Ngày mới yêu thương

hoaHongnhatoi

Hoang Kim  an tâm là Đạo, chí thiện là Đức; An Le, PMP “nếu ta không thấy mình ngày càng trở nên tầm thường và khiêm tốn, thì có lẽ là ta đang đi sai đường.” — Dalai Lama. Cái tâm càng giản dị và cái tôi sẽ càng thoái lui. Minh Nguyen Tâm bình thường là đạo. Đoàn Trọng Hiếu tâm giản dị chính là Đạo.
Ngaymoiyeuthuong
Ngày mới yêu thương

“Một hành giả hỏi lão hòa thượng: “Trước khi đắc Đạo, ngài làm gì?” Lão hòa thượng: “Đốn củi, gánh nước, nấu cơm”. Hành giả hỏi: “Vậy đắc Đạo rồi thì sao?” Lão hòa thượng: “Đốn củi, gánh nước, nấu cơm”. Hành giả lại hỏi: “Vậy thế thì có gì khác với lúc chưa đắc Đạo?” Lão hòa thượng: “Trước khi đắc đạo, khi đốn củi thì lo lắng đến gánh nước, lúc gánh nước lại nghĩ chuyện nấu cơm; đắc Đạo rồi, đốn củi thì cứ đốn củi, gánh nước thì là gánh nước, nấu cơm thì cứ nấu cơm”. Đại Đạo chí giản chí dị, tâm giản dị chính là Đạo”.

Đoàn Trọng Hiếu

Advertisements

Ngày mới yêu thương

CNM365. Giếng Ngọc đền Hùng trong vườn Tao Đàn là biểu tượng của sức trẻ, mạch nước ngầm mát rượi, an lành cùng đất, cây và người làm nên đất nước. Dinh Thống Nhất vườn Tao Đàn thành phố Hồ Chí Minh là quần thể danh thắng tiêu biểu nhất về di sản lịch sử, địa chính trị, văn hóa, kiến trúc đặc biệt của Sài Gòn Gia Định xưa và thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.
Dinh ThongNhat

DINH THỐNG NHẤT VÀ VƯỜN TAO ĐÀN

Hoàng Kim

Dinh Thống Nhất, Vườn Tao Đàn, Gia Định xưa, Dinh Thống Nhất  xưa và nay. Bài nghiên cứu lịch sử văn hóa của một vùng đất danh thắng huyền thoại.

Dinh Thống Nhất

Dinh Thống Nhất nguyên là Dinh Độc Lập trước năm 1975, là di tích quốc gia đặc biệt được Chính phủ Việt Nam đặc cách xếp hạng.

Tiền thân Dinh Độc lập là Dinh Thống đốc Nam Kỳ, do kiến trúc sư người Pháp Hermite thiết kế năm 1868. Sau khi dinh cũ nhiều lần bị ném bom, hư hại, san bằng và Dinh Độc Lập được xây mới năm 1962, thực hiện theo thiết kế của kiến trúc sư khôi nguyên La Mã Ngô Viết Thụ và đã khánh thành năm 1966 .

Dinh Độc Lập cao 26 m, rộng 4.500 m2, với 100 phòng gồm 3 tầng chính và một sân thượng cho máy bay trực thăng đáp, hệ thống hầm ngầm kiên cố. Địa danh này chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử thăng trầm của thành phố từng được ví là Hòn ngọc phương Đông.

Trưa 30/4/1975, xe tăng của quân giải phóng miền Nam đã húc đổ cánh cửa sắt Dinh Độc lập, đánh dấu thời khắc lịch sử của Sài Gòn. Quá trình chuyển giao và tiếp nhận chính thể mới cũng diễn ra tại đây.

Sau 1975, Dinh Độc Lập đổi tên thành Dinh Thống Nhất, ngày nay trở thành địa điểm tham quan lịch sử của du khách khi đến với Sài Gòn. Quần thể Dinh Độc lập, vườn Tào Đàn và Hồ Con Rùa là vùng đất địa linh nổi bật nhất của dấu ấn hòn ngọc phương Đông.

