sinh, cùng chiến hào đánh Mỹ
Đêm Trường Sơn, thầy và trò tri kỷ
Chuyện trường xưa, nỗi nhớ cháy đêm tàn….

Đơn vị thầy lại cấp tập hướng Nam
Nã đạn pháo gầm ran đầu lũ giặc
Dáng hiên ngang như thiên thần lẫm liệt
Giữa trận tiền khi bom giặc phản công

Góp máu mình cho độc lập non sông
Thêm kiêu hãnh những bài ca sư phạm
Gieo lòng người đâu chỉ là lời giảng
Mà cả bằng: đức nguyện tiến công

Những đạo hàm, ta lét, parabol
Những tan, cos, góc bù, góc nhọn
Rồi cuộc đời và những lời thầy giảng
Thành vinh quang những chân lý của đời

Chúng tôi nhắc thầy trong kí ức bồi hồi
Để nhớ mãi ngôi trường phố cũ
Hình ảnh thầy, người thầy – Chiến sĩ
Gieo lòng người rực rỡ những cành xuân.

(*) Thầy Hồ Ngọc Diệp ngày 14 10 2021 viết: Cảm ơn văn nghệ Bạc Liêu đã đăng bài thơ “Tìm mộ em ở Trương Sơn” số tháng 7/202l

BÁC HỒ VỚI NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ 27/7
trích: Bác Hồ với Quảng Bình,
Hồ Ngọc Diệp 2021 (*)
Nhà Xuất bản Thuận Hóa, trang 150


Bác Hồ bùi ngùi không cầm được nước mắt, đọc bài từ như sau: Hỡi các liệt sĩ ! trong lúc cả nước vui mừng thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ Quốc, vì dân tộc. Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuốm lá quốc kỳ. Tiếng thơm của các liệt sĩ sẽ muôn đời truyền với sử xanh:

Một nén hương thanh
Vài lời an ủi
Anh linh của các liệt sĩ bất diệt
Tổ quốc Việt Nam vĩ đại muôn năm!


(*) Hồ Ngọc Diệp địa chỉ liên lạc: Hồ Ngọc Diệp Hội văn học Nghệ thuật Quảng Bình, đường Đoàn Thị Điểm, phường Đồng Hải, TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Số điện thoại: 0968 237 320 Tài khoản: Hồ Ngọc Diệp 040027737627 Ngân hàng Sacombank Đồng Hới, Quảng Bình

CHUYỆN VỀ NỮ ANH HÙNG BÊN DÒNG SÔNG LUỸ
Hồ Ngọc Diệp


Chị Trần Thị Lý sinh ra trong một gia đình nghèo bên dòng sông Lũy, một nhánh của con sông Nhật Lệ, phía Nam Cầu Dài, đó là làng Phú Thượng, Phú Hải, Đồng Hới, Quảng Bình. Là một người lanh lợi, hoạt bát, có ý thức tập thể cao nên chị được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho Đảng ủy, Xã đội. Năm 1964, chị được kết nạp Đảng, lúc đó chị tròn 19 tuổi. Tháng 2 năm 1965 Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang ra miền Bắc đã chọn thị xã Đồng Hới làm điểm đánh mở đầu. Phú Hải là một trong những điểm nóng chiến sự. Lúc này, chị Trần Thị Lý được sung vào lực lượng dân quân, làm chiến sĩ phòng không nam Cầu Dài thị xã Đồng Hới.

Chị Trần Thị Lý trong những cuộc chiến đấu đánh trả máy bay thù đã tỏ rõ bản lĩnh chiến đấu xuất sắc. Chị đã chạy từ trận địa phòng không này sang trận địa phòng không khác để truyền mệnh lệnh chiến đấu của cấp trên chuyển về, đồng thời dùng súng trường K44 bắn trả máy bay Mỹ rất kiên cường. Chị đã đào hầm sập, cứu đồng đội, đồng bào bị bom Mỹ vùi lấp. Đặc biệt trong ngày 4/4/1965, đế quốc Mỹ đã huy động hàng trăm lượt máy bay đến ném bom Cầu Dài, triệt hạ thị xã Đồng Hới, chị Trần Thị Lý đã dũng cảm mưu trí chèo đò chở Bí thư Đảng ủy xã Lê Viết Thuật vượt sông để chỉ đạo dân quân, nhân dân chiến đấu, rồi trở lại trận địa an toàn. Trong một lần bị bom vùi, chị đã kịp thời bình tĩnh cởi áo ngoài khoác lên đầu súng để đất đá khỏi vào làm chẹt nòng. Sau đó, chị đã bươn mình ra, tiếp tục nổ súng bắn vào kẻ thù.

Với những thành tích xuất sắc đó, chị đã được Quốc hội tuyên dương anh hùng vào ngày 01/01/1967. Cũng trong năm đó chị được chuyển sang quân đội, làm chính trị viên phó Thị đội Đồng Hới. Từ năm 1967 , chị được cử đi học trường văn hóa quân khu, sau đó được cử đi học tiếp tại Học viện chính trị quân sự của Bộ quốc phòng. Năm 1978, chị đảm nhiệm chức Phó đội trưởng đội công tác thuộc đoàn 871, Tổng cục chính trị. Từ 1985 chị được điều về giữ chức Phó rồi Giám đốc, Phó Bí thư chi bộ khách sạn Bạch Đằng của Quân khu 5 ở Đà Nẵng. Chị là Đại biểu Quốc hội khóa IV, V và VI. Chị từng là ủy viên Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chị đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác.

Anh hùng Trần Thị Lý là người giàu tình cảm với mảnh đất minh sinh ra và lớn lên. Sau này, khi làm Giám đốc khách sạn Bạch Đằng, hễ có các con cháu quê hương Phú Hải vào học hay công tác tại Đà Nẵng, nếu gặp khó khăn, chị đã tìm cách giúp đỡ, động viên để các cháu an tâm học tập và công tác. Nhiều lần về thăm quê chị đều đến thăm và tặng quà cho Đảng ủy, UBND và các đoàn thể trong phường. Chị đã giúp Hội Người cao tuổi địa phương sắm một cỗ xe tang, đóng góp cho quỹ xây dựng nhà văn hóa, trạm y tế phường và giúp đỡ những hộ nghèo hoặc gặp khó khăn. Đến phút lâm chung chị còn hỏi người nhà: “Xã mình đã được phong anh hùng chưa?” (thực ra, phường Phú Hải được phong anh hùng trước đó mà chị chưa có được thông tin).

Có nhiều chuyện kể lý thú, dí dỏm về anh hùng Trần Thị Lý thời thanh xuân.

Tháng 7 năm 1967, anh hùng Trần Thị Lý được mời dự Đại hội liên hoan thanh niên sinh viên Hoà bình thế giới tại nước XHCN Cu Ba.Sau báo cáo của chị, trong giờ giải lao, hàng trăm nhà báo vây quanh chị để quay phim, chụp ảnh và phỏng vấn. Có một nhà báo Phương Tây hỏi chị:- Chị là một anh hùng của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Vậy, ai là người chị sẽ chọn xây dựng gia đình? Không phải suy nghĩ lâu, chị Trần Thị Lý vui vẻ trả lời: – Đó sẽ là người đàn ông thương yêu tôi nhất! Trong quãng ngày công tác, chị đã được vinh dự 3 lần gặp Bác Hồ và được Bác trực tiếp chỉ giáo. Lần thứ nhất là lần cùng đoàn Quảng Bình được ưu tiên gặp Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau ngày Đại hội liên hoan chiến sĩ anh hùng thi đua toàn quốc (1/1/1967). Gần cuối buổi, Bác Hồ bảo chị Lý hát bài “Quảng Bình quê ta ơi” của nhạc sĩ Hoàng Vân cho Bác nghe. Quá cảm động và lúng túng nên chưa thực hiện được ngay thì Thủ tướng Phạm Văn Đồng “cứu nguy” cho chị và bảo: “Cháu Lý hãy “cầm càng” cho tất cả đoàn cùng hát”. Thế là anh hùng Trần Thị Lý đã đứng dậy và bắt nhịp cho toàn đoàn Quảng Bình hát vang bài hát mà Bác và Thủ tướng yêu thích. Lần thứ hai, chị gặp và được Bác Hồ chỉ giáo là ngày trước lúc lên đường sang Cu Ba tham dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới. Khi Bác hỏi: “Cháu đã chuẩn bị những gì sang thăm và tham quan ở Cu Ba?” chị Lý đã thuật lại chuyện các chú lãnh đạo cho may áo dài, sắm dày cao gót nhưng sử dụng còn lúng túng lắm. Bác liền bảo: “Cháu sang Cu Ba lần này để báo cáo thành tích kinh nghiệm chiến đấu của mình và học tập kinh nghiệm của nhiều người khác chứ đâu có phải đi du lịch mà sắm các thứ ấy. Để Bác nói chú Song Hào chuẩn bị bộ đồ bộ đội và dép cao su cho cháu”. Và chị Trần Thị Lý đã mặc trang phục như thế trong suốt thời kỳ ở Cu Ba.

Người ta còn kể cho nhau nghe câu chuyện tình yêu của chị với Đại tá anh hùng Nguyễn Chơn. Lần đó, Đại tá anh hùng Nguyễn Chơn (sau này là Thượng tướng, Thứ trương Bộ Quốc phòng) về Hà Nội tham dự Đại hội liên hoan anh hùng LLVTND của quân đội. Người anh hùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng đó vì xông pha lăn lộn nơi trận mạc, hết Nam lại Bắc, hết Bắc lại Nam nên sắp đã bén tuổi tứ tuần mà vẫn chưa có một bóng hồng nằm lại trong tim mình. Thấy Nguyễn Chơn về dự Đại hội lần này có làm thân với nữ anh hùng Trần Thị Lý (nhân một lần xem phim ngồi cạnh nhau), anh em, đồng chí bèn “Ra tay” để giúp Nguyễn Chơn rút ngắn khoảng cách. Vào một tối thứ bảy nọ, họ rủ nhau (không quên kéo Trần Thị Lý cùng đi) đến phòng nghỉ của anh hùng Nguyễn Chơn uống nước, chuyện trò. Rồi như là đã bàn trước, họ bấm tay nhau, lần lượt rút lui. Đến người cuối cùng ra khỏi phòng, họ không quên khoá trái cửa lại, cốt là để tạo cơ hội cho hai người tự nhiên tâm sự với nhau.

Hơn 1 giờ đồng hồ, Đại tá anh hùng Nguyễn Chơn hút hết không biết bao nhiêu là thuốc lá, mặt đỏ gay, không biết nói một câu gì cả. Nữ anh hùng Trần Thị Lý ngồi yên như vậy, cũng không giám nhìn Nguyễn Chơn, tay bứt xé không biết mấy lá hoa trong lọ giữa bàn. “Thôi phải mở đường thoát cho hai người”. Nghĩ vậy, chị liền lên tiếng trước:- Cớ làm răng mà anh em họ nhốt mình trong phòng rứa, Thủ trưởng? Anh hùng Nguyễn Chơn lúc bấy giờ mới ngẩng lên, ấp úng:- Là vì…vì…họ nói, …họ nói…- Họ nói mần răng, thưa Thủ trưởng? – Trần Thị Lý khơi gợi. Anh hùng Nguyễn Chơn dũng cảm, táo bạo như cố vượt qua một trọng điểm: – Họ nói là tui ưng o! Anh hùng Trần Thị Lý mặt đỏ lên, mãi một hồi rất lâu nữa mới cất tiếng: – Họ nói như rứa thì ý Thủ trưởng mần răng? Nguyễn Chơn lúng túng như một học trò có lỗi:- Thì … thì…tui cũng ưng o như họ nói thật! Chỉ đợi được như thế. Tuy nhiên mãi một lúc sau, Trần Thị Lý mới bộc bạch được ý nghĩ của mình: – Ý Thủ trưởng răng thì em cũng rứa! Và thế là, anh em đồng chí “nghe trộm” ngoài cửa, mở cửa chạy vào. Một người vui tính hét vang:- Xong rồi! xong rồi! Trận đánh kết thúc hoàn toàn thắng lợi! Trai anh hùng, gái thuyền quyên! Chúc mừng anh chị đã phá được hàng rào, xung kích tiến lên chiếm lĩnh trận địa của tình yêu ! Không lâu sau, Nguyễn Chơn ở tuổi 48, Trần Thị Lý ở tuổi 34 thành vợ, thành chồng. Tình yêu của hai anh hùng LLVT ấy có được do sự chân thật của hai người, song cũng nhờ công rất lớn của bạn bè, đồng chí. Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cha nuôi tinh thần của Trần Thị Lý bận việc không đến dự lễ cưới được đã gửi tặng đôi tân hôn 1 chai rượu ngoại, 2 cây bút máy. Chai rượu mang ý nghĩa mừng cuộc vui. Cặp bút máy mang ý nghĩa khuyên vợ chồng nên chỉ sinh 2 con. Quả vậy, vợ chồng Nguyễn Chơn và Trần Thị Lý sinh được 2 cô gái lanh lợi giỏi giang. Bây giờ 2 cô gái đã có gia đình và làm việc ở 2 cơ quan nhà nước.

Anh hùng Trần Thị Lý lần đó ra Hà Nội họp, được Bác Hồ mời vào thăm, ăn cơm cùng Bác với hai nữ anh hùng khác.Mâm cơm dọn ra, có thịt gà, canh bí đao, rau muống luộc, 1 bát cà pháo muối chua và bát nước chấm. Gắp nhiều thịt gà bỏ vào bát các nữ anh hùng, Bác nói: – Ở chiến trường, các cháu ăn uống kham khổ, công việc thì vất vả, nay phải ăn nhiều thịt gà vào cho khỏe, mai mốt trở lại chiến trường, có thêm sức mà chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ của mình. Còn Bác, Bác chỉ thích ăn rau muống luộc chấm tương và cà muối xứ Nghệ thôi. Ba nữ anh hùng được ngồi ăn cơm với Bác, sung sướng quá, cảm động quá, trước sự săn sóc của Bác nên không ai và nổi cơm. Thấy thế, bác giục: – Nhanh lên, đẩy mạnh tốc độ, thao tác linh hoạt, lanh lợi như đang vào trận, hỡi các nữ anh hùng!Được ngồi cạnh Bác, nữ anh hùng Trần Thị Lý chăm chú đợi Bác ăn xong bát thứ nhất, đặt bát đũa mình xuống, đưa hai tay đón bát của Bác để đơm thêm cơm. Có lẽ, vì quá sung sướng, vì được lần đầu tiên làm công việc này nên nữ anh hùng đất Đồng Hới Quảng Bình đâm ra lóng ngóng. Bởi vậy, không may một thìa cơm bị lọt xuống mâm. Sợ Trần Thị Lý hót bỏ sang bát trống đựng thức ăn thải loại, Bác liền dùng thìa và đũa hớt phần trên của phần cơm bị rơi ra mâm đó bỏ vào bát của mình và nói: – Được ngồi cạnh, rồi được đơm cơm cho Bác, sung sướng quá nên lóng ngóng, làm rơi cơm ra ngoài chứ gì? Không sao! Hạt cơm là hạt ngọc của trời, không nên bỏ phí. Thái độ chân thành và xử lý hợp thời của Bác khiến Trần Thị Lý vô cùng cảm động. Và câu nói của Bác biểu lộ tính kiệm cần của một người nông dân, gắn bó với sản phẩm của mình làm ra. Đối với anh hùng Trần Thị Lý, và thảy mọi người là một lời dạy sắt son luôn mang tính thời sự về ý thức tiết kiệm và sự tránh lãng phí mọi phương diện của cuộc sống.

Thiếu tá Trần Thanh Hương (em ruột anh hùng Trần Thị Lý đang nghỉ hưu ở khu dân cư số 8, phường Đồng Sơn, Tp. Đồng Hới) đã cho tôi biết một chi tiết vô cùng cảm động. Chị Trần Thị Lý bị đau đường ruột, điều trị khắp các bệnh viện trong nước không đỡ nên đã sang Trung Quốc điều trị. Nhưng bệnh tình vẫn ít thuyên giảm. Sau đó đơn vị đã đưa chị về điều trị tại bệnh viện Quân y 17 quân khu 5. Biết mình sẽ không qua nổi, chị xin bệnh viện về nhà nghỉ một đêm. Đêm đó chị dặn dò chồng, con, em và các cháu nhiều điều và ngủ một đêm rất ngon lành trong ngôi nhà ấm cúng của mình trước khi sáng mai phải trở lại bệnh viện. Ít hôm sau chị đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 7/5/2000.

Anh hùng Trần Thị Lý là một trong 3 khuôn mặt nữ anh hùng bên sông Nhật Lệ trong những ngày đánh Mỹ. Đó là những người đã góp phần làm sáng danh lịch sử quê hương Đồng Hới anh hùng. .

Nhà văn Hoàng Bình Trọng với nghiệp đời gập ghềnh
NGẬM NGÙI VỚI NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
Hồ Ngọc Diệp, ngày 26 tháng 3 năm 2022

Ông đã ” Tự trào”

“Tớ không có chí làm vua
Nên trời bắt tớ cày bừa ruộng văn
Thôi thì tám đóm tám khoanh
Chăm gieo chuyện ngắn gặt nhanh chuyện vừa
Lại còn tiểu thuyết còn thơ
Lại còn dịch diệt ăng ô Tây Tàu”

Nhà văn Hoàng Bình Trọng, nguyên là kỉ sư ngành trắc đạt bản đồ mỏ địa chất. Do đi nhiều và và lòng ham chuộng văn học,ông có mấy bài báo viết cho các báo hiện hành những năm 1969 – 1970. Thấy năng lực đầy triển vọng, Nhà Xuất Bản Kim Đồng thời kì đó đặt hàng cho ông viết tiểu thuyết cho thiếu nhi,.sau gần ba tháng vừa giảng dạy tại trường trung cấp mỏ địa chất ở Vỉnh Phú, vừa viết sách, cuốn chuyện “Bí mật một khu rừng”, dày hơn 300 trang ra đời. Cuốn truyện thu hút bạn đọc thiếu nhi và cả người lớn đến nỗi, sau “Dế mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài, “Bí mật một khu rừng”, được tái bản 10 lần,mỗi lần 3 vạn cuốn. Sách còn được dich sang tiếng Nga và Đài Tiếng Nói Việt Nam đã 3 lần phát ở chương trình “Đoc chuyện đêm khuya” ,mỗi kì phát ngót nghét một tháng trời. sau tác phẩm nổi tiếng đầu tay đó Hoàng Bình Trọng được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Cho đến cuối đời, ông đã viết 38 tác phẩm, trong đó 13 tiểu thuyết, 3 trường ca v.v…. Năm 1971,Hoàng Bình Trọng có gia nhập vào quân đội và có 5 năm chiến đấu ở chiến trường B. Hết chiến tranh,ông ra quân và Hội văn học Vĩnh Phú nhận ông về biên tập cho tạp chi “Đất Tổ”. Mấy năm sau, chia tỉnh, ông lênh đênh tìm bến đỗ . Nạn tiếm quyền buổi giao thời này khiến ông không đến được nơi ông cần đến. Nơi cũ thì đã cắt giấy tờ, nơi đến thì không nhận vì đã có ngươi choán chỗ. Ba tháng trời không lương, lại hết tỉnh Vĩnh Phúc đến Phú Thọ, mệt mỏi, bất lực,ông đành về 176. Về với vơ ở Quảng Hòa Quảng Trạch ông đi làm thuê, thậm chí lên rừng hái củi về bán nuôi vợ và con trai. Ông Nguyễn Văn Lợi tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Quảng Bình (sau này là tạp chí Nhật Lệ) đã đón ông vào làm biên tập viên. 14 năm trời làm việc ở đây, không bia rượu, thuốc lá,chỉ mấy cái song tự nấu ăn hàng ngày, ông vừa làm việc vừa sáng tác. Ở Quảng Bình, chưa ai có nhiều giải thưởng văn học danh giá như ông, từ địa phương đến trung ương. Khi Nhật Lệ đủ biên chế rồi, ông phải về quê sống với ngòi bút của mình

Và ông cười khẩy

“Một giọt rơi,
Một quảng đời tàn lụi
Tiếc làm chi cái kiếp phù sinh
Chỉ cần biết bao giờ nến tắt
Ấy là khi đã cháy hết mình”.