Dinh Độc Lập với kiến trúc chữ T là chữ cái đầu của chữ THỤ (trong chữ THIÊN THỤ”. Đó là bốn kế lớn chấn hưng đất nước “vua sáng, kinh tế, nông nghiệp, nội chính” qua bốn công trình chính liên hoàn: chữ T dinh Độc Lập, chữ H chợ Đà Lạt, chữ U Trường Đại học Nông nghiệp Sài Gòn và dấu nặng (.) là Hồ Con Rùa.

Biểu tượng Dinh Độc lập (hình chữ T) với ý nghĩa đất nước muốn giàu mạnh, thì trước hết người lãnh đạo đất nước phải là “bậc minh quân hiền tài”, trọng “quân đức, dân tâm, học pháp”, biết “chăm lo sức dân để lập đại kế sâu rễ bền gốc” bảo tồn và phát triển bền vững năng lực Quốc gia.

Biểu tượng Chợ Đà Lạt (hình chữ H) với ý nghĩa trọng tâm của nổ lực quốc gia là phải phát triển kinh tế (phi thương bất phú), mở mang giao thương, chấn hưng nghiệp cũ, phát triển nghề mới, khuyến học dạy dân, “Nên thợ, nên thầy nhờ có học/ No ăn, no mặc bởi hay làm” (Nguyễn Trãi), chú trọng mậu dịch buôn bán, lấy việc thông thương an toàn làm chữ Nghĩa (Nguyễn Hoàng), chú trọng lao động để dân giàu nước mạnh.

Biểu tượng Trường Đại Học Nông Nghiệp Sài Gòn (hình chữ U) với ý nghĩa là phải chấn hưng giáo dục đại học, phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là giáo dục phát triển nông nghiệp để nâng cao thu nhập, sinh kế, việc làm và an sinh xã hội, nâng cao chất lượng và giá trị nông sản (dĩ nông vi bản) vì quá nữa người Việt làm nghề nông.

Và sau cùng là biểu tượng Hồ Con Rùa (hình dấu (.) nặng) với ý nghĩa là nội chính an dân, thượng tôn pháp luật,  kỷ cương phép nước, giữ vững bờ cõi, bảo tồn nguyên khí, thương yêu dân chúng an vui lạc nghiệp, “biết thương yêu dân, luyện tập binh sĩ để xây dựng cơ nghiệp muôn đời” (Lời chúa Nguyễn Hoàng dặn chúa Nguyễn Phúc Nguyên).

Đền Hùng tại chính mặt sau Dinh Thống Nhất của Vườn Tao Đàn “lá phổi xanh thành phố”. Trong Vườn Tao Đàn có Đền Hùng, Giếng Ngọc đền Hùng, đền Mẫu Phương Nam, vườn đá tiếng Việt, hồ sen đền Hùng, vườn hoa và cây xanh Tao Đàn. Quần thể danh thắng Dinh Thống Nhất, Vườn Tao Đàn, Hồ Con Rùa “mắt ngọc của đầu rồng” trở thành vùng sử thi huyền thoại.
Đền Hùng tại vườn Tao Đàn thành phố Hồ Chí Minh là biểu tượng khát vọng đất nước Việt Nam thống nhất, hòa hợp dân tộc, không chấp nhận chia rẽ “chia để trị” đã thấm vào máu thịt của con dân Việt. “Nam Bộ là thịt của thịt Việt Nam là máu của máu Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi” (Hồ Chí Minh). Dinh Thống Nhất vì thế đã thay cho tên gọi Dinh Độc Lập và  Dinh Thống đốc Nam Kỳ trước đó.

Mẫu Phương Nam ở Vườn Tao Đàn trong quần thể Đền Hùng cùng với mẫu Việt Nam, Bác Hồ, Giếng Ngọc Đền Hùng là những điểm nhấn lịch sử, địa chính trị, văn hóa, tâm linh huyền thoại.