Về quê cũ, bệnh viêm phổi mãn tính hoành hành. Đã nghèo nhưng phải nằm viện liên miên. Hết Cu Ba đến Huế, Hết Quảng Trạch lại Hà Nội, cuối cùng Hoàng Bình Trọng đã rời cõi tạm đầu năm 2021. Báo Văn Nghệ đã chia sẻ nhà văn Hoàng Bình Trọng qua bài viết nhỏ của tôi. Cảm ơn quý báo.

Nhạc sĩ Trần Hoàn
VIẾT CHO SỰ GIÃ BIỆT
Hồ Ngọc Diệp, 20 tháng 1 năm 2022  ·

Nhạc sĩ Trần Hoàn có nhiều duyên nợ với Quảng Bình . Nhưng nhiều người chưa được biết ông có một ca khúc viết về một cô gái mà chỉ ông biết tại Quảng Bình, viết cho một cuộc giã từ đi xa mãi mãi, trên đất Quảng Bình. Tôi đã được báo Văn Nghệ Công An giới thiệu bài viết về sự kiện này với bạn đọc gần xa. Một phần thưởng lớn lao đầy ý nghĩa đã đến với tôi,đó là bà Thúy Hồng, vợ của Nguyễn Tăng Hích( tên thật của nhạc sĩ Trần Hoàn) điện về tổng biên tâp báo Văn Nghệ Công An xin số điện thoại của tôi. Sau đó bà đã điện vào cảm ơn tôi đã có một bài viết hay và những điều bà chưa được biết hết về người chồng thân yêu của mình. Với tôi, đó là phần thưởng vô giá.

Bài ca trường Quảng Trạch https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-ca-truong-quang-trach/ Dạo chơi non nước Việt https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dao-choi-non-nuoc-viet/

TỰ NGUYỆN

CNM365 Tình yêu cuộc sống. Bạn tôi thích hát bài “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh với lời Việt thật ngọt ngào và lời Anh tự dịch khá sát nghĩa. Tôi đặc biệt thích thú bài hát song ngữ này vì những điều cảm động sâu xa trong lời thơ hay đến mức nao lòng và vì sự dễ nhớ để học cách chia động từ tiếng Anh: “Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng / Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương/ Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm/ Là người, tôi sẽ chết cho quê hương” (If a bird, I would be a white pigeon/ If a flower, I would be a sun flower/ If a cloud, I wold be a warm cloud/ A man, I will die for our country …). Trong nguyên bản, lời thơ viết về sự hi sinh trong chiến đấu “Là người, xin một lần khi ngã xuống / Nhìn anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.” nay trong thời bình, chúng ta ước khi mình nằm xuống cũng là lúc trỗi dây của một thế hệ mới “Là người, xin một lần khi nằm xuống/ cùng anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.” (Being a man, before we die/ We’ll stand up with you raise highly the flag).

TỰ NGUYỆN
Nhạc và lời: Trương Quốc Khánh

Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm
Là người, tôi sẽ chết cho quê hương

Là chim, tôi sẽ cất cao đôi cánh mềm
Từ Nam ra ngoài Bắc báo tin nối liền
Là hoa, tôi nở tình yêu ban sớm
Cùng muôn trái tim ngất say hoà bình

Là mây, theo làn gió tung bay khắp trời
Nghìn xưa oai hùng đó tôi xin tiếp lời
Là người, xin một lần khi ngã xuống
Nhìn anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.

Voluntariness

If a bird, I would be a white pigeon.
If a flower, I would be a sun flower.
If a cloud, I wold be a warm cloud.
A man, I will die for our country.

Being a bird, I would raise the soft wings
From South to the North, all news are joined.
Being a flower, I effloresce the early love
With all the hearts are enthralled the peace.

Being a cloud, with the wind I fly all the sky.
There’s been a superb millenary, today we’ll be catenary.
Being a man, before we die
We’ll stand up with you raise highly the flag.

Góp ý chỉnh sửa của Nguyễn Thị Bích Nga.
Anh Hoang Kim thân mến,
Đây là bản chuyển ngữ tiếng Anh mà Bích Nga có sửa đổi vài chỗ (dựa theo bản chuyển ngữ tiếng Anh “gốc” của cô Tuyết Hợp Ngốc PhươngNam) để chúng ta cùng HÁT với nhau nghen.Bích Nga đã hát thử nhiều lần rồi, hì hì, thấy cũng tạm được, 😀

THE VOLUNTEER
If a bird, I would be a white pigeon.
If a flower, I would be a sun-flower.
If a cloud, I would be a whole warm cloud
A human, I will die for my country.

A bird, I would rise high my soft wings
From South to the North, I give good news.
A flower, I blossom the early love
With all the hearts enthralled by the peace.

A cloud, I would fly to all the skyT
To follow our heroic history
A human, just once before I die
With my brothers, standing, raising the flag
.
(*) Cám ơn anh Bu Lu Khin đã viết “Linh” một câu chuyện xúc động, đó cũng là (tương tự là) câu chuyện Linh Giang dòng sông quê hương trên đây. Cám ơn Ngốc Phương Nam, Vumanh Hai đã chuyển thể bài thơ này sang tiếng Anh.từ 12 tháng 6 năm 2011 và Nguyễn Thị Bích Nga cũng tương tự vậy đã chuyển thể bài hát “Tự Nguyện” của Trương Quốc Khánh sang tiếng Anh và Lâm Cúc cùng anh Từ Vũ đã chuyển tải tài liệu vượt núi cao sang tiếng Việt, nuôi dưỡng ước mơ . Thời điểm này nhóm Cây Lương thực chúng tôi có Trần Ngọc Ngoạn Hoàng Kim Xuan Ky Nguyen, Trần Văn Mạnh, Hoang Long, BM Nguyễn, Nguyễn Thị Trúc Mai … và nhiều bạn khác đã tự nguyện dấn thân vào cuộc chiến đấu mới

Chuyện tình Phong Nha

Dòng Sông Quê Hương CD1
Dòng Sông Quê Hương CD5

Nguồn: Hình ảnh và tuyệt phẩm ca khúc quê hương Quảng Bình trên You Tube

DAYVAHOC. Đi như một dòng sông là tuyệt phẩm của nhà văn Paulo Coelho do nhà văn Từ Vũ phỏng dịch và nhà thơ Nguyễn Lâm Cúc giới thiệu. Tác phẩm viết về kinh nghiệm leo núi mà thực ra không chỉ và không phải nói về leo núi. Đó là một kho báu vô giá về những kỹ năng và minh triết khôn ngoan để vượt qua các lực cản và đi đến thành công. Nghệ thuật leo núi được diễn đạt đi như một dòng sông với một chuỗi việc chính: Lựa chọn núi thích hợp mà bạn muốn leo/ Biết cách để đi tới trước ngọn núi/ Học những điều mà người trước đã làm/ Nhìn thật gần thì những sự nguy hiểm có thể kiểm soát được/ Cảnh vật thay đổi hãy tận hưởng/ Hãy coi trọng thân thể/ Hãy tôn trọng thần trí/ Chuẩn bị để đi xa hơn nữa/ Hãy hân hoan khi tới đích/ Làm một lời hứa/ Trao truyền lại kinh nghiệm. Hồ Chí Minh có bài leo núi: “Đi đường biết mấy gian lao/ Núi cao rồi lại núi cao trập trùng/ Núi cao lên đến tận cùng/ Thu vào tầm mắt muôn trùng giang san” (Ảnh: Leo núi của Hoàng Tố Nguyên và ảnh Đi như một dòng sông của Hoàng Kim).

LỰA NGỌN NÚI MÀ BẠN MUỐN LEO

Đừng nên để những lời tường thuật của những người khác hướng dẫn bạn. Những người nói với bạn ” ngọn núi này đẹp nhất ” hay ” ngọn núi kia dễ leo nhất” sẽ làm cho bạn tổn hao nhiều năng lực và nhiệt tình khi bạn muốn đạt tới mục tiêu. Chính bạn là người duy nhất chịu trách nhiệm và phải chắc chắn tin tưởng vào điều mà bạn muốn thực hiện.

BIẾT CÁCH ĐỂ ĐI TỚI TRƯỚC NGỌN NÚI

Thông thường, người ta hay nhìn ngọn núi từ xa: đẹp, lý thú và đầy thử thách nhưng khi người ta thử tiến lại gần, chuyện gì sẽ xảy ra? Rất nhiều con đường lòng vòng dẫn tới đỉnh núi, rất nhiều cánh rừng ngăn trở bạn và mục tiêu của bạn, những chi tiết mà bạn nhìn thấy, đọc thấy trong bản đồ lại quá khó khăn trong thực tế. Chính vì thế, bạn hãy thử mọi đường, mọi nẻo, và rồi một ngày bạn sẽ nhận ra rằng mình đứng đối diện với cái đỉnh của ngọn núi mà bạn muốn leo lên được tới tận đỉnh.

HỌC NHỮNG ĐIỀU MÀ NGƯỜI TRƯỚC BẠN ĐÃ LÀM

Bạn tưởng rằng việc bạn làm là duy nhất chỉ mình bạn có mà thôi, nhưng thực ra, thế nào cũng có một người đã làm trước cả khi bạn mơ tưởng tới điều bạn dự định làm, và họ cũng đã để lại dấu vết giúp cho lối đi của bạn được dễ dàng hơn. Đấy chính là một đoạn đường, là trách nhiệm của chính bạn, nhưng đừng quên rằng học kinh nghiệm của người khác chính là sự giúp đỡ to lớn cho bạn.

NHÌN THẬT GẦN THÌ NHỮNG SỰ NGUY HIỂM CÓ THỂ KIỂM SOÁT ĐƯỢC

Khi bạn khởi sự leo núi, hãy lưu tâm đến những gì chung quanh bạn. Lẽ tất nhiên, những vực thẩm, những kẽ hở gần như khó có thể nhận ra. Những viên đá vô cùng bóng bảy vì mưa gió nhưng cũng lại rất trơn trợt như băng đá. Song nếu bạn biết được điểm mà bạn đặt chân vào, bạn sẽ nhận ra được những cái bẫy để biết được mà né tránh chúng.

CẢNH VẬT THAY ĐỔI, HÃY TẬN HƯỞNG

Điều chắc chắn là bạn phải có một mục tiêu rõ rệt trong đầu bạn: lên được tới tận đỉnh núi. Song, theo từng bước chân leo, người ta sẽ nhìn được rõ rệt hơn những cảnh vật, chẳng phải tốn kém gì nếu thỉnh thoảng bạn dừng chân lại để tận hưởng cảnh trí bao quanh. Mỗi một thước đã leo là mỗi dịp bạn có thể được nhìn xa hơn. Hãy lợi dụng những lúc này để khám phá những điều trước đây bạn chưa từng nhận ra được.

HÃY COI TRỌNG THÂN THỂ CỦA BẠN

Chỉ những ai biết điều chỉnh được cơ thể họ thì họ mới có thể xứng đáng thành công trong việc leo núi. Bạn có tất cả thời giờ mà cuộc đời dành cho bạn, hãy bước đều mà không cần phải đòi hỏi gì khác. Nếu như đi nhanh, bạn sẽ mệt mỏi và sẽ bỏ cuộc nửa chừng. Nếu bạn đi qúa chậm, đêm xuống, bạn sẽ bị lạc đường.

HÃY TÔN TRỌNG THẦN TRÍ CỦA BẠN

Đừng lập đi lập lại với chính bạn rằng ” Mình sẽ thành công .” Tâm thần của bạn đã biết điều này, điều mà bạn cần có là cống hiến cho lộ trình dài này để vượt lên. Sự ám ảnh chẳng hữu ích gì cho công cuộc tìm tòi chủ đích của bạn và cuối cùng sẽ làm bạn mất hứng thú. Tuy vậy cũng đừng nói đi nói lại rằng “qủa nhiên khó khăn hơn là mình nghĩ “, vì như vậy bạn sẽ làm hao tổn nội lực của chính bạn.

CHUẨN BỊ ĐỂ ĐI THÊM MỘT ĐOẠN NỮA.

Lộ trình dẫn tới đỉnh núi luôn dài hơn là bạn nghĩ. Đừng phủ nhận sự kiện này, lúc mình tưởng đã tới thì vẫn còn xa. Nhưng cũng như đã chuẩn bị cho điều này thì đâu thành vấn đề gì.

HÃY HÂN HOAN KHI BẠN ĐÃ TỚI ĐƯỢC ĐỈNH NÚI

Vui đùa, reo vang với bốn bề đất trời quanh bạn rằng bạn đã thành công. Hãy để ngọn gió trên cao kia (bởi lẽ ở trên cao luôn thường có gió) tẩy uế linh hồn bạn. Hãy để đôi bàn chân mệt mỏi của bạn được mát mẻ thoáng mồ hôi. Hãy mở rộng đôi mắt, vất bỏ bụi bậm bám trong tâm hồn bạn. Thực là một điều tuyệt diệu mà trước đó chỉ là một giấc mơ, một ảo tưởng xa vời, hiện tại đã nằm trong một phần cuộc đời bạn, bạn đã THÀNH CÔNG.

LÀM MỘT ĐIỀU HỨA

Bạn đã khám phá ra một sức mạnh mà chính bản thân bạn cũng không biết, hãy lợi dụng nó và nó với chính bạn rằng kể từ nay bạn sẽ xử dụng nó cho tới khi nào bạn còn hiện diện trong cuộc sống. Dành ưu tiên, hãy hưá hẹn với bạn rằng bạn sẽ khám tìm, chinh phục một ngọn núi khác nữa, rồi lao mình vào một chuyến phiêu lưu mới.

THUẬT LẠI CÂU CHUYỆN CỦA BẠN

Đúng vậy, hãy kể lại câu chuyện của bạn. Hãy đưa ra ví dụ mà bạn đã thực hiện. Nói với mọi người rằng tất cả đều CÓ THỂ ĐƯỢC và rồi những người khác cũng sẽ lại tự thấy có được lòng can đảm để ĐƯƠNG ĐẦU VỚI NHỮNG NGỌN NÚI CỦA CHÍNH HỌ.

(TheoNLC Blog)

xem tiếp: Hoa Đất của quê hương
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoa-dat-cua-que-huong/

Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Tỉnh thức cùng tháng năm

TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tinh-thuc-cung-thang-nam/https://hoangkimvn.wordpress.com/tag/tinh-thuc-cung-thang-nam/

CNM365 Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com;  #hoangkimlong,  #hoanggia#Thungdung#dayvahoc#cltvn#vietnamhocBan mai chào ngày mới; Tỉnh thức cùng tháng năm; Ai bảo chăn trâu là khổ? A Na tìm được Ngọc; Hoàng Tố Nguyên tiếng TrungHoàng Long cây lương thực;  Hoàng Kim chuyện đời tôiChọn giống sắn Việt Nam; Thầy nghề nông chiến sĩ;  Kim Notes lắng ghi chú; Thầy bạn là lộc xuân;  Hoàng Ngọc Dộ khát vọng; Sóc Trăng Lương Định CủaThầy Quyền thâm canh lúaThầy Vũ trong lòng tôi; Thầy Luật lúa OMCS OM;  TTC Group Sen vào hè;  ĐHNN2 Hà Bắc nay và xưa; Lớp 10A TT ĐHNN2 Hà Bắc;  Lên Trúc Lâm Yên TửĐêm Yên Tử;  Sự chậm rãi minh triết; Chuyện ngậm ngãi tìm trầm; Họ im lặng như núiVăn chương ngọc cho đời;

Lúa siêu xanh Việt Nam; Xuân ấm áp tình thân; Xanh một trời hi vọng; Vận khí và vận mệnhGiấc mơ lành yêu thương; 24 tiết khí lịch nhà nông; Vui đi dưới mặt trời; Thầy bạn là lộc xuân; Sớm xuân đi tảo mộ; Ban mai trên sông Son; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Hoa Lúa; Sao Thủy và Sao Kim (là Thái Bạch Kim Tinh, sao Hôm sao Mai trong Hệ Mặt trời) Ngày 5 tháng 1 năm 2005, Eris hành tinh lùn lớn nhất trong các hành tinh lùn của hệ Mặt trời đã được phát hiện (theo thuật ngữ thiên văn của Hiệp hội thiên văn quốc tế ngày 24 tháng 8 năm 2016 mọi vật thể trong hệ Mặt Trời ngoại trừ Mặt trời được phân thành ba thể loại là hành tinh, hành tinh lùn và vật thể nhỏ trong Hệ Mặt Trời; Ngày 5 tháng 1 năm 1933,Cầu Cổng Vàng là một trong những cây cầu đẹp nhất nước Mỹ được khởi công xây dựng tại eo biển vào vịnh San Francisco, miền Bắc California; Ngày 5 tháng 1 năm 1888, ngày sinh Bùi Kỷ, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng người Việt Nam (mất năm 1960). Bài viết chọn lọc ngày 5 tháng 1:#cltvn định hướng và giải pháp; Lúa siêu xanh Việt Nam; Xuân ấm áp tình thân; Xanh một trời hi vọng; Vận khí và vận mệnh; Giấc mơ lành yêu thương; 24 tiết khí lịch nhà nông; Vui đi dưới mặt trời; Thầy bạn là lộc xuân; Sớm xuân đi tảo mộ; Ban mai trên sông Son; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Hoa Lúa; Lúa siêu xanh Việt Nam; Sớm xuân; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-5-thang-1/https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-5-thang-1/;

BAN MAI CHÀO NGÀY MỚI
Hoàng Kim

An vui cụ Trạng Trình
Thung dung đời quên tuổi
Chín điều lành hạnh phúc
Ngày mới bình minh an

Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com #cltvn Tỉnh thức cùng tháng năm, #cnm365 điểm nhấn nổi bật 365 ngày https://cnm365.wordpress.com, Vị Tế xong rồi Ký Tế chưa xong https://hoangkimlong.wordpress.com/2022/12/31/ban-mai-chao-ngay-moi/ https://khatkhaoxanh.wordpress.com/ban-mai-chao-ngay-moi/ DẠY VÀ HỌC #HTN https://hoangkimvn.wordpress.com/ Video https://youtu.be/ic7O0gqhhng

Giống sắn Phú Yên KM568, KM440, KM419, KM539, KM569, KM94 ngày mới

Chúc mừng trời đất cảm Ngưa không nản chân bon Đường xuân đời quên tuổi Ban mai chào ngày mới Tỉnh thức cùng tháng năm

Giống sắn Phú Yên KM568 https://youtu.be/mXs9_gi07_g by Nguyen Thi Truc Mai, Hoang Long, Nguyen Nu Quynh Doan, Hoang Kim et al. 2023 tích hợp Giống sắn Phú Yên KM568, KM440, KM419, KM539, KM569, KM94 ngày mới. Thông tin Bảo tồn và phát triển sắn tại Chọn giống sắn Việt Nam https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chon-giong-san-viet-nam/; Ban mai chào ngày mới https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ban-mai-chao-ngay-moi/; https://hoangkimvn.wordpress.com/2023/01/01/ban-mai-chao-ngay-moi-2/; https;//cnm365.wordpress.com/2023/01/03/cnm365-cltvn-3-thang-1-2/; Cách mạng sắn Việt Nam 22 7 2016 (Bảy năm nhìn lại sự bảo tồn và phát triển sắn). The cassava revolution in Vietnam by Le Huy Ham, Hoang Kim, Nguyen Thi Truc Mai, Nguyen Bach Mai and Reinhardt Howeler 2016; https://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Ban mai chào ngày mới 39 NEW https://youtu.be/aTRTdkuQbFU
Ban Mai chào ngày mới 38 NEW https://youtu.be/MZH2v7_nApA
Ban mai chào ngày mới 37 NEW https://youtu.be/ic7O0gqhhng
Ban mai chào ngày mới 36 NEW https://youtu.be/pWlV9K8c6hk

Năm 2023 Kịch bản nào cho cuộc xung đột Nga – Ukraine ? | Bàn tròn thế sự Nghệ An TV https://youtu.be/MhYc-AaD-YY; Tham vọng của Trung Quốc trong mục tiêu “100 năm lần thứ 2” | Bàn tròn thế sự https://youtu.be/H-kC5XG1amY; Cách mạng sắn Việt Nam 22 7 2016 (Bảy năm nhìn lại sự bảo tồn và phát triển). The cassava revolution in Vietnam by Le Huy Ham, Hoang Kim, Nguyen Thi Truc Mai, Nguyen Bach Mai and Reinhardt Howeler 2016. We created this video with the YouTube Slideshow Creator https://youtu.be/81aJ5-cGp28 Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Xung đột Nga- Ukraine, Việt Nam chọn công lý, chọn lẽ phải | VTC Now https://youtu.be/dXf76sWGNbU Mảng tối của văn hóa giải trí Việt 2022: Nghệ sĩ “chơi dao sắc thì đứt tay” | VTC Now https://youtu.be/Cx1eECXjaeI

Video yêu thích

Bài ca nhịp thời gian Run away with me https://youtu.be/_Bs4XcVufqY#Thungdung

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Tiết Tiểu hàn

HoavaOng
Hoàng Kim
.

Tiết Tiểu hàn  rét nhẹ .
Đêm lạnh nhớ Đào Công.
Ngược gió đi không nản.
Tuyết xuân thương người hiền.

Đêm trắng và bình minh.
Thung dung chào ngày mới.
Phúc hậu sống an nhiên.
Đông qua rồi xuân tới.

Ngược gió đi không nản.
Rừng thông tuyết phủ dày.
Ngọa Long cương đâu nhỉ.
Đầy trời hoa tuyết bay …

tiettieuhan

24 TIẾT KHÍ LỊCH NHÀ NÔNG

Hoàng Kim

5 tháng Một bắt đầu rét nhẹ
21 tháng Một
trời lạnh cắt da
4 tháng Hai ngày
xuân mới đến
20 tháng Hai
Thiên Địa Nhân hòa

Mong em đừng quên “nhất thì nhì thục
Cuộc sống tình yêu chãy mãi không cùng
Em HỌC ĐỂ LÀM (Learning by Doing) 24
tiết khí
Mộc mạc hát vần 
Bài học đầu tiên.

Đồng dao cho em khuyên em đừng tưởng
Câu chuyện mùa xuân
thêm cho mồng Ba
Trải
Cốc Vũ qua ngày Hạ Chí
Đại Thử rồi Sương Giáng thành hoa.

Đất cảm trời thương, lòng người gắn bó
Dẫu khó vạn lần khéo liệu cũng xong
Em đừng ngại mùa Xuân rồi lâu đến
Bởi biết rằng
năm tháng đó là em.

24tietkhi

24 tiet khi PhanLanHoa

troixanhbannanluavangmua

SỚM XUÂN

Hoàng Kim

Trời xanh bán nắng lúa vàng mua
Xuân tới đông qua tiết trở mùa
Sớm xuân tỉnh thức nghe chim hót
Một khúc tâm tình trẻ tiếng thơ.

Hoàng Kim học để làm ở Ấn Độ

(tiếp vần liên hoàn … 24 tiết khí lịch nhà nông)

 
Peacefully
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Bài thơ Viên đá Thời gian

50namnholainguoihien

BÀI THƠ VIÊN ĐÁ THỜI GIAN

Hoàng Kim

Bài thơ Viên đá Thời gian.
50 NĂM NHỚ LẠI Người hiền.

Chuyến đi ngắn và điều đáng nhớ
Ba lô xe đò Một lối đi riêng.
Nhớ THƠ VIẾT VỀ NGƯỜI
của cụ Hải Như

” Chúng ta thích đón đưa,
Người không thích.
Đến thăm chúng ta
Người thường “đột kích”,
Chữ “đột kích” vui này
Người nói lại cùng ta.
Và đường quen thuộc
Người chẳng đi đâu
Đường quen thuộc
Thường xa
Người hiện đến
bằng lối tự tìm ra
Ngắn nhất.
Người không muốn dẫm lên
mọi đường mòn có sẵn.
Khi đích đã ngắm rồi.
Người luôn luôn tạo cho mình
Một lối đi riêng”.

phanchithang

PHAN CHI THẮNG VỚI HOA ĐẤT

Hoàng Kim
đề ảnh Phan Chi

“Thủy vốn mạch sông nước có nguồn.
Chính Trung tiền hậu đổi nhau luôn.
Nụ cười Nghê Việt luôn đầy đặn.
Mai với Bồ Đề ẩn sau lưng.
Tóc nhuốm bạch kim phơi nắng hửng
Da pha hồng ngọc trãi mưa nhuần.
Hoa Người Hoa Đất vui thầy bạn.
Phước Đức mừng anh thắng tuổi trăm”

PhanChiThang
Tôi đùa anh Thắng “Anh là Hoa Người. Hoa Người về Hoa của Đất, sau lưng Hoa Người là Vườn Mai và Cây Bồ Đề đấy’. Anh tặng tôi cuốn sách của anh về “50 năm nhớ lại”. Tôi tặng anh cuốn sách “10 đại văn hào Trung Quốc” có câu chuyện gần gũi…

Để bắt đầu câu chuyện , tôi sẽ kể vắn tắt với bạn Phan Chí Thắng là ai? Tôi đã kể về anh Phan Chí Thắng  năm 2009, bức ảnh chụp trên đây là năm 2006, nay chưa tiện nói dài, chỉ chép lại để lưu giữ thông tin và hiến tặng bạn đọc.

Nhân chuyện vui, một bạn hỏi tôi: “Văn hóa là gì?” Tôi trả lời : “Các cụ có định nghĩa rồi. Văn hóa là điều người ta còn nhớ khi người ta đã quên đi tất cả”. Bạn tôi hỏi tiếp: “Theo anh thì anh Phan Chí Thắng là người thế nào ? ” Tôi đáp không chút ngập ngừng: “Theo mình đó là một người rất hay, sâu sắc, tinh tế” và xòe năm ngón tay nhớ  bốn bài thơ và một bài văn của anh

nguoidanbaxalaTÔI BẮT ĐẦU MỘT KÝ ỨC với Victor Thắng, kẻ xách va ly cho người vũ công già, trong 50 năm nhớ lại, người anh đã liên tưởng tới Người đàn bà xa lạ của họa sĩ Kramskoi. Số phận đã cho Victor Thắng được gặp người phụ nữ Nga, cho tâm hồn anh một lần được trú ngụ trong cái hiền hòa và nhân hậu của người Nga. Câu chuyện này giúp tôi neo đậu tại đây các bài thơ không quên. Tôi nói với Huynh Thi Kim Em “Mời bạn theo dõi câu chuyện này, không phải với cương vị CATAND nữa mà là nhân chứng chuyện cổ tích cho người lớn nói về Con Người”. Trước hết, mời bạn hãy đọc kỹ bốn bài thơ và một bài văn của Victor Thắng

phanchithang

TỨ TUYỆT KHÔNG ĐỀ

Phan Chí Thắng

Không có rượu sao mà say đến thế
Giải Ngân Hà mờ tỏ  bóng thời gian
Ta đã được một lần say lặng lẽ
Giữa cuộc đời tỉnh táo đến khôn ngoan.

TA NỢ

Phan Chí Thắng

Ta nợ mặt trời chiếc bóng dưới chân
Ta nợ đêm thu tiếng sáo trong ngần
Ta nợ mẹ già tháng năm tần tảo
Ta nợ vợ hiền một thời thanh xuân

Ta nợ cuộc đời cúi đầu tạ lỗi
Ta nợ quê hương núi thẫm ráng chiều
Ta nợ lòng mình những lần thất hẹn
Ta nợ cuộc tình khoá lễ cầu siêu

Ở ĐÂU?

Phan Chí Thắng

Ở đâu có một ngôi nhà bé
Cửa sổ đèn khuya bóng em ngồi
Giai điệu dân ca ngân nhè nhẹ
Tự tình dạ khúc gửi xa xôi

Ở đâu có một khuôn vườn lặng
Em nở dùm tôi những nụ hồng
Chim hót chào reo bình minh nắng
Sương mòn xao xuyến như mắt mong

Ở đâu có một trời thương nhớ
Em thấu dùm tôi nỗi cháy lòng

Ở đâu có một con thuyền nhỏ
Chở những vần thơ tôi sang sông

GỬI HOÀNG KIM

Phan Chí Thắng

Nghe đêm vỡ giọt bên mành
Hương thơm như khẽ lay nhành phong lan
Mưa xa chớp loé trên ngàn
Lòng riêng chất chứa muôn vàn thiết tha

Ta tìm gặp bạn đường xa
Tưởng là thăm bạn hoá ra thăm mình
Đêm dài xoè một bình minh…

MỘT GIỜ DẠY HỌC CỦA KHỔNG TỬ

Phan Chí Thắng

Khổng tử thường đưa học trò đi các nơi du lịch sinh thái, vừa đi vừa dạy bằng cách trò chuyện với học trò. Các giáo án từ trên đưa xuống tỏ ra quá giáo điều và khô cứng nên ông không dùng. Mà ông cũng không bao giờ chuẩn bị giáo án. Ông phó mặc cho trí tuệ và cảm hứng dẫn dắt.

Vào một ngày đầu thu mát mẻ, ông đưa mấy người học trò ra vườn trúc. Những khóm trúc xanh nằm giữa bãi cỏ xanh. Xa xa có con suối róc rách, bên kia con suối là đồi chè rất xanh, vài ba thiếu nữ đang khom lưng hái chè.

Cầm chén rượu từ tay Tử Tư, người cháu duy nhất là môn đồ của ông, Khổng tử thư thái ngắm nhìn cảnh đẹp thiên nhiên đang bày ra trước mắt. Mấy người học trò cung kính chắp tay đứng sau lưng ông.

Bỗng Khổng tử cất tiếng:

– Hôm nay ta muốn các con trả lời câu hỏi:  “Cái gì ở sau lưng người đàn bà?”

Sau vài phút suy nghĩ, Tử Tư bước lên:

– Thưa thầy, sau lưng người đàn bà là một giỏ đầy trách nhiệm. Mời thầy và các bạn nhìn lên đồi sẽ thấy những người phụ nữ đang còng lưng với cái giỏ chè.

Khổng tử chiêu một ngụm rượu, vuốt râu khen Tử Tư:

– Con là người có tấm lòng nhân ái và biết thông cảm với nhân quần. Ta cho con 7 điểm.

Đến lượt Mạnh tử:

– Thưa thầy, sau lưng người đàn bà là không có gì ạ. Bản thân người đàn bà đã quá đẹp, không còn cái gì xung quanh có thể so sánh nổi với người đàn bà nữa rồi.
Ca dao có câu:
Trúc xinh trúc đứng đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh

Khổng tử lại chiêu thêm một ngụm rượu, cười hiền hậu:

– Con có khả năng tư duy logic và là người tin vào Chân Thiện Mỹ. Ta cho con 7 điểm.

Đến lượt Tuân Tử:

– Thưa thầy, sau lưng người đàn bà là nhiều người đàn ông ạ. Đó là những người si mê chạy theo nàng.

Khổng tử cười lớn:

– Con nói đúng. Con biết đề cao sự thực tế và những khía cạnh vật chất trong tư tưởng Khổng Tử. Ta cho con 7 điểm. Tất cả các con đều nói đúng nhưng chỉ mới đưa ra được một câu trả lời chưa khái quát, lại quá phức tạp và có vẻ chữ nghĩa quá!

Đám học trò im lặng chờ thầy đưa ra đáp án. Khổng tử uống nốt chén rượu, chậm rãi nói:

– Rất đơn giản: Ở ngay sau lưng của người đàn bà là cái khoá áo ngực. Hầu hết thời gian trong ngày người đàn bà mặc áo ngực? Ta hiểu các con muốn nói là có những lúc người đàn bà không mặc áo ngực. Những lúc đó thì chúng ta chỉ quan tâm đến phía trước của người đàn bà thôi. Ha ha!

Các môn đồ cúi đầu suy nghĩ. Thầy của họ thật sâu sắc. Thầy dạy cho họ biết bao giờ người ta cũng nhận thức thế giới khách quan như nó vốn có nhưng lại theo quyền lợi của ta.

PHAN CHÍ THẮNG TUYỂN VĂN

Anh Phan Chí Thắng có một nhà thật và ảo một nhà. Nhà thật là nhà số 10. Nhà ảo mà thật là  http://pcthang.vnweblogs.com;  Phan Chí Thắng tuyển văn có ba bài đáng để ý “Bình sinh Hồ Chí Minh” “Gia đình tôi” “Hậu duệ của Hàn Tín”. Đó là một ẩn ngữ thú vị, ban mai cho đời và nắng ấm cho văn.

BÌNH SINH HỒ CHÍ MINH
Phan Chí Thắng gửi Hoàng Kim 
ngày 30. 3 .2008 lúc 11:34:47

Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh
Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành
Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy
Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH

Cách đây mấy ngày trong một cuộc tiếp xúc nhiều người tôi vô tình được nói chuyện với anh H. – cháu nội người đỗ đầu khoa Hội cùng năm với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Dì ruột của anh H lấy anh cả của ông LĐT.  Anh H. kể là được nghe trực tiếp từ ông LĐT về bài tứ tuyệt được thêu trên trướng do 5 nhà cách mạng lão thành Nga gửi đến tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ nghe một lần mà anh H. thuộc lòng cho đến bây giờ thật xứng danh cháu nội cụ Hội Nguyên. Tôi xin chép lại vào đây để Hoàng Kim tham khảo. 

Có vài điểm thắc mắc: 1. Làm sao mà các nhà cách mạng Nga lại làm được thơ tứ tuyệt? Hay là họ nhờ ai đó làm giúp theo ý họ? 2. Các chữ viết hoa trong bài tứ tuyệt được thêu chữ hoa nghĩa là có dụng ý. Ba chữ là lấy từ trong “Hồ Chí Minh”. Còn chữ “Thơm” có phải đó cũng là tên hoạt động của Bác Hồ trong thời gian công tác cùng với 5 nhà cách mạng Nga kia? Hay là một tên gọi khác của Bác mà rất ít người biết? Sơ bộ như thế, các nhà nghiên cứu sẽ tìm câu trả lời.

GIA ĐÌNH TÔI


Phan Chí Thắng

Năm 1957 cha tôi được “sửa sai”. Trên mời cha tôi ra Hà nội nhận công tác. Dịp chỉnh huấn năm 1953 riêng cơ quan cha tôi có 7 người tự tử. Họ bị khép nhiều tội mà họ không hề mắc. Không ai tìm ra cha tôi có tội gì. Cha bị ghép là xuất thân con nhà quan lại bản thân thành phần tiểu tư sản theo cách mạng chưa chắc đã thật lòng. Không thật lòng thì có thể làm cho địch biết đâu đấy?

Cha tôi không tự tử. Sau này cha nói là một phần do cho đến năm đó cha chưa hề biết mặt tôi. Cha sợ nếu chết đi thì tôi sẽ khổ vì không có cha hoặc có cha nhưng cha mang tiếng phản động (vì mình chết rồi lấy ai thanh minh).

Từng là thư ký của tướng Nguyễn Chí Thanh đang là Trưởng ban Chính trị Công an Thừa thiên cha tôi được (hay bị) thuyên chuyển ra Nghệ an chờ nhận công việc mới.