Đất Gia Định xưa
Lược sử đất Gia Định xưa được tóm tắt trong câu thơ của thi tướng Huỳnh Văn Nghệ “Nhớ Bắc”: “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long“.

Đất Gia Định xưa thuộc nước Phù Nam (tồn tại khoảng đầu thế kỷ 1 đến khoảng nửa thế kỷ 7), sau đó thuộc vương quốc Chân Lạp (nay là Campuchia). Tuy nhiên, “thuộc” một cách lỏng lẻo: “các dân tộc vẫn sống tự trị, và mấy sóc Khrmer lẻ tẻ chưa hợp thành đơn vị hành chánh thuộc triều đình La Bích (Chân Lạp). Trong khi đó triều đình ấy phải tập trung lực lượng ở phía nam Biển Hồ (sau khi bỏ Ăngco ở phía bắc) để đối đầu với Xiêm La (nay là Thái Lan) đang tiếp tục lấn đất Chân Lạp ở phía tây. Đất Gia Định vẫn là đất tự do của các dân tộc và hầu như vô chủ, là đất hoang nhàn cả về kinh tế lẫn chủ quyền từ xưa”[1].

Theo sử liệu, lưu dân Việt đã đến đây khai hoang và làm ăn sinh sống vào đầu thế kỷ 17, nhờ có cuộc hôn nhân giữa công nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II vào năm 1620. Lưu dân Việt do mưu sinh, nên có thể đã có mặt ở Sài Gòn Gia Định từ xa xưa trước cuộc hôn nhân ấy. Song, chính nhờ mối lương duyên giữa công chúa Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II, mà quan hệ Đại Việt (nay là Việt Nam) và Chân Lạp trở nên êm đẹp, dân cư hai nước có thể tự do qua lại sinh sống, tạo điều kiện cho lưu dân Việt ngày càng đông đảo hơn ở khu vực Đồng Nai, Sài Gòn[2].

Chuyện kể rằng: Tiên chúa Nguyễn Hoàng, người khởi đầu của chín đời chúa Nguyễn và mười ba đời vua vương triều nhà Nguyễn, đã nghe theo lời khuyên của bậc danh sĩ tinh hoa hiền tài lỗi lạc, nhà tiên tri Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” [1]. Ông đã nhờ chị ruột mình là bà Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ ở Thuận Hoá (là khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế ngày nay). Trịnh Kiểm thấy Thuận Hóa là nơi xa xôi, đất đai cằn cỗi nên đã đồng ý, và tâu vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm vào năm 1558. Nguyễn Hoàng cùng với các chúa Nguyễn sau này làm chúa phương Nam trong khi Trình Kiểm cùng với các chúa Trịnh sau đó làm chúa phương Bắc, tạo nên cục diện Đàng Trong, Đàng Ngoài,  Trịnh-Nguyễn phân tranh của thời Nhà Hậu Lê. Nguyễn Hoàng dùng các danh thần Lương Văn Chánh, Văn Phong vừa chống lại sự quấy nhiễu cướp phá của Chăm Pa vừa mộ dân lập ấp, khai khẩn đất đai, mở rộng về Nam. Cho tới năm 1613 khi Nguyễn Hoàng mất, diện tích của xứ Thuận Quảng do Nguyễn Hoàng trấn nhậm đã rộng tới 45000 km²[13] trải dài từ đèo Ngang, Hoành Sơn (Quảng Bình nay) qua đèo Hải Vân tới núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn), gần đèo Cả, (tỉnh Phú Yên ngày nay và đã làm chủ Bãi Cát Vàng là một vùng đất vô chủ thời đó.

Năm 1613, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp và tuân theo di huấn của chúa Nguyễn Hoàng: “Nếu Bắc tiến được thì tốt nhất, bằng không giữ