Qua đường dây liên lạc cha nhắn tin đón mẹ con tôi lên chiến khu. Phải lần thứ hai chúng tôi mới đi thoát. Du kích đưa chúng tôi lên rừng bố trí ở trong một căn nhà lá. Sáng hôm sau cha và mấy người trong cơ quan mới đến. Trong số những người mặc bộ bà ba đen đeo xắc cốt giống hệt nhau tôi vẫn đoán ra ai là cha mình và lao vội vào lòng ông.

Sau một tháng đi xuyên rừng chúng tôi mới ra đến Nghệ an. Đoạn nào dễ đi thì tôi tự đi chỗ hiểm trở thì có người cõng tôi. Tôi mới 6 tuổi. Vì hầu hết là đi ban đêm nên chủ yếu là tôi được cõng. Tôi đi qua những địa danh mà sau này tôi không bao giờ quên. (Hôm đầu tháng Tư vừa rồi tôi về Lệ Thuỷ thăm quê của nhà thơ Trần Quang Đạo đại tá Thọ bạn của Đạo khoe ở vùng này có một suối nước nóng 103 độ C tôi nói tôi biết rồi luộc trứng ăn được nhưng hơi nồng vì trong nước có nhiều lưu huỳnh. Thọ ngạc nhiên: “Anh tới suối nước nóng này bao giờ?” tôi nói là từ năm 1953 Thọ tỏ ra rất thú vị).

Qua đất Hà Tĩnh có một đọan chúng tôi được đi “xe lửa” (một toa xe hàng còn sót lại do người đẩy trên quãng đường sắt vẫn còn ray). Ngồi chen chúc trên sàn xe nhưng ai cũng thấy sướng sau những ngày đi bộ xuyên rừng hai chân nứt nẻ toé máu.

Chúng tôi được bố trí nghỉ một ngày ở nhà cụ Phan Châu Trinh. Tôi còn nhỏ quá không biết cụ Phan Châu Trinh là ai thấy mọi người nói về cụ với lòng ngưỡng mộ sâu sắc con tim trẻ thơ của tôi ghi sâu tình cảm với cụ ngay từ lúc đó.

Ra đến Nghệ an cha tôi mới biết là mình bị chuyển sang làm thuế vụ. Ông kiêu hãnh vứt trả quyết định bỏ về ở Nam Vân – Nam Đàn. Phải chăngtừ ngày ấy định mệnh đã gắn tôi Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 vĩnh viễn với mảnh đất Nam Đàn?

Ở Nam Đàn mấy tháng thì hoà bình lập lại đất nước bị chia làm hai miền. Bà ngoại tôi chỉ có hai người con gái mẹ tôi là con đầu cậu tôi đã chết đuối năm lên mười tuổi. Ông ngoại tôi ghét thực dân Pháp bỏ quan (tôi không biết ông làm chức quan gì chắc là chức nhỏ thôi Tôn thất có ít chữ nghĩa thể nào chả được một chức quan) theo bạn sang Lào làm ăn bị ngã nước chết khi bà tôi mới 27 tuổi. Bà ở vậy nuôi con. Bà yêu tôi lắm. Những năm ở Huế tôi sống với bà là chính. Những lần bị Tây đuổi bà một bên nách là tôi bên kia là gói vài cái áo quần và cuộn thuốc Cẩm Lệ.    

Đất nước chia cắt nhớ thương con cháu quá bà dắt dì tôi đi xuyên rừng ra Nghệ an tìm chúng tôi bỏ lại sau lưng nhà cửa ruộng vườn và cuộc sống no đủ dấn thân vào quãng đời gian khổ mấy chục năm trên đất Bắc chiến tranh và nghèo đói. Mẹ tôi dệt vải nhuộm nâu còn bà giã lá gai làm bánh mang ra chợ bán. Có lần bà ngủ gật chày giã phải tay ngón cái từ đó bị tật cong queo cầm điếu thuốc lá rê…

Sau đó cha tôi mua nhà và mảnh ruộng ở Thịnh Sơn Anh Sơn. Ông quyết định về làm ruộng. Không hẳn là ông thấy cần tự cải tạo lao động mà ông không có việc gì để làm ngoài việc tối tối đi dạy bình dân học vụ. Ông làm thơ những bài thơ ông làm thời cải cách ruộng đất sau này ông đốt hết và vĩnh viễn không làm thơ nữa trừ những bài thơ khóc bạn đọc ở đám tang những người bạn ra đi trước ông. Ông cũng không thích tôi làm thơ bài thơ nào tôi viết ra ông cũng xé đi hoặc cất giữ rất bí mật. Ông muốn tôi theo đuổi con đường khoa học kỹ thuật tránh xa chuyện văn chương vì vậy mãi tới năm 56 tuổi khi cha tôi đã mất rồi tôi mới tí toáy viết lách.

Như đã nói năm 1957 trên mời cha tôi ra Hà nội nhận công tác hình như có sự can thiệp của chính Đại tướng Nguyễn Chí Thanh điều này tôi không dám chắc vì tính cha tôi ít khi nói chuyện với con cái về công việc của mình tôi chỉ nghe mẹ nói thế. Ông từ chối về lại ngành công an. Những người bạn vào sinh ra tử năm nào nhưng đã “đấu tố” ông trong chỉnh huấn nay vẫn còn đó ông không muốn làm việc với họ nữa. Thế là ông về làm biên tập viên ở Nhà Xuất bản Sự Thật nay là NXB Chính trị quốc gia. Ông chơi thân với ông Minh Tranh Giám đốc Nhà xuất bản người sau này bị cho là thuộc nhóm xét lại. Bởi vậy cha tôi cứ lẹt đẹt ở chức Trưởng phòng chính trị cho đến lúc về hưu mặc dù từng tham gia dự thảo nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và lãnh tụ. Sau này khi đã già mắc bệnh pa-king-sơn ông không tự đi được nữa song năm nào dịp tết cũng bảo tôi lấy xe đưa ông đi thăm ông Minh Tranh.

Vài tháng sau cha tôi được phân một phòng 24 mét vuông trên tầng hai ở 169 Mai Hắc Đế tiêu chuẩn độc thân. Cha đón mẹ tôi ra Hà nội trước bà ngoại ở lại bán nhà bán ruộng xong thì đưa tôi ra Hà nội.

Tôi có hai cái bình minh đáng nhớ ở Nghệ An. Một lần đi thuyền trên sông Lam. Sương khói lãng đãng trên sông xa xa là những ngọn núi tím mờ bãi ngô xanh mướt hai bên bờ sông tiếng hò lan trên mặt nước thấm vào đâu đó trong không gian tuyệt đẹp bao quanh. Và lần hai là khi bà cháu chúng tôi dắt nhau đi lúc tờ mờ sáng sau lưng là 4 năm thơ ấu của tôi là nấm mộ cô em gái tôi chết khi mới mấy tháng tuổi chỉ vì không có vài viên thuốc cần thiết. Chó sủa ăng ẳng tiễn đưa chúng tôi ra đi không ngày trở lại.”

HẬU DUỆ CỦA HÀN TÍN

Phan Chí Thắng

1.    Cụ Vi Văn Định từng làm tổng đốc tỉnh Thái Bình dưới thời Pháp cai trị nổi tiếng đàn áp cách mạng nhưng thực ra cụ là người trí thức cách mạng ngoài miệng cụ chửi cộng sản nhưng ngầm giúp che giấu cán bộ hoạt động bí mật. Hai cuộc họp hội nghị trung ương đảng được tổ chức thành công tại chính nhà cụ trong khi thực dân Pháp ráo riết tìm kiếm khắp nơi. Cụ đã gả hai người con gái là bà Vi Kim Ngọc cho nguyên Bộ trưởng giáo dục chính quyền cách mạng Nguyễn Văn Huyên bà Vi Kim Phú cho giáo sư Hồ Đắc Di nguyên Giám đốc Đại học và gả cô cháu Vi Nguyệt Hồ cho giáo sư Tôn Thất Tùng.

Cụ đã hiến tặng ngôi nhà riêng tại phố Trần Bình Trọng  cho Đảng một thời làm nhà khách Trung ương. Sinh thời cụ và Bác Hồ có qua lại thăm nhau.

2.    Ngồi nói chuyện với Hàn Tín về tài năng của các tướng Lưu Bang hỏi ông:
– Như ta thì có thể cầm được bao nhiêu quân?
Hàn Tín nói:
– Bệ hạ chẳng qua chỉ cầm được mười vạn.
Lưu Bang lại hỏi:
– Thế còn nhà ngươi thì cầm được bao nhiêu?
Hán Tín trả lời:
– Thần thì càng nhiều càng tốt.
Lưu Bang cười nói:
– Càng nhiều càng tốt thì sao lại bị ta bắt?
Hán Tín đáp:
– Bệ hạ không có tài cầm quân nhưng có tài cầm tướng vì vậy cho nên Tín mới bị bệ hạ bắt.
Sau lần đó Lưu Bang càng sợ tài của Tín và quyết trừ khử cho được.

Sử ký Tư Mã Thiên ghi đại ý: Năm 196 TCN Trần Hy làm phản. Lưu Bang thân hành làm tướng đem quân đi đánh. Lã Hậu muốn gọi Hàn Tín vào để giết nhưng sợ ông không đến nên bàn với tướng quốc Tiêu Hà giả vờ sai người từ ngoài chiến trường chỗ Lưu Bang trở về báo tin rằng:
Trần Hy đã chết các chư hầu các quan đều đến mừng.
Tiêu Hà lừa Hàn Tín rằng:
– Tuy ngài ốm cũng xin cố gắng vào mừng.

Hàn Tín theo Tiêu Hà vào cung Lã Hậu lập tức sai võ sĩ trói ông rồi mang chém ở nhà treo chuông trong cung Trường Lạc. Lã Hậu giết tiếp cả ba họ nhà Hàn Tín. Sau khi Lưu Bang đã dẹp xong quân của Trần Hy trở về kinh đô thấy ông đã chết nhà vua vừa mừng vừa thương.

Tiêu Hà trước kia là ân nhân của Hàn Tín ra sức tiến cử ông với Lưu Bang nhưng cuối cùng lại chính Tiêu Hà lừa ông vào cung cho Lã Hậu giết. Bởi vậy đời sau nói rằng Hàn Tín làm nên sự nghiệp nhờ bởi Tiêu Hà mà chết cũng do tay Tiêu Hà.

3. Gần tết lão Hâm sang nhà ông tổ phó dân phố biếu cuốn lịch. Cơ quan in lịch nhiều quá biếu không hết nên chia thêm cho anh em mang đi đối ngoại.

Ông tổ trưởng dân phố người gầy gò thấp bé một mắt bị hỏng trong chiến tranh ông là thương binh loại hai. Ngày ngày hai vợ chồng ngồi dán túi nilon gia công cho người ta. Căn nhà nhỏ một tầng khá giản dị.

Ông tổ phó được phân công lo chuyện cung cấp nước cho dân đi ghi chỉ số công tơ tháng tháng đến từng nhà thu tiền nước. Những ngày hè nước chảy ri rỉ hoặc không chảy các hộ dân cứ nhè ông mà réo mà than phiền. Ông lăn lộn với bà con nên ai cũng quý thấy ông nghèo ai có cái gì cũng cho.

Ông tổ phó pha chè rút bao Thăng Long mời lão Hâm. Chuyện qua chuyện lại lão Hâm mới biết ông tổ phó là cháu của cụ Vi Văn Định – một người lẫy lừng tên tuổi. Khi biết vợ lão Hâm từng học cùng trường với chị Hà con ông Nguyễn Văn Huyên và là cháu ngoại của cụ Vi Văn Định ông tổ phó mới chậm rãi kể về giòng họ Vi mà người ta vẫn cho là người dân tộc Thổ ở Cao Bằng.

Ông tổ phó nói hiện ông còn giữ bộ gia phả giòng họ Vi được chạm trên nhiều tấm đồng lá theo đó chữ Vi chính là cắt ra từ chữ Hàn trong tiếng Hán. Một ngưòi con của Hàn Tín chạy thoát sang Việt nam đổi thành họ Vi sợ hậu thế không biết đến gốc gác của mình là từ Hàn Tín – vị võ tướng hiển hách thời Lưu Hán Đế – nên đã cho làm bản gia phả nói trên.

Lão Hâm ngắm ông tổ phó người nhỏ thó theo tài liệu thì Hàn Tín cũng nhỏ bé thể chất yếu ớt.

Không thể ngờ được là cái ông tổ phó ốm yếu nghèo nàn nhưng cần cù lo cho dân này lại chính là hậu duệ của Hàn Tín.

Ghi chú thêm về truyện ngắn “Gia đình tôi” của Phan Chí Thắng đã đăng trên sách Nhà số 10 Tập truyện ngắn Nhà Xuất bản Lao Động 2010. Trên hộp thư nhà ảo của bài “Gia đình tôi” có lời nhắn tin của Nguyễn Minh Châu:”Kính gửi Anh Thắng. Có phải Ba của Anh tên là Chư ? Em trai anh tên là Quyết ? Vợ anh tên là Chính ? Con gái anh tên là Thuỷ? Nhà số 10 là số 10 Phùng Hưng ? Nếu đúng như vậy – anh em mình biết nhau đấy từ hồi anh mới học ở Liên Xô về“.

Tôi rất tâm đắc với những bài viết trích dẫn trên đây của anh và nhắn:  Cám ơn anh đã tặng bài thơ “GỬI HOÀNG KIM Nghe đêm vỡ giọt bên mành Hương thơm như khẽ lay nhành phong lan  Mưa xa chớp loé trên ngàn Lòng riêng chất chứa muôn vàn thiết tha Ta tìm gặp bạn đường xa Tưởng là thăm bạn hoá ra thăm mình Đêm dài xoè một bình minh…“. Em đồng cảm tiếng tri âm “sau lưng người đàn bà là một giỏ đầy trách nhiệm” trong “Một giờ dạy học của Khổng Tử”   Em hiểu sâu sắc : “Tôi có hai cái bình minh đáng nhớ ở Nghệ An…” trong ‘Gia đình tôi’ và rất muốn anh viết tiếp “Người đàn bà xa lạ” kết nối ’50 năm nhớ lại’ để tỉnh thức điều mới mẻ ‘ĐÊM DÀI XÒE MỘT BÌNH MINH” .

Ngoctrongda.JPG

NGỌC PHƯƠNG NAM KHO BÁU CHÍNH MÌNH

Lâm Cúc nhà thơ nữ vốn ám ảnh bạn đọc với tập thơ Đãi Trăng và bài thơ Tháng Ba kỳ ảo được nhiều người biết. Câu chuyện NGỌC TRONG ĐÁ giữa những người bạn quý đã giúp tôi tìm được KHO BÁU CHÍNH MÌNH:  Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn,  Ngọc cho đời,  Ngọc phương Nam, Dưới đáy đại dương là ngọc. Tôi ngộ được minh triết ở Ngày xuân đọc Trạng Trình,  500 năm nông nghiệp Brazil và  Ngọc lục bảo Paulo Coelho  ẩn tàng những niềm vui phúc hậu an nhiên.

ngoctrongda

Trong Ngọc lục bảo Paulo Coelho tôi đã kể bạn nghe chuyện ngày xưa có một người thợ đá thử 999.999 viên đá, đến viên đá cuối cùng đã tìm được một viên ngọc lục bảo quý giá vô ngần. Paulo Coelho là ngọc lục bảo của đất nước Brazil. Tác phẩm của ông “O Alquimista” là kiệt tác của tâm hồn. Tiểu thuyết này được dịch ra 56 thứ tiếng, bán chạy chỉ sau kinh Thánh, đến năm 2008 đã bán được hơn 65 triệu bản trên toàn thế giới. Cuốn sách với tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke chuyển ngữ, và bản tiếng Việt  có tựa đề là “Nhà giả kim” do Lê Chu Cầu dịch, Công ty Văn hóa Truyền thông Nhã Nam và Nhà Xuất bản Văn hóa in và phát hành.  Nhà văn Brazil này đã tìm được NGỌC TRONG ĐÁ của chính mình hay đến vậy.

Tôi theo chân những người bạn lẫn thẩn, chưa ngộ nhận mình là minh triết phúc hậu nhưng  thích học, làm, dạy và viết. Tôi thích có được 365 CHUYỆN KỂ MỖI NGÀY. Đó là một sở thích rất riêng, chí thiện và không làm hại bất cứ ại cả, nếu thông tin ấy được chọn lọc rất kỹ như thợ đá tìm ngọc. Sản phẩm ấy sẽ quý như ngọc vì tốt cho trí tuệ sức khỏe của chính mình và cộng đồng khi lắng nghe sự minh triết.  Mỗi người chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong sự trường tồn và đi tới mãi của dân tộc, nhân loại nhưng tôi tâm đắc  và tôi tin lời Nguyễn Khải: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại“.“Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”

Cám ơn anh, cám ơn bạn, cám ơn người thân trong gia đình, nơi tôi yêu thương nhận ra ở họ những phẩm chất trí tuệ và CON NGƯỜI giúp tôi học, làm, dạy và viết, trở thành người thợ đá cần mẫn, học mỗi ngày làm người , tự mình tìm ra kho báu chính mình để trở thành NGƯỜI.

Ta tìm gặp bạn đường xa
Tưởng là thăm bạn hoá ra thăm mình
Đêm dài xoè một bình minh…

Cám ơn anh Phan Chi đã nói hộ điều muốn nói.

dauchanthoigian

BÀI THƠ VIÊN ĐÁ THỜI GIAN

Giáo sư tiến sĩ Ngô Kế Sương (người thứ ba bên trái qua hàng đứng ở trong ảnh) và các bạn lớp 1 trường Internat Moskva gặp nhau ngày 15-10-2016 ở nhà hàng ẩm thực Nga 60 Ngọc Khánh Hà Nội, ảnh Phan Chi. Câu chuyện vui có Đôi lời của thầy Ngô Kế Sương:  “Vấn đề của bạn là gì? Bạn không phán xét bất kỳ ai vì bạn biết rằng mỗi người đều có câu chuyện riêng của mình. Đó là lí do tại sao bạn thấy được điều tốt ở tất cả mọi người và không tin rằng bất kỳ ai có thể làm điều gì xấu xa một cách có chủ ý”.

Thầy Ngô Kế Sương là người Thầy sinh hóa sinh lý của nhiều thế hệ sinh viên, là chủ của một gia đình hạnh phúc, bố mẹ của nghệ sĩ nhân dân Hồng Vân, người có chùm ảnh đẹp và lời giới thiệu cực ngắn và thật hay: “Ba người đàn ông của cuộc đời tôi: “Bố – Chồng – Con trai; Cảm ơn Ông Trời đã ban cho tôi ba con người này. Love them for life !!!!”. Thầy có trang Face Book Ngoke Suong nói chuyện về sức khỏe trí tuệ thật nhân hậu. Thầy Sương thuộc thế hệ chuyên gia sinh học đầu tiên của nước Việt Nam mới, được đào tạo tại Liên Xô. Thầy dạy khối sinh viên Trồng trọt 2 Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh là lứa tuyển sinh thứ 2 sau ngày Việt Nam thống nhất. Tôi đã kể chuyện này trong Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời. Do sự yêu thích học để làm “nhà phù thủy sinh học”  nên tôi thực sự ngưỡng mộ những danh sư như thầy Đào Thế Tuấn, Mai Văn Quyền, Trịnh Xuân Vũ,  Ngô Kế Sương, Lê Văn Tố, Nguyễn Văn Uyển, Lê Doãn Diên, Chu Phạm Ngọc Sơn. … Câu chuyện “nhà giả kim” (The Alchemist) Ngọc lục bảo Paulo Coelho Ngọc trong đá là một sự liên tưởng thú vị.

BÀI THƠ VIÊN ĐÁ THỜI GIAN thoạt đầu là chuyện  đời thường nhưng, thầy bạn ơi, về cuối sẽ có ‘dấu hiệu’ thú vị, tại thời điểm thích hợp.

Hoàng Kim

Notes:

LƯU LẠI CÁC GHI GHÉP TẢN MẠN

Tôi sau này theo hướng chọn giống cây lương thực, cây thực phẩm (sắn, khoai, ngô lúa, đậu đỗ) và nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ thâm canh tổng hợp hệ canh tác cây trồng vật nuôi lấy lúa – hoa màu làm nền. Mục đích đời tôi nhằm chuyên sâu chọn tạo giống cây lương thực và xây dựng quy trình canh tác thích hợp bền vững để nâng cao năng suất chất lượng sản lượng và thu nhận đời sống cho các hộ nông dân. Mơ ước tuổi thơ đầu đời “thích làm nhà phù thủy cây lương thực” và các bài nông sinh học đầu đời thành hành trang quý cho tôi lập nghiệp. Lạ lùng thay ước mơ sống giữa thiên nhiên nhởn nhơ cùng thầy quý bạn hiền, chọn lưu lại những viên đá ngọc cứ ám ảnh suốt tôi.  Những lời nhắc như của  thầy Lê Văn Ký của chúng tôi  “Hồn Tổ quốc ngự giữa rừng sâu thẳm. Rừng điêu tàn là Tổ Quốc suy vong !”, về với ruộng đồng lại là điều mà tôi yêu thích hơn cả. Tôi đã được trãi nghiệm thăm thú qua hầu hết Vườn Quốc gia ở Việt Nam do sự yêu thích và những chỉ dấu này. Vườn Quốc gia ở Việt Nam, những chỉ dấu lịch sử văn hóa đất nước con người Việt Nam và Thế Giới, các danh lam thắng cảnh tôi thực sự hanm thích. Đó  là những quà tặng vô giá trên quê hương Việt Nam yêu dấu mà chúng ta may mắn được thừa hưởng, là những điểm đến du lịch đáng ao ước của cả đời người, các điểm nhấn bảo tồn thiên nhiên và di sản lịch sử văn hóa.

Bài thơ viên đá thời gian là câu chuyện tiếp nối  Ngọc phương Nam kho báu chính mình Tôi đang trở về vùng ký ức như nhân vật trong chuyện Ngọc lục bảo Paulo Coelho. Nơi đó tôi nhận ra thầy Ngô Kế Sương và nhóm bạn Nga cùng Victor Thắng, người viết Người đàn bà xa lạ” tác phẩm văn học  “50 năm nhớ lại”, Nhà Xuất bản Lao Động, năm 2016, trang 193-197, là người chụp hình không có trong ảnh.

 

hoahuyenvamaiviet

Chúng tôi cũng có câu chuyện của riêng mình. Nhà tôi Nguyễn Thị Thủy, nói với anh Hoa Huyền năm 2007: “Gia đình em có được ngôi nhà này cũng vất vả lắm. Nhà bắt đầu làm từ năm 1986 mãi cho đến năm 2003 sau 18 năm mới hoàn thành đấy anh à. Công việc nghiên cứu khoa học và thầy giáo nghề nông dành dụm được thế này là thật cố gắng”. Tôi có bài viết Hoa Huyền cùng với các trao đổi của thầy bạn.

dauchanthoigian2
GẶP BẠN ĐẦU XUÂN

Đầu xuân gặp bạn thật mừng vui
Rượu ngọt trà thơm sóng sánh mời
NƯỚC suối ban mai trong tựa ngọc
OANH vàng CÚC tím nắng xuân tươi.

MÂY TRẮNG quyện lưng trời lãng đãng
Thiên NGA từng cặp nhởn nhơ bay
Nhớ xưa CHIẾN SỰ vùng đất lửa
HÒA bình về lại Chứa Chan nay.

Sóng nhạc yêu thương lời cảm mến
KIM Kiều tái ngộ rộn ràng vui
Anh HÙNG thanh thản mừng “Xuân cảm”
“Đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi”.

Hoàng Kim

dauchanthoigian

9 NĂM LÀ BẤY NHIÊU NGÀY? anh Phan Chí Thắng viết: “9 năm trước, ngày 31 tháng 10 năm 2007, tôi cùng nhà văn Hoàng Đình Quang và nhà thơ Hoa Huyền đến thăm gia đình tiến sĩ nông học Hoàng Kim ở Dầu Giây. Ngày 18 tháng 10 năm nay (2016) tôi có dịp quay lại. Nhiều thứ đã thay đổi cùng thời gian, riêng tình bạn thì bền chặt hơn”.

Cám ơn tình bạn cao quý đã giúp tôi neo đậu Bài thơ Viên đá Thời gian, các ghi chép Phan Chí Thắng và Hoa Của Đất, Ngọc trong đá và phần đầu của Dấu chân thời gian. Trong bài Lương Định Của quê hương và dòng họ  tôi đã tâm đắc nhận thấy sự nuôi dưỡng của vùng đất lành Nam Bộ và sự chung sức của con người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam mà có được những vùng danh thắng như  Hà Tiên thập vịnh Mạc Thiên Tích. Tình bạn trân quý đã mang đến cho gia đình tôi nói riệng và cộng đồng nói chung  Lộc xuân cuộc đời.

TỪ LỀU THƠ THÀNH LẦU THƠ VĂN, Giáo sư Lê Văn Tố đùa vui ngợi khen nhóm bạn hữu chúng tôi đã bay qua giấc mơ, mỗi ngày tình bạn thêm bền chặt hơn, năng lượng ngày một dồi dào hơn và bài viết có vẻ ngày một chắc tay và đằm thắm hơn. Tôi cũng “bị” (được) nhà thơ Hoa Huyền, nhà báo Kim Loan với một số bạn thân khác cứ gọi bừa là ‘giáo sư’ trong khi tôi không hề bén được tới danh hiệu cao quý ấy. Tôi chỉ là hoa của đất đã trực tiếp làm thầy hướng dẫn của 5 tiến sĩ, 12 thạc sĩ, 98 kỹ sư nông học, có được 27 giống cây trồng tốt và 5 tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất, nhưng đó chỉ là sản phẩm một thời. Tôi đã viết bài thơ “Ước noi cụ Trạng ưa duyên thắm”  họa thơ Hoa Huyền

ƯỚC NOI CỤ TRẠNG ƯA DUYÊN THẮM

Hoàng Kim

Gửi Hoa Huyền

Tui chỉ mới là thuộc sách (TS) thôi.
Giảng sách (GS) xem ra chửa tới nơi.
Vui việc cứ LÀM chưa vội DẠY
Nói nhiều làm ít sợ chê cười.
Cổ điển  honda không biết chạy
Canh tân blog viết đôi bài
Quanh quẩn chỉ là ngô khoai sắn
Vô bờ biển HỌC dám đơn sai.

Ước noi cụ Trạng ưa duyên thắm
Nịnh vợ  không quên việc trả bài
An nhàn vô sự là tiên  đấy
Thung dung đèn sách, thảnh thơi chơi.

(Nguồn: Thơ cho con)

HoacuaDat999

HOA CỦA ĐẤT

Hoàng Kim

Bao năm Trường Viện là nhà
Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương
Một đời người một rừng cây
Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng…

NHÀ TÔI

(My Home, Hoàng Kim)

Trăng rằm, Hoa của Đất
Gốc mai vàng trước ngõ

Nhà tôi có chim về làm tổ
Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng

Thơ cho con, Ngọc cho đời
Đêm trắng và bình minh
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Minh triết sống thung dung phúc hậu

Linh Giang dòng sông quê hương
Đất mẹ vùng di sản
Đến chốn thung dung
Nhớ miền Đông,
Phan Thiết có nhà tôi

Dạo chơi non nước Việt
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng
Sông Thương,ta về trời đất Hồng Lam
Chút Huế cho em, Ngày mới, Ngày xuân đọc Trạng Trình

Giấc mơ hạnh phúc
Đầy đặn yêu thương
Ong và Hoa, Ngọc phương Nam
Tình yêu cuộc sống

DSC00738

Tôi đang đọc bài thì nhà tôi chạy vào: “Nấm ngon nhà mình nhiều quá ! kín cả dưới gốc bồ đề và vườn mai trước ngõ. Anh ra chụp ảnh đi, đẹp quá!” Tôi chạy ra. Trời, cơ man là nấm ngon trắng xóa đất. Đúng là nhà có lộc! Chúng tôi trồng nhiều cây bóng mát, không săn bắn nên nhà tôi có chim về làm tổ và dưới gốc cây có nấm ngon để ăn. Tôi gọi nấm ngon và người hiền là Hoa của Đất. Ai ao ước những chuyện cao siêu, chúng tôi thì ao ước sự bình an, yêu thương, làm người hiền “hoa của đất” và có nấm ngon để chén… Nấm ngon và người hiền là Hoa của Đất.

DSC00734

DSC00736

DSC00739

Nấm ngon vườn nhà tôi

Triết lý nhân sinh của gia đình tôi thật giản dị “Người khôn về chốn đông người. Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông. Ta vui ở lại ruộng đồng. Để gieo tục ngữ để trồng dân ca, Thỏa thuê cùng với cỏ hoa. Thung dung đọc sách nhẫn nha dọn vườn. Mặc ai tính thiệt so hơn Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng. Thiên nhiên là thú thần tiên, Chân quê là chốn bình yên đời mình. Bạn hiền bia miệng anh linh. Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian. Nước khơi ngập ánh trăng vàng. Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo. Lợi danh một thực mười hư. Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi. Thung dung thanh thản cuộc đời. Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm. Ta về hát khúc trăm năm. Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao“.

Tôi thích DẠY VÀ HỌC, TÌNH YÊU CUỘC SỐNG, thích lắng nghe đất trời , cổ vật và con người kể chuyện lịch sử văn hóa, thích dạy, học và thực hành những bài học minh triết, chí thiện, tải đạo, chứa đựng tinh hoa làm người và có năng lượng cao. Tôi thích câu chuyện cuộc đời và thơ văn của Trạng Trình, Nguyễn Du, Đào Duy Từ, Kim Dung hơn các nhà văn khác, tâm đắc với  Nguyễn Hiến Lê học và viết, Nguyễn Khải, ngọc cho đời và diễn từ của Mạc Ngôn “viết là cách nói tốt nhất”. Đời tôi vui sống thung dung vì chính mình: Hạnh phúc đối thoại triết học,  Minh triết sống thung dung phúc hậu, Ngọc phương Nam, Tình yêu cuộc sống, …

Dấu chân thời gian là câu chuyện nhà tôi, hoa của đất.

Hoàng Kim

(*) Notes của Hoàng Kim: Nguyễn Hiến Lê học và viết là trí tuệ bậc Thầy, ngọn đèn văn hóa, sao sáng trời Nam. Cuộc đời và di sản của danh nhân Nguyễn Hiến Lê là mẫu mực nhân cách người hiền còn mãi với thời gian. Trong “Lời mở đầu” tác phẩm “Đời viết văn của tôi” Nguyễn Hiến Lê đã viết: “Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời. Tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT”. Nguyễn Khải, ngọc cho đời cũng nói những lời thật tâm huyết: “Trên cuộc đời không có bước đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải vượt qua được những ranh giới ấy”.“Tôi viết vậy thì tôi tồn tại! Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”. Lắng nghe Mạc Ngôn kể chuyện, Mạc Ngôn cũng nói: “Đối với một tác giả, viết là cách nói tốt nhất”

Mạc Ngôn  là một trong ba nhà văn đương đại Trung Quốc mà tôi yêu thích và tôi đã viết ở DẠY VÀ HỌC – Kim Dung, Vương Mông, Mạc Ngôn: bạn thích ai? .Theo Mạc Ngôn: “Đối với một tác giả, viết là cách nói tốt nhất. Các bạn sẽ tìm thấy mọi điều tôi muốn nói trong các tác phẩm của tôi. Lời nói bị gió cuốn đi, còn những câu chữ đã được viết ra thì không bao giờ bị xóa bỏ. Tôi mong các bạn hãy kiên nhẫn đọc các cuốn sách của tôi. Tôi không thể ép buộc các bạn, và ngay cả khi các bạn làm như vậy thì tôi cũng không trông chờ các bạn thay đổi ý kiến về tôi. Chưa có tác giả nào, dù ở bất cứ nơi đâu, lại được mọi độc giả của mình yêu thích; điều đó đặc biệt đúng trong những lúc như thế này“.

Mạc Ngôn kể chuyện về mẹ, về đất mẹ, về sự hình thành và ra đời của tác phẩm lớn “Ngực lớn mông rộng” (“Báu vật của đời”). Ông đã kính tặng hương hồn mẹ, tác phẩm đỉnh cao đưa ông đến giải Nobel văn chương. Cuối diễn từ, Mạc Ngôn kể tiếp câu chuyện thú vị:

Xin vui lòng nghe tôi, chỉ một câu chuyện cuối nữa thôi, câu chuyện mà nhiều năm trước ông tôi đã kể cho tôi: Một nhóm tám người thợ xây ở ngoại thành đến trú bão trong một ngôi đền. Sấm ầm ầm bên ngoài, trút những quả cầu lửa xuống chỗ họ. Họ thậm chí còn nghe thấy cả âm thanh tựa rồng thét. Họ kinh hãi, mặt tái mét. Một người nói: “Trong chúng ta có một người nào đó hẳn là đã gây tội khủng khiếp đối với trời. Ai có tội thì tình nguyện bước ra nhận lấy hình phạt và cứu những người vô tội khỏi sự đau đớn”. Tất nhiên chẳng có ai tình nguyện. Cho nên một trong số bảy người còn lại đề nghị: “Vì không ai muốn bước ra, nên tất cả chúng ta hãy quăng mũ rơm của mình ra cửa. Mũ của ai bay qua cửa thì người ấy có tội, và chúng ta sẽ đòi người ấy bước ra và nhận lấy hình phạt của mình”. Thế là họ quăng mũ của mình ra cửa. Bảy cái bị thổi ngược vào trong, một cái bay ra ngoài. Một người bị buộc bước ra và nhận lấy hình phạt của anh ta, và khi anh ta không chịu, bảy người còn lại nhấc bổng anh ta lên và quẳng anh ta ra cửa. Tôi dám cá rằng các bạn đều biết kết cục của câu chuyện: Ngôi đền sụp xuống ngay sau khi anh ta bị quẳng ra khỏi cửa.” Tôi là một người kể chuyện. Kể chuyện đã giúp tôi có được giải Nobel văn học. Nhiều điều thú vị đã đến với tôi sau khi đuợc giải thưởng này, và chúng thuyết phục tôi rằng sự thật cũng như công lý vẫn tồn tại, vững vàng.

Vì thế trong thời gian tới tôi sẽ tiếp tục kể những câu chuyện của mình. Cảm ơn mọi người!”

 

Bài viết mới

Toni tình yêu cuộc sống

Lorain OhioKHÁT KHAO XANH. Toni sinh ở Lorain, Ohio, (ảnh Rona Proudfoot). Toni Morrison là ai? Em hãy đọc Toni Tình yêu cuộc sống. Chào ngày mới an lành. HK

Toni va Vietnam

TONI MORRISON NHÀ VĂN MỸ

Hoàng Kim

Toni Morrison, gọi tắt là Toni, tên khai sinh Chloe Anthony Wofford, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1931, là nhà văn nữ Mỹ gốc Phi, người thành phố New York, giáo sư Mỹ, phụ nữ đoạt giải Nobel Văn học năm 1993, giải Pulitzer năm 1988, nổi tiếng với các tác phẩm Tình yêu, Người yêu dấu, Bài ca Solomon, Mắt xanh.  Bà rất được kính trọng trong các phong trào quyền bình đẳng phụ nữ và thường phát biểu trong các đại hội của phụ nữ da đen. Tác phẩm của bà được dịch ra nhiều thứ tiếng và là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu. Morrison gọi Bill Clinton là “Tổng thống da đen đầu tiên”, vì bà cho rằng “Clinton phô bày hầu hết những nét đặc trưng của dân da đen: Một cậu bé gốc Arkansas, sinh ra trong một gia đình nghèo không cha, thuộc tầng lớp lao động, chơi kèn saxophone, và mê thức ăn McDonald”.

Toni Morrison là nhà văn tình yêu như tác phẩm mẫu mực mới đây của bà, một trong những biểu tượng văn hóa khát khao vươn tới. Đó là sự tôn vinh những giá trị đích thực của nhân loại: yêu thương con người, tôn trọng tự do, quan tâm bình đẳng giới, quan tâm người nghèo và những người kém may mắn.

Toni sinh ở Lorain, Ohio, là một thành phố thuộc quận Lorain, tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của thành phố này là 64.097 người. Toni là con thứ hai trong một gia đình công nhân da đen có bốn người con. Toni lớn lên cùng cuộc đại suy thoái những năm 1930 ở nước Mỹ. Bà sớm  bộc lộ niềm yêu thích văn học. Thuở nhỏ, bà học tiếng Latin, đọc các tác phẩm của văn học Nga, AnhPháp.

Jane Austen
AustenTolstoy  là bậc thầy thần tượng của Toni.  Austen (hình UTA) sinh ngày 16 tháng 12 năm 1775 mất ngày 18 tháng 7 năm 1817, là nữ văn sĩ Anh, tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng. Văn phong tuyệt kỹ trong nghệ thuật dẫn chuyện và xây dựng tình huống cùng với tầm cao văn hóa  xã hội đã đem tên tuổi Austen vào trong số những nhà văn nhiều ảnh hưởng và được trọng vọng nhất trên văn đàn nước Anh. Auten chưa bao giờ kết hôn nhưng có câu chuyện tình yêu lãng mạn với Tom Lefroy và thể hiện sâu sắc trong đời văn của mình. Austen đã ảnh hưởng sâu đậm đến phong cách văn chương của Toni.
Lev Tonstoy

Tolstoy là đại văn hào Nga với các kiệt tác Chiến tranh và hoà bìnhAnna Karenina, nhà viết tiểu thuyết vĩ đại nhất trong tất cả các nhà viết tiểu thuyết. Tolstoy sinh ngày  9 tháng 9 năm 1828 mất ngày 20 tháng 11 năm 1910  là nhà giáo dục, nhà triết học, nhà đạo đức, người theo chủ nghĩa nhân đạo, hoà bình,  nổi tiếng với tư tưởng đối kháng không bạo động, được thể hiện xuyên suốt các tác phẩm của mình, ảnh hưởng sâu đậm tới nhiều nhân vật danh tiếng của thế kỷ XX như Gandhi, Luther King, … và Toni.

Toni sau khi tốt nghiệp trung học loại ưu năm 1945 đã theo học ngành khoa học xã hội nhân văn tại trường Đại học Howard và hoàn thành chương trình cao học tại Đại học Cornell, sau đó làm giảng viên tại Đại học Texas, Đại học Howard và Đại học Yale. Biệt danh “Toni” có từ những ngày còn học ở đại học. Năm 1958 bà lấy chồng là Harold Morrison, có hai con là Harold và Slade. Sau năm 1964 bà sống độc thân và làm trợ lí biên tập cho nhà xuất bản Random House chuyên sách giáo khoa tiểu bang New York. Sau đó, bà trở thành biên tập viên chính, biên tập sách của nhiều nhà văn nổi tiếng từ năm 1967. Toni xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay “Mắt xanh” (The Bluest Eye) năm 1970, thu hút sự chú ý của công chúng Mỹ do sự mô tả sâu sắc cuộc sống và số phận của những người Mỹ gốc Phi. “Mắt xanh” nói về mơ ước của cô gái da đen ước mình có mắt xanh biểu tượng nét đẹp của người Mỹ da trắng, tác động sâu sắc đến sự thành kiến chủng tộc đang nhức nhối lương tâm nước Mỹ . Năm 1973, tiểu thuyết Sula của Toni trở thành sách bán chạy nhất và được trao Giải thưởng sách Quốc gia. Hai năm 1976 và 1977 bà dạy ở Đại học Yale và viết Bài ca Solomon (Song of Solomon), được trao Giải thưởng Quốc gia và Giải thưởng của Viện Hàn lâm Văn học và Nghệ thuật Mỹ. Toni từ năm 1989 giữ chức giáo sư Đại học Princeton, chuyên gia giảng dạy văn học Mỹ – Phi, thỉnh giảng và viết phê bình. Kể từ năm 1981, bà là thành viên Viện Hàn lâm Văn học và Nghệ thuật Mỹ, Viện Hàn lâm các Khoa học xã hội và Khoa học chính xác Mỹ. Bà đã nhận được nhiều giải thưởng văn học có uy tín, trong đó có giải Pulitzer năm 1988 cho tiểu thuyết Người yêu dấu (Beloved). Trong tác phẩm này, bà đã chỉ ra tác động kinh hoàng của kiếp nô lệ đến tình cảm của người mẹ. Câu chuyện của một phụ nữ da đen cho rằng thà tự tay giết chết con gái mình còn hơn phải đưa con đi làm nô lệ đã ám ảnh lương tâm nước Mỹ vừa phục hồi sau cuộc nội chiến, hướng tới giá trị nhân văn đa sắc tộc, tôn trọng quyền con người, quyền được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Tiểu thuyết “Người yêu dấu” đã thành công vang dội. Năm 1993, bà được nhận giải Nobel, trở thành người phụ nữ da đen đầu tiên được trao giả thưởng cao quý này. “Tình yêu” (Love)  là tiểu thuyết mới nhất của bà xuất bản năm 2003, rất được yêu thích và bà trở thành một trong những biểu tượng của văn hóa Mỹ.

Những tác phẩm chính của Toni Morrison gồm có:

  • The Bluest Eye (Mắt xanh, 1970), tiểu thuyết
  • Sula (1973), tiểu thuyết
  • Song of Solomon (Bài ca Solomon, 1977), tiểu thuyết
  • Tar Baby (Thủy thủ nhóc, 1981), tiểu thuyết
  • Dreaming Emmett (Giấc mơ em, 1986), kịch
  • Beloved (Người yêu dấu, 1987), tiểu thuyết
  • Jazz (Nhạc Jazz, 1992), tiểu thuyết
  • Playing in the Dark (Chơi đêm, 1992), tiểu luận
  • Racing Justice (Thi đua công bằng, 1992), tiểu luận
  • Paradise (Thiên đường, 1998), tiểu thuyết
  • The Big Box (Chiếc hộp lớn, 2000), truyện thiếu nhi
  • The Book of Mean People (Sách đời thường, 2001), truyện thiếu nhi
  • Love (Tình yêu, 2003), tiểu thuyết.

Nguồn chính thông tin về Toni Morrison trên Wikipedia tiếng Việt, Literary Encyclopedia biography, Voices from the Gaps biography, The Nobel Prize in Literature 1993,  Toni trên thế giới tiếng Anh quá nổi tiếng, đặc biệt với Tình Yêu (Love), Người yêu dấu (Beloved), Bài ca Solomon (Song of Solomon), Mắt xanh (The Bluest Eye). Toni ở Việt Nam là khát khao xanh chờ đợi của tôi và bạn đọc Việt, mong muốn được thưởng thức các bản chuyển ngữ uy tín, danh tiếng để người Việt được lắng đọng và chia sẻ tầm tư tưởng nhân văn cao vọi cùng với nghệ thuật văn chương bậc thầy của một nhà văn lớn đương đại. Người Việt mở rộng cửa giao lưu văn hóa nhìn ra thế giới.

 

Hoàng Kim
(bài đã đăng trên KHÁT KHAO XANH, DẠY VÀ HỌC)

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNGChucmungNammoi

CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Huyền Trang và tháp Đại Nhạn

HuyenTrangThapDaiNhan
CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày.

Huyền Trang và tháp Đại Nhạn

Hoàng Kim

Huyền Trang (玄奘) tên thật là Trần Vỹ, sinh năm 602 (hoặc 596?) thời Tùy Văn Ðế Dương Kiên, tại huyện Câu Thi, hiện là huyện Yêm Sư, tỉnh Hà Nam, mất ngày 5 tháng 2 năm 664 tại Ấn Đài, Thiểm Tây, Trung Quốc; Huyền Trang là một trong những người Thầy vĩ đại nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, nhà dịch thuật kinh điển Phật Giáo rất nổi tiếng, là nguyên mẫu Đường Tam Tạng đã được tiểu thuyết hóa trong tác phẩm “Tây Du Ký”, là người cùng thời với vua Đường Thái Tông  Lý Thế Dân.
HuyenTrang5

Năm 629 sư Huyền Trang xuất phát từ Trung Quốc hành hương sang đất Phật, năm 630 thì đến nơi, năm 645 quay về Trung Quốc. Huyền Trang đích thân mang kinh Phật về (1) và chủ trì dịch thuật thành 75 bộ kinh luận Phật Giáo với 1335 quyển, thực hiện liên tục trong suốt 19 năm với quy mô to lớn và chất lượng dịch thuật rất cao. Huyền Trang cũng là tác giả của bộ “Ðại Ðường Tây Vực Ký” 12 quyển có giá trị đặc biệt về địa lý, văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ và du lịch. Cao tăng Huyền Trang đồng thời cũng đào tạo một hệ thống tăng sĩ về Duy thức và Nhân minh Ấn Độ, là Quốc sư của triều đình. Người đã chấn hưng Phật Giáo và mang lại hiển vinh cho lịch sử Trung Quốc.

DuongHuyenTrangThapDaiNhan

Tháp Đại Nhạn là một tháp ở thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc được xây năm 652 trong thời kỳ của Đường Cao Tông (trị vì 649-683), lúc đó tháp có 5 tầng cao 54 m dùng để chứa bản dịch Kinh phật của Đường Tam Tạng. Tháp đã được xây lại năm 704 trong thời Võ Tắc Thiên, bề mặt ốp gạch được trùng tu vào thời nhà Minh (1368–1644) và được phụ chế vào năm 1964. Hiện tại tháp cao 64 mét. Từ đỉnh tháp có thể nhìn bao quát thành phố Tây An.

ThapDaiNhan1

Đi dưới vùng  trời minh triết của tháp Đại Nhạn lắng nghe cỏ cây và cổ vật kể chuyện.

HuyenTrang1

HuyenTrang2

Ngôi am cổ tự kia và phiến đá này còn lưu dấu vết tích của một vị chân tu.

DuongTamTangThapDaiNhan
Tháp Đại Nhạn và quần thể kiến trúc này tính đến nay đã ra ngoài ngàn năm.

DoiQuanDatNungTayAn
Ở Tây An còn có “đội quân đất nung của Tần Thủy Hoàng” với biết bao kỳ bí khác. Thế nhưng ấn tượng sâu sắc nhất trong tôi đối với Tây An vẫn là Huyền Trang với tháp Đại Nhạn. Đó là bài học lịch sử văn hóa nhân văn thật sâu sắc.

Huyền Trang và Tháp Đại Nhạn, một vùng di sản thiêng liêng thật đáng khâm phục.

Hoàng Kim

 

locxuan

ĐẠI ĐƯỜNG TÂY VỰC KÝ

Bu Lu Khin  Nguyễn Quốc Toàn.

Những ai đã đọc Tây Du kí hoặc xem phim Tôn Ngộ Không, hẳn không thể quên được nhân vật Đường Tăng. Nhưng đấy là Đường Tăng do nhà văn Ngô Thừa Ân dựa vào ông Đường Tăng có thật thời nhà Đường để hư cấu nên. Ngài Đường Tăng thật tên là Trần Vĩ còn gọi là Trần Huyền Trang ở tỉnh Hà Nam, sinh năm 600 thời nhà Tùy, mất năm 644 thời nhà Đường. Mới 13 tuổi ông đã xuất gia, 20 tuổi thọ Cụ túc giới. Ông say mê nghiên cứu Phật học và nhận thấy các bản kinh dịch ra tiếng Trung Quốc thời bấy giờ nhiều chỗ chưa rõ nghĩa nên lập chí đến Ấn Độ lưu học. Ông đã đi qua 138 nước và ghi lại thật đầy đủ địa hình, sông núi, quan phòng, thành trì, đường sá, giao thông, tập tục, phong thổ, khí hậu , sản vật, văn tự, ngôn ngữ, chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo của nhiều quốc gia vùng Trung á, Nam á, cùng với không ít các truyền thuyết cố sự Phật giáo. Sau 17 năm đèn sách tu tập, đến năm Trinh Quán thứ 9 triều Đường ông về nước mang theo 657 bộ kinh. 19 năm tiếp theo, ông chuyên tâm dịch kinh phật từ chữ Phạn ra chữ Hán. Tuyệt đại đa số các bản kinh chữ Hán của ngài Huyền Trang được Việt dịch lưu tuyền cho đến ngày nay.
Bu tui không có tham vọng giới thiệu toàn bộ tập sách vĩ đại “Đại Đường Tây Vực ký” mà chỉ trích đăng vài câu chuyện dân gian trong đó, ngõ hầu giúp các bạn mua vui khi trà dư tử hậu vậy.

1- CHUYỆN Ở NƯỚC KHUẤT CHI

Người dân Khuất Chi kể rằng, ngày xưa có một ông vua tôn sùng Tam Bảo (1) muốn vân du các nơi để thăm viếng và hành lễ các Phật tích, bèn giao quyền cho người em ruột, lo việc triều chính, cai trị đất nước. Ngày vua lên đường người em dâng lên ngài một chiếc hộp bằng vàng. Nhà vua hỏi
– Làm vậy là ý gì?
– Khi bệ hạ hồi giá sẽ mở ra xem.
Nhà vua nhận hộp vàng và giao cho quan hầu cận cất giữ cẩn mật. Khi trở về hoàng cung vua nghe có người tâu rằng: Bệ hạ đi vắng giám quốc dâm loạn trong cung. Nhà vua nổi cơn thịnh nộ, tính trị tội người em thật nặng, người em thưa:
– Mong Bệ hạ mở hộp ra xem, nếu thần có tội thì xin cam chịu mọi hình phạt, quyết không than phiền.
Nhà vua mở hộp ra xem thấy một khúc dương vật.
– Thật là quái dị. Ngươi giải thích thế nào đây ?
– Trước đây, Bệ hạ vân du, giao thần làm giám quốc, thần lo sợ gặp tai họa. nên tự cắt của quý của thần để sau này có vật chứng minh oan. Nay quả xẩy ra việc xin Bệ hạ minh xét.
Nhà vua nghe xong nể phục người em bội phần, lại càng thêm yêu mến, cho ra vào cung cấm tự do thoải mái.
Về sau người em đi trên đường gặp một đoàn 500 con bò đang bị lùa đến lò mổ giết thịt. Ông ta động mối từ tâm tự nhủ thầm “sao ta không cứu giúp lũ bò vô tội , gây dựng điều từ thiện, tạo nghiệp cho kiếp sau”, rồi bỏ tiền ra mua cả đàn bò để chúng khỏi bị giết thịt. Cái tâm đại từ bi ấy đã gây nên sức mạnh siêu phàm, dương vật mọc lại như cũ.
Từ khi phục hồi khả năng đàn ông, người em không ra vào cung cấm nữa. Nhà vua lấy làm lạ không hiểu vì lý do gì, bèn hỏi em. Người em cứ sự thật bẩm báo đầu đuôi gốc ngọn. Nhà vua cho là chuyện ly kỳ. bèn xây một ngôi chùa để biểu dương câu chuyện cảm động ấy, lưu lại cho hậu thế.
————–
(1) Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng.

2- CHUYỆN Ở NƯỚC BÀ LA NI TƯ

Ở một khu rừng có tòa Phật tháp nước Bà La Ni Tư -, nơi ngày xưa Đức Như Lai là vua Nai (ngài dùng phép thần thông biến hóa ra). Bấy giờ trong khu rừng có hai đàn nai, mỗi đàn hơn 500 con. Vua nước ấy đang đi săn, Bồ tát vua Nai cầu xin vua:
– Ngài đi săn muốn bắn bao nhiêu cũng được. Lũ chúng tôi thuộc sở hữu của ngài, cũng phải chịu chết thôi. Nhưng chết rồi cơ thể chúng tôi sẽ mục rửa hôi thối, vì ngài đâu ăn cho hết. Chúng tôi chịu cung cấp mỗi ngày một con nai cho ngài, ngài có thịt tươi, bọn chúng tôi cũng được kéo dài tuổi thọ. Nhà vua chấp thuận ý kiến vua Nai, bãi bỏ cuộc đi săn trở về cung. Hai đàn nai cũng giữ lời hứa mỗi ngày thay phiên nhau cung cấp cho nhà vua một con nai. Trong đàn nai nọ có một con đang mang thai, lần đó đến lượt nó phải chịu chết, nai đau đớn nói với vua Nai:
– Đúng là đến phiên tôi phải chịu chết nhưng con tôi đâu đã đến phiên!
Vua Nai giận mắng:
– Ai mà không biết quý sinh mệnh
Con nai than thở:
– Vua ta không có lòng nhân từ. Mẹ con mình không sống được bao lâu nữa rồi.
Vua Nai nói:
-Ta hiểu nỗi lòng người mẹ mong cho đứa con trong bụng lớn lên để rồi thành chú nai mạnh khỏe sống giữa đời. Thôi! ta quyết định đi chết thay cho nhà ngươi.
Nói rồi vua Nai đi thẳng đến hoàng cung vua ở, vua tiếp vua Nai và hỏi:
– Có việc gì vậy
Vua Nai đáp:
– Có một con nai cái đến phiên bị giết song nó đang mang thai chưa đến kỳ sinh nở, tôi thấy bất nhẫn nên lấy thân mình thay cho nó.
Nhà vua nghe thế bèn than:
– Ta là thân người mà bụng thì nai, còn người thân nai mà bụng là người.
Từ đó nhà vua bãi bỏ lệnh giết hại đàn nai, dùng khu rừng ấy cho đàn nai ở nên gọi là rừng Thí Lộc.

(theo đúng bản gốc của tác già trên FB)

______

Xem thêm:

SỰ THẬT VỀ THẦY TRẦN HUYỀN TRANG TỨC “ĐƯỜNG TAM TẠNG”
ĐI TÂY THIÊN LẤY KINH

Nguồn:    Sự thật về Thầy Trần Huyền Trang tức “Ðường Tam Tạng” đi Tây Phương thỉnh kinh
bài viết của học giả Vương Hồng Sến đăng tại Đặc San Quán Thế Âm, số 2, 1995. Quán Thế Âm Ni Tự, 128 Nollamara Avenue, Nollamara, WA, 6061, Australia, như sau:

“Mọi người Việt Nam chúng ta, ai ai cũng đã từng được nghe kể lại, hoặc đọc truyện Ông Ðường Tam Tạng đi Tây phương thỉnh kinh trong truyện Tây Du Ký Diễn Nghĩa. Trong lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc, bộ Tây Du Ký Diễn Nghĩa có cái đặc điểm ngộ nghĩnh là trẻ nhỏ đọc thì mê theo trẻ nhỏ; người lớn đọc thì lại say sưa theo người lớn. Trẻ nhỏ thì thích Tây du diễn nghĩa thần thông quảng đại, có bảy mươi hai phép biến hóa, Có Trư Bát giới chọc cười duyên dáng …. Còn người lớn thì say mê vì những ý nghĩa thâm trầm, trào lộng.

So vớí các bộ tiểu thuyết danh tiếng khác như Hồng Lâu Mộng, Thủy Hử v..v… phạm vi phổ biến của Tây Du diễn nghĩa còn rộng hơn nhiều. Căn cứ theo bộ truyện Tây du diễn nghĩa, thì thầy trò Tam tạng gồm bốn người (Tam tạng, Ngộ không, Ngộ năng, Ngộ tịnh) và một con ngựa (bạch mã) tướng tinh là rồng mắc đọa. Cả đoàn đi qua Tây phương ròng rã 14 năm trời, khi thỉnh được kinh trở về có tám vị Kim Cang đằng vân theo hộ tống đưa về Trường an, vừa khứ hồi trở lại Tây phương cõi Phật chỉ mất có tám ngày vãng phản. Truyện kể bốn thấy trò và một ngựa ngày đêm vượt rừng trèo núi, gặp yêu dẹp yêu, gặp phước làm phước, gian nan không sờn, tử sanh chẳng nệ, trải qua tám mươi mốt nạn lớn, nào là Bàn Ty động quyến rũ, nào là Hỏa diệm sơn đỏ hực, Tiểu lôi kinh khủng v..v… mới đến được Tây phương.

Trong truyện vì làm việc của Tam Tạng là khó, không ai làm được, nên muốn cho dân chúng dễ tin, phải thêm thắt và thi vị hóa cuộc hành trình bằng bao nhiêu yêu tinh đón đương, lớp đòi ăn thịt Ðường Tăng, lớp cám dỗ (chuyện bảy con nhện cởi truồng tắm sông có Bát giới tắm hùa, còn khêu gợi gấp mấy chuyện ngày nay in hình khiêu dâm). Thực sự, Tây du diễn nghĩa là một bộ truyện thần thoại, hầu hết sự kiện, tình tiết đều là bịa đặt.

Nhưng chuyện thầy Trần Huyền Trang (Tam Tạng) đi từ Ðông Ðộ qua thỉnh Kinh Tây Phương lại là chuyện lịch sử có thật. Trần Huyền Trang là một nhân vật có thật trong lịch sử nhà Ðường. Ông tên thật là Trần Vỹ, sanh vào năm thứ 16 đời Tùy Văn Ðế Dương Kiên (596 sau Tây lịch) tại huyện Câu Thi (hiện là Huyện Yêm Sư) Tỉnh Hà Nam. Và chuyện thỉnh kinh Tây Phương cũng là chuyện có thật, đã được chính Huyền Trang thuật lại rất cặn kẽ trong bộ “Ðại Ðường Tây Vực Ký”. Thầy chính là một nhân vật sống đã vào lịch sử một cách vinh quang. Thầy từng làm tôi cho vua Ðương Thái Tôn (Lý Thế Dân) là bậc minh quân đem lại hiển vinh cho lịch sử Trung Quốc.

Sự thực thầy Huyền Trang chỉ đi một mình, cỡi một con ngựa già làm chân. Ông đi và ở suốt 17 năm bên Tây phương, gồm 2 năm đi, 2 năm về và 13 năm ở lại du học tại Ấn Ðộ. Ði từ năm 629 mãi đến năm 645 (sau Tây lịch) mới về đến thành Trường an (Trung quốc). Tính ra Huyền Trang đã rời Ðại Ðường đến 17 năm, đi trên năm vạn dặm đường, qua 128 quốc gia lớn nhỏ. Khi về, ông đã mang về:

– 150 Xá Lợi tử ( Tinh cốt của Như Lai).
– 2 tượng Phật gỗ đàn tô ngân cao 4 thước
– 3 Tượng Phật bằng đàn hương : Cao 3th5, 2th9, 2th3
– 657 bộ Kinh, chia làm 520 hiệp
– Cùng một số bảo vật khác nữa. và phải dùng voi, lạc đà và 24 ngựa mới chở hết.

Trên thực tế, đường đi không có gặp yêu tinh cản trở (có chăng là bọn mọi dữ thích ăn thịt người) nhưng những khó khăn trở ngại cản trở lẫn vật chất và tinh thần lại hết sức nhiều và lớn, nếu là người khác ắt vô phương vượt khỏi. Có lúc Thầy Huyền Trang nhịn đói nhịn khát suốt bảy tám ngày ròng rã giữa một trảng sa mạc trời nắng chang chang, không một bóng cây, cũng không một bóng người qua lại. Nhưng ý chí của Thầy thật là sắt đá. Có lần đói khát khổ quá, bụng tính quay trở về phía đông để tìm chỗ xin nước uống đem theo rồi sẽ đi nữa, nhưng vừa quày ngựa trở về hướng đông đi đặng một đỗi đường thầy lại tự nhủ: “Trước kia, đã thề nếu qua không đến Ấn Ðộ, quyết không trở về Ðông một bước. Nay thà đi về hướng Tây mà chết, chớ lẽ nào đi về Ðông để sống hèn”.

Một lần khác, thầy gặp bọn mọi ăn thịt người (Tức bọn yêu tinh kể trong truyện Tây Du). Thầy Tam Tạng sẵn lòng hiến thân cho bọn quỷ khát máu ấy. Nhưng giữa lúc bàn tính, xảy có mưa to sét lơn. Bọn người rừng kinh sợ vì cho rằng trời không bằng lòng. Chúng lật đật giục thầy lên đường, nhưng thầy khăng khăng một mực nài bọn kia: hoặc hãy “ăn thịt Thầy” nếu quả thật thầy có phép làm cho bọn nó sống lâu muôn tuổi, hoặc nếu bọn chúng muốn cho thầy lên đường thì phải ăn năn sám hối, chừa thú tánh, chừa ăn thịt người từ đây. Và rốt cuộc Tam Tạng cải hóa được bọn chúng. Hơn một ngàn ba trăm năm trước đây dám một người một ngựa vượt suối trèo non, băng sa mạc, càn rừng sâu đi đến xứ Ấn Ðộ huyền bí xa xăm, Trần Huyền Trang quả là một nhà du thám vĩ đại trong lịch sử. Kỳ công đó, tinh thần nghị lực đó, người đời sau không thể không nghiêng mình bái phục.

Trong thời gian mười ba năm lưu trú tại Ấn Độ, thầy đi viếng hầu hết các di tích của đạo Phật, đặc biệt nhất là thầy ở lại chùa Na Lan Ðà, học đạo trong sáu năm. Tất cả những kinh điển của phái Ðại Thừa, Tiểu Thừa, Kinh Phệ đà (Veda), các sách thuốc, sách thiên văn, địa lý, kỹ thuật v v… đều tập trung tại chùa này. Chùa do pháp sư Giới Hiền chủ trì và pháp sư có đến trên mười ngàn tín đồ theo học đạo.

Sau sáu năm học tập, Huyền Trang trở nên một trong ba người học trò giỏi nhất của vị cao tăng Giới Hiền. Theo sách khảo cứu Pháp văn, chẳng những là một nhà sư đạo đức, Huyền Trang còn tỏ ra là một học giả uyên thâm, một nhà du thám kỳ tài, một nhà sử học uyên bác, một nhà địa lý học chơn tài, một nhà ngôn ngữ học xuất chúng, nhứt là một nhà phiên dịch giỏi không ai bằng. Lúc còn ở Tây Phương, đi đến đâu, thầy cũng nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình từng địa phương. Khi về Trường an, thầy viết lại thành bộ Ðại Ðường Tây Vực Ký, gồm 12 quyển, trong ấy ghi lại đầy đủ lịch sử, địa lý, phong tục, tập quán v.v. của 128 nước đã trải qua hoặc từng trú ngụ. Ngày nay, những tài liệu của Thầy để lại vẫn còn giúp ích rất nhiều cho các chuyên gia khảo cổ Ấn Ðộ và bất kỳ ai ngày nay cũng công nhận những điều nghe thấy và ghi chép của Thầy Huyền Trang rất là đích xác.

Từ ngày về Trường an, thầy Huyền Trang bắt tay vào công việc phiên dịch. Suốt mười chín năm ròng rã (từ 645-644) thầy dịch được tất cả bẩy mươi lăm bộ kinh, gần một ngàn ba trăm ba mươi lăm quyển từ Phạn tự dịch qua Hán tự và một bộ (Ðạo Đức Kinh) và một bản dịch “Ðại Thừa khởi tín luận” từ chữ Hán ra chữ Phạn, cùng để lại cho đời một bộ “Ðại Ðường Tây Vực ký” .

Trưa ngày mồng 5 tháng 2 năm 664, Thầy Huyền Trang gác bút nghìn thu tại chùa Ngọc Hoa, vì bịnh hoạn và già yếu. Thọ 69 tuổi. Ngày 14 tháng 4 thi hài Huyền Trang được an táng tại Bạch Lộc Nguyên. Ngày cử hành tang lễ có đến một triệu ngườì ở Trường An và các vùng lân cận qui tựu để tiễn chân thầy về nơi Cực Lạc. Ðám táng xong, có đến ba vạn người cất lều cư tang gần mộ phần. Từ xưa đến nay chưa có vị đế vương nào được ngưỡng mộ sùng bái bằng vị Thánh Tăng có một không hai này.”

(2) Lược sử về ngài Trần Huyền Trang, bài viết của TS. Huệ Dân ngày 31 tháng 1 năm 2011, đăng trên Đạp Phật ngày nay.

(3) Thiền sư Khương Tăng Hội, sơ tổ thiền tông Việt Nam và Trung Hoa, người có cha Ấn và mẹ Việt, xuất gia rất sớm và trụ trì ở Luy Lâu (Bắc Ninh ngày nay) và Kiến Nghiệp Đông Ngô (Nam Ninh ngày nay) vào thế kỷ thứ III trước cao tăng Huyền Trang khoảng 300 năm. Không rõ Thiền sư Khương Tăng Hội đã đến Tây An và Yên Kinh chưa?

(4)  Đại Đường Huyền Trang 2015 là phim mới. Đại Pháp Sư Huyền Trang là phim tài liệu đã cung cấp một góc nhìn tham chiếu.


Đại Đường Huyền Trang 2015

Đại Pháp Sư Huyền Trang

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG


Chúc mừng Năm mới 2016 vui khỏe hạnh phúc

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Tổng thống Obama lời nhắn sau cùng

 Obama1

CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày. Tổng thống Obama lời nhắn sau cùng. Tổng thống Barack Obama đọc Thông điệp Liên bang cuối cùng trong nhiệm kỳ của mình trước lưỡng viện Quốc hội Mỹ vào lúc 21h ngày 12/1/2016 (giờ Mỹ), tức 9h sáng 13/1/2016 giờ Việt Nam. Vị tổng thống này và bài viết này, tôi tin rằng, sẽ có nhiều người còn đọc lại. Sáu điểm nhấn đủ chuyển tải một thông điệp mạnh mẽ. Cảm ơn Obama.

Obama2
Obama3
Obama4
Obama5
Obama6

Bản tiếng Anh và tiếng Việt nguồn từ http://soha.vn và chọn đăng lại tại đây .

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Lòng son chiếu sử xanh

NgayHSSV

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày. Lòng son chiếu sử xanh.  Ngày 9 tháng 1 là Ngày truyền thống học sinh, sinh viên Việt Nam, là ngày tưởng niệm nêu cao tinh thần học sinhsinh viên. Ngày 9 tháng 1 năm 1950Trần Văn Ơn, một học sinh Việt Nam trường Pétrus Ký (sinh năm 1931) đã bị chính quyền Pháp nổ súng bắn chết trong phong trào biểu tình của học sinh sinh viên Sài Gòn. Cuộc biểu tình này nhằm hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh chống thực dân Pháp, bảo vệ nền Cộng hoà non trẻ. Ngày 9 tháng 1 năm 1283, nhằm ngày 8 tháng 12  năm Nhâm Ngọ, là ngày mất của Văn Thiên Tường, anh hùng dân tộc, tể tướng và nhà thơ nổi tiếng triều Tống, Trung Quốc, tác giả của hai câu thơ “Xưa nay hỏi có ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh“. Câu chuyện về họ rạng ngời trong lịch sử. (xem tiếp…)

Hãy đi về phía mặt trời
Lên đường đi em
Bình minh đã rạng
Hãy đi về phía mặt trời ! (xem tiếp)

HoangKim999
Hoàng Kim

Video yêu thích
Chào ngày mới. Hãy đi về phía mặt trời
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Tự nguyện tiếng Anh cho em

TuNguyen
KHÁT KHAO XANH. Tự nguyện tiếng Anh cho em. Mời các bạn thưởng thức bài hát “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh và bốn bản dịch lời Việt của bài hát này thành lời Anh của Nguyễn Thị Tuyết Hợp, Nguyễn Thị Bích Nga, Nguyễn Đức Toàn và Cúc Hoa; với sự thể hiện của bốn nghệ sĩ  Bích Liên, Hồ Quỳnh Hương, Thanh Thúy, Nhật Thủy.

Bài hát “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh có lời Việt thật ngọt ngào và lời thơ Anh chuyển ngữ khá sát nghĩa. Tôi đặc biệt thích thú bài hát song ngữ này vì sự tự nguyện của bốn người bạn cùng chung sức chuyển tải ngôn ngữ Việt ra tiếng Anh, với những điều cảm động sâu xa trong lời thơ hay đến mức nao lòng và vì sự dễ nhớ, dễ học cách chia động từ tiếng Anh:

“Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng / Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương/ Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm/ Là người, tôi sẽ chết cho quê hương” (If a bird, I would be a white pigeon/ If a flower, I would be a sun flower/ If a cloud, I would be a warm cloud/ A man, I will die for our country …).

Trong nguyên bản, lời thơ viết về sự hi sinh trong chiến đấu “Là người, xin một lần khi ngã xuống / Nhìn anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.” nay trong thời bình, chúng ta ước khi mình nằm xuống cũng là lúc trỗi dây của một thế hệ mới “Là người, xin một lần khi nằm xuống/ cùng anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.” (Being a man, before we die/ We’ll stand up with you raise highly the flag).   Hoàng Kim.

TỰ NGUYỆN
Nhạc và lời: Trương Quốc Khánh

Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm
Là người, tôi sẽ chết cho quê hương

Là chim, tôi sẽ cất cao đôi cánh mềm
Từ Nam ra ngoài Bắc báo tin nối liền
Là hoa, tôi nở tình yêu ban sớm
Cùng muôn trái tim ngất say hoà bình

Là mây, theo làn gió tung bay khắp trời
Nghìn xưa oai hùng đó tôi xin tiếp lời
Là người, xin một lần khi ngã xuống
Nhìn anh em đứng lên phất cao ngọn cờ.

Voluntariness

TỰ NGUYỆN Nhạc và lời : Trương Quốc Khánh
Translation by Nguyễn Thị Tuyết Hợp

If a bird, I would be a white pigeon.
If a flower, I would be a sun flower.
If a cloud, I wold be a warm cloud.
A man, I will die for our country.

Being a bird, I would raise the soft wings
From South to the North, all news are joined.
Being a flower, I effloresce the early love
With all the hearts are enthralled the peace.

Being a cloud, with the wind I fly all the sky.
There’s been a superb millenary, today we’ll be catenary.
Being a man, before we die
We’ll stand up with you raise highly the flag.

THE VOLUNTEER

TỰ NGUYỆN Nhạc và lời : Trương Quốc Khánh
Translation by Nguyễn Thị Bích Nga (*)

(*) Góp ý chỉnh sửa của Nguyễn Thị Bích Nga: Anh Hoàng Kim thân mến.  Đây là bản chuyển ngữ tiếng Anh mà Bích Nga có sửa đổi vài chỗ (dựa theo bản chuyển ngữ tiếng Anh “gốc” của cô Tuyết Hợp) để chúng ta cùng HÁT với nhau nghen. Bích Nga đã hát thử nhiều lần rồi, hì hì, thấy cũng tạm được, 😀

If a bird, I would be a white pigeon.
If a flower, I would be a sun-flower.
If a cloud, I would be a whole warm cloud
A human, I will die for my country.

A bird, I would rise high my soft wings
From South to the North, I give good news.
A flower, I blossom the early love
With all the hearts enthralled by the peace.

A cloud, I would fly to all the sky
To follow our heroic history
A human, just once before I die
With my brothers, standing, raising the flag

THE VOLUNTEER

TỰ NGUYỆN Nhạc và lời : Trương Quốc Khánh
Translation by Nguyễn Đức Toàn (**)

(**) Tiếp theo NDT xin phép tự chỉnh chút ít để các thày cô tham khảo:
Following the self-adjustment provisions applying to the teachers little reference

As a bird, I should be a white pigeon.
As a flower, I should be the sun-flower.
As a cloud, I should be a warming cloud
As a man, I would die for my homeland.

As a bird, I should rise high my soft wings
From South to the North, I’d bring good news.
As a flower, I’d blossom the early love
With all the hearts enthralled by the peace.

As a cloud, with the wind I’d fly to the sky
To follow our heroic history
As a man, I wish if I’d fall down
Still see brothers stand to raise the flag.

 

THE VOLUNTEER

TỰ NGUYỆN Nhạc và lời : Trương Quốc Khánh
Translation by Cúc Hoa (***)

(**) Cúc Hoa đóng góp bản dịch

If I were a bird , I would be a white dove
If I were a flower , I would be a sunflower
If I were the cloud , I would be the warm one
If I were a man , I would die for my mother land

Being a bird , I will spread out my gentle wings
Fly from the North to the South to inform the connection
Being a flower, I will bloom in the loving morning
With all other boisterous hearts in the peace

Being the cloud, I will follow the wind to go through the sky
To continue those thousand majestic words
Being a man, there is only 1 wish when lying down
That is to see my brothers stand up and wave highly our flag.


TỰ NGUYỆN (NSUT Bích Liên)

Video thể hiện lời Việt của bài hát


Tự Nguyện – Hồ Quỳnh Hương


Tự nguyện (60 năm ngày truyền thống Học sinh, Sinh viên) – NSƯT Thanh Thúy


Tự nguyện – Nhật Thủy – Vietnam Idol Gala Trao Giải chung kết

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

Quà tặng cuộc sống

HoaHong
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Nhiều cấp phó? là  bài viết hay của giáo sư Nguyễn Lân Dũng đăng trên blog Nguyễn Lân Dũng  trả lời phỏng vấn của phóng viên VOV.VN. Khí phách Trần Quang Cơ là tin đọc nhiều nhất trên BBC Tiếng Việt nêu bật phẩm chất tử tế đã làm Trần Quang Cơ thành danh trong chiến cuộc ngoại giao mà suốt đời ông phụng sự một cách tận tụy. Như là có nhau là bài thơ hay của Huỳnh Mai do nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo tuyển chọn và giới thiệu được blog Khát khao xanh đăng lại và bổ sung hình ảnh tư liệu. Đêm nhớ là nén tâm hương tưởng nhớ với nhạc tuyển của hai nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu và Phan Nhân. Chào ngày mới 30 tháng 6 an lành.

NHIỀU CẤP PHÓ ?

Nguyễn Lân Dũng

PV: Thảo luận về Dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi), có ý kiến cho rằng, theo Thông tư hướng dẫn của Bộ Nội vụ quy định Sở không quá 3 Phó Giám đốc nhưng hiện có tới 4-5. Khi có ý kiến thì họ nói Trung ương quy định không quá 4 Thứ trưởng nhưng thực tế có 6-7. Luật đúng nhưng làm không nghiêm, trên sai một ly dưới đi một dặm và nếu không khắc phục thì “nhờn” luật, GS nhận định thế nào về ý kiến này?

GS: Việc thông qua một Luật cần thật thận trọng vì nó liên quan đến toàn dân, đến thể chế của chế độ. Vì vậy các đại biểu Quốc hội phải nghiên cứu kỹ lưỡng, phải gắng sức tham khảo nhiều chuyên gia và cử tri có hiểu biết pháp luật trước khi biểu quyết.
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vừa mới được Quốc hội thông qua đã xác định rõ vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận. Vì vậy, các Hội đồng tư vấn của Mặt trận, nhất là Hội đồng tư vấn Pháp luật Cần có đủ thời gian để nghiên cứu, thảo luận và báo cáo lên Ban thường trực và từ đó chuyển ý kiến chính thức sang Quốc hội.

Khi đã thảo luận kỹ lưỡng, lắng nghe mọi ý kiến khác nhau thì Luật sẽ là pháp lệnh bắt buộc mọi cấp, mọi ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành. Nếu làm sai Thủ tướng Chính phủ phải thi hành kỷ luật một cách dứt khoát và không nương nhẹ.

Luật Tổ chức Chính phủ chưa được thông qua, nhưng tôi tin rằng đa số các đại biểu Quốc hội sẽ thấy giúp việc Bộ trưởng không cần quá nhiều Thứ trưởng. Vì các nước lớn hơn ta, kinh tế phát triển hơn ta cũng đâu có nhiều Thứ trưởng? Hơn nữa Bộ trưởng phải là người quyết định nên chỉ cần những người giúp mình phải có kiến thức và kinh nghiệm tổng hợp, chứ đâu cần những người chỉ am hiểu một lĩnh vực hẹp.

Dưới Thứ trưởng đã có các Cục, các Vụ, đó mới là nơi tập hợp các chuyên gia am hiểu sâu về từng lĩnh vực.

PV: Việc “lạm phát cấp Phó” là do nể nang, do phong trào hay thực sự vì đòi hỏi của công việc? Theo GS, vì sao có tình trạng như vậy?

GS: Nếu cấp Phó không được tăng lương, không được cấp phát quyền đi xe công và nhiều cơ hội để có thêm bổng lộc (chính đáng và bất chính) thì tôi tin rằng, những chuyên gia giỏi vẫn chỉ muốn làm theo chức năng hiểu biết sâu của mình chứ thích thú gì làm Thứ trưởng để không còn điều kiện học hỏi thêm về nghiệp vụ mà mình đã có nhiều kinh nghiệm.

Khi đã xác định Thứ trưởng là người giúp việc Bộ trưởng chứ không phải người quyết định Bộ trưởng, thì rõ ràng quyền hạn của Thứ trưởng phải cụ thể và phải chịu trách nhiệm cao về các ý kiến tư vấn cho Bộ trưởng.

Trong thực tế, tôi còn thấy một số Bộ trưởng giao quyền quyết định cho Thứ trưởng và khi làm sai thì đổ hết trách nhiệm cho Thứ trưởng (thậm chí cho… nhân viên đánh máy!). Việc “ký nháy” cũng cần nghiêm túc xem xét lại. Không được quyền phát hành các công văn có cả chữ ký nháy (có khi còn ký rất to!). Thứ trưởng phải trực tiếp gửi kiến nghị bằng văn bản lên Bộ trưởng và Bộ trưởng xem xét để quyết định.

Nên chấm dứt chuyện cứ thấy có ký nháy của Thứ trưởng là Bộ trưởng ký. Thời trước ở nước ta và ngay ở các nước khác hiện nay đâu có chuyện kỳ lạ này?

PV: Từng có người nói rằng, vì họp hành quá nhiều nên cần nhiều Thứ trưởng và cấp Phó ở Sở, ngành để đi họp, thưa GS?

GS: Họp là việc trao đổi ý kiến sau khi đã tìm hiểu sâu sát thực tế. Bộ nào cũng rất đông cấp Thứ trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng, chưa kể đến vô số nhân viên, nhưng thật đáng ngạc nhiên khi thấy nhiều chuyện hầu như đối tượng phải thi hành trong cả nước đều không tán thành mà vẫn cứ quyết định một cách rất bảo thủ.

Nếu được hỏi, tôi có thể kể ra vô số chuyện như vậy. Đấy là chưa kể đến việc không thấy cần nghe ngóng, xem xét và trả lời chính thức những ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam – những cơ quan có quyền phản biện theo quy định của pháp luật.

PV: GS nghĩ sao về ý kiến, cơ quan quá nhiều cấp Phó sẽ dẫn tới chồng chéo nhiệm vụ và khó quy trách nhiệm?

GS: Bộ trưởng là Tư lệnh của một lĩnh vực. Chỉ có Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng chứ không phải ai khác. Vì vậy, Bộ trưởng nên ít họp hành hơn, trừ khi đi họp với Chính phủ. Và không nên tham gia Quốc hội trừ khi là khách mời trong những lúc cần trả lời.

Bộ trưởng cần giao nhiệm vụ rất cụ thể cho Thứ trưởng và nghe ý kiến của Thứ trưởng bằng chính tài trí của mình, chứ không dễ dàng theo ý quyết định của Thứ trưởng. Ở nhiều nước, Bộ trưởng nhiều Bộ quan trọng mà họ lại chọn người rất trẻ. Tất nhiên, không thể không tin đó là những người rất giỏi, dám chịu trách nhiệm về các quyết định của chính mình và không hề đổ tội cho ai khác.

Khi nào các Thứ trưởng được Bộ trưởng uỷ quyền mới được phát biểu như kiểu quyết định tại các Hội nghị, không được nói rất cụ thể như lâu nay khi chưa có sự đồng ý của Bộ trưởng. Bộ trưởng không thể tránh trách nhiệm về các ý kiến chưa chính xác của các Thứ trưởng.

PV: Tuy nhiên, việc nhiều cấp Phó cũng dẫn tới tốn ngân sách bởi kèm theo đó là xe công, thư ký, giúp việc, thưa GS?

GS: Ta không sợ tốn kém khi thực sự có hiệu quả. Nhưng nhiều cấp Phó rất hay làm hỏng việc lớn. Cấp Trưởng thường ỷ lại và không cần đi sâu đi sát các nhiệm vụ đã được giao,thường ỷ lại vào cấp Phó. Nên luôn nhớ cấp Phó chỉ là người giúp việc cho mình. Mình phải tự tìm hiểu qua nhiều nguồn thông tin, nhiều nguồn phản biện chứ không thể nhất nhất nghe ý kiến của cấp Phó. Xin nhắc lại chịu trách nhiệm bao giờ cũng phải là cấp Trưởng, kiểu như Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng.

Bất kỳ chuyện gì sai cũng không thể đổ lỗi cho Thứ trưởng, mà chỉ có thể nhận lỗi trước Thủ tướng và xem xét lại tinh thần trách nhiệm cũng như năng lực của vị Thứ trưởng đã tham mưu sai.

Để có những người thực sự đáng chia sẻ với trách nhiệm của Bộ trưởng, theo tôi, Bộ trưởng nên tổ chức công khai thi tuyển Thứ trưởng theo một danh sách do cán bộ trong Bộ và các chuyên gia ngoài Bộ kiến nghị. Càng không bao giờ nên chọn những người vừa kém chuyên môn lại vừa thích quyết định như là Bộ trưởng khi Bộ trưởng chưa uỷ quyền.

Khi Thứ trưởng có những quyết định sai thì ở nước ngoài họ từ chức một cách rất tự trọng.

Tôi không thể quên được câu chuyện ông kỹ sư Nhật Bản đã tự tử khi để xảy ra sai sót khi làm một chiếc cầu ở Thổ Nhĩ Kỳ, mặc dù chưa để xảy ra bất kỳ tai nạn gì đáng tiếc. Cảm kích trước tinh thần tự trọng của vị kỹ sư này mà nhiều ý kiến của dân chúng đã đề nghị nên lấy tên ông ta để đặt tên cho chiếc cầu ấy (!)

PV: Xin cảm ơn Giáo sư

Kim Anh/VOV.VN (thực hiện)
Nguồn: Blog NGuyễn Lân Dũng

KHÍ PHÁCH TRẦN QUANG CƠ


BBC 29 tháng 6 2015

TranQuangCo3

Ông Trần Quang Cơ (ở giữa, complet màu tối) đã tham gia quá trình bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ

Chắc hẳn nhiều người còn nhớ buổi giao ban năm ấy… Với sắc mặt thất thần, ông Trần Quang Cơ gần như gào to giữa phòng họp: “Mọi người biết không, người ta sắp cắt thủ cấp Nguyễn Cơ Thạch để dâng cho nước ngoài rồi”.

Đoán “triều đình” có biến, lũ chúng tôi (những đứa lần đầu được dự giao ban), chẳng ai bảo ai, im thin thít. Tôi cố gắng tập trung vào “Bản tin A” (*) nhưng đầu óc thì nghĩ mông lung.

Không tham quyền cố vị

Trước tháng 12/1986, đại sứ Trần Quang Cơ được Bộ triệu tập về họp. Khi trở sang nhiệm sở (Bangkok), ông kể lại với một cán bộ tâm phúc về quyết định của “anh Thạch” dự kiến điều ông về nước làm thứ trưởng ngoại giao và giới thiệu ông vào Ban Chấp hành TƯ Đảng.

Ông lưỡng lự trước đề nghị của Bộ trưởng và tâm sự: “Với cơ chế của ta thì không thể làm việc được”. Sợ ông từ chối cái ghế nhiều người đang mơ ước, cán bộ tâm phúc ấy nói với ông rằng, anh nên nhận lời anh Thạch. Cố nhiên, anh không đi thì “chợ vẫn đông”, nhưng anh làm sẽ tốt hơn khối người khác.

Thế mới biết, tại sao năm 1991, rồi năm 1993 ông lại đề nghị được rút khỏi danh sách Ban Chấp hành TƯ. Đặc biệt và có thể nói vô tiền khoáng hậu (xin lỗi nếu có ngoại lệ), ông từ chối cả cái ghế Bộ trưởng Bộ Ngoại giao khi Tổng Bí thư Đảng đã có quyết định.

Khí phách Trần Quang Cơ hẳn nhiên đạt tới “đỉnh” khi ông quyết định công bố “Hồi ức và Suy nghĩ” khá sớm, khoảng đầu 2001. Chính nhà ngoại giao Dương Danh Dy cũng không hiểu vì sao được ông tín nhiệm, giao tận tay một lúc cả hai bản đánh máy. Thấy chắc chắn sẽ có ích cho cái chung, ông Dy góp thêm một số ý kiến, sau đó công khai đưa lên mạng.

Hồi ký Trần Quang Cơ lập tức trở thành sách gối đầu giường đối với nhiều nhà quan sát và giới cầm bút muốn có nguồn tư liệu trung thực để phân tích tình hình Việt Nam những năm hậu chiến, thậm chí để hiểu thấu được cả những sự kiện mà hệ lụy của chúng còn kéo dài mãi tới hôm nay và mai sau.

Cống hiến và phản biện

Trần Quang Cơ đóng góp nhiều cho Ngành từ những ngày ông về phụ trách Vụ 2, vụ đối sách với Mỹ, đàm phán tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia, bình thường hóa với Trung Quốc. Từ những năm ấy, ông đã xác quyết các ý đồ và âm mưu của Trung Quốc đối với Việt Nam, đặc biệt là âm mưu cướp biển đảo.

Và Trần Quang Cơ đã bảo vệ đến tận cuối cuộc đời mình tất cả những kế sách mà ông cho là hiệu quả trong cuộc đấu tranh không cân sức với Trung Quốc.

Ông đã lên tiếng kêu gọi phải khẩn trương trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ và sớm gia nhập ASEAN. Triết lý sống còn về an ninh của đất nước được ông khái quát khá sớm: “Trong cái thế anh nằm ngay cạnh nước lớn, nước khổng lồ, mà không có bạn thì anh sẽ bị ép”. Đối với ông, chiến lược an ninh và đối ngoại phải hết sức linh hoạt, phải phù hợp với xu hướng chung của cục diện chính trị-kinh tế thế giới, nhất thiết phải tương thích với những đặc điểm lớn của thời đại đại.

Nhưng rồi ông cũng cay đắng đưa ra nhận xét, ngày ấy, ta đã làm những việc cần thiết đối với Mỹ và ASEAN “chậm trễ tới cả mười năm”.

Sau này, ngay cả khi đã “rửa tay gác kiếm” ông vẫn sẵn lòng cho chúng tôi biết thêm một số chi tiết giá trị trong cuộc vật lộn ngoại giao đằng sau các cuộc chiến, đặc biệt là những bão táp thời hậu chiến mà ông là người trong cuộc, có lúc từng là tác nhân và nhờ sự tỉnh táo mách bảo, biết rút ra sớm khỏi cuộc chơi trước khi có thể trở thành nạn nhân.

Phản biện thông minh và luôn có ý thức tích lũy để cống hiến. Từng là cán bộ địch vận, thuyết phục binh lính Pháp, cùng làm việc với nhiều “cây đa, cây đề” trong làng ngoại giao và văn hóa, một thời dưới trướng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từ ngày chuyển về Bộ Ngoại giao, ông càng có cơ hội phát huy tầm nhìn xa trông rộng đối với các vấn đề mỗi khi góp phần vào việc đề xuất chính sách.

Có lẽ các phẩm chất tử tế nói trên đã làm Trần Quang Cơ thành danh như nhận xét của nhà báo tự do Huy Đức. Tuy nhiên, chiến cuộc ngoại giao mà suốt đời ông phụng sự một cách tận tụy thì vẫn còn đó… và đang hết sức nan giải.

Nhưng vận mệnh đất nước không thể cứ “bèo dạt mây trôi” như thế này mãi. Ông ra đi nhưng dường như vẫn muốn nán lại để hỏi chúng ta: “Những người đang sống phải làm gì?”

Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong của riêng tác giả, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, nguyên Trưởng Nhóm Tư vấn Lãnh đạo Bộ Ngoại giao.

* Bản tin A: bản tin lưu truyền nội bộ hàng ngày của Bộ Ngoại giao
“NHƯ LÀ CÓ NHAU”, THƠ HUỲNH MAI

KHÁT KHAO XANH. ” Xin trời cho sợi nắng mai / Tôi đem trói những dông dài cất đi / Ngày sang hái lá nhu mì / Làm thơ, đem đổi chút gì… nhớ thương.Như là có nhau có lẽ là bài thơ hay nhất trong chùm Thơ Huỳnh Mai do anh Nguyễn Trọng Tạo tuyển chọn và giới thiệu. Bài thơ đẹp như sợi nắng mai. Đúng là viên ngọc quý, một giấc mơ hạnh phúc …

NHƯ LÀ CÓ NHAU

Xin trời cho sợi nắng mai
Tôi đem trói những dông dài cất đi
Ngày sang hái lá nhu mì
Làm thơ, đem đổi chút gì… nhớ thương

Một mai mưa nắng vô thường
Tôi mang trải suốt quãng đường người qua.
Rồi mai dẫu có đi xa
Còn đôi chiếc lá gọi là có nhau.

Lá xanh rồi sẽ lá nâu
Nhưng tình yêu mãi thắm màu biếc xanh
Hôm nay trời nắng thật lành
Dông dài tôi giữ hóa thành… nụ hôn.

HuynhMai
Huỳnh Mai  (ảnh rút từ Lộc xuân)


Lời bình của Nguyễn Trọng Tạo

THƠ HUỲNH MAI

NTT: Huỳnh Mai xuất hiện trên Blog Vnweblogs.com đã 7 năm nay với một giọng thơ ngọt ngào và rất dịu dàng. Khác với nhiều cây bút thích ồn ào, chị lặng lẽ khép mình bên vườn địa đàng để thụ hưởng hương thơm vị ngọt của tình yêu và cả những chát đắng của trái đời không may mắn. Nhưng sau tất cả, là một tấm lòng nhân hậu và vị tha. Bạn cứ lặng lẽ đọc thơ Huỳnh Mai, và bạn sẽ gặp một hồn thơ thật đáng yêu… (xem tiếp…)

ĐÊM NHỚ PHAN HUỲNH ĐIỂU, PHAN NHÂN

Hoàng Kim

HoGuom1000nam

Giai điệu “Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời” của Nhạc sĩ Phan Nhân đã được hát lên qua nhiều thế hệ.


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG mời bạn cùng lắng nghe những ca khúc vượt thời gian trong “Đêm nhớ Phan Huỳnh Điểu và Phan Nhân” . Hai nhạc sĩ tài danh đã qua đời ngày 29/6/2015. Giai điệu “Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời” của Nhạc sĩ Phan Nhân đã được hát lên qua nhiều thế hệ (ảnh trên).

PhanHuynhDieu
Nhạc sỹ nổi tiếng Phan Huỳnh Điểu, qua đời vào lúc 10 giờ15 sáng 29/6 tại Bệnh viện Thống Nhất, hưởng thọ 91 tuổi. Nhạc sỹ nổi tiếng Phan Nhân, từ trần lúc 11g45 tại nhà riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, thọ 85 tuổi.

Thuyền và biển, Ở hai đầu nỗi nhớ, Sợi nhớ sợi thương, Cuộc đời vẫn đẹp sao, Hành khúc ngày và đêm,  Bóng cây Kơ-nia,  Đoàn vệ quốc quân, … là những  “Tiếng hát mãi xanh” nổi bật, để đời của Nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu. Người sinh năm 1924 tại Đà Nẵng nguyên quán Quảng Nam, đã sáng tác hơn 100 ca khúc về tình yêu, nỗi nhớ, cách mạng, yêu thương được nhiều thế hệ yêu mến.

PhanNhan

Hà Nội – Niềm tin và hy vọng, Tình ca đất nước, Cây đàn ghi-ta của Victor Hara,  Chú ếch con là những ca khúc nổi bật, đặc sắc nhất của Nhạc sỹ Phan Nhân. Ông tên thật là Liêu Nguyễn Phan Nhân, sinh năm 1930, nguyên quán An Giang. Người sáng tác tuy không nhiều nhưng chất lượng cao, đặc biệt  là bài Hà Nội – Niềm tin và hy vọng, ca khúc được chọn làm giai điệu chính cho Lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.
(xem tiếp…).

Nguồn: Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com/2015/06/29/dem-nho-phan-huynh-dieu-phan-nhan/   Posted on 29.06.2015

Bài viết mới

Video yêu thích

ThuyenvaBien
Thuyền và biển
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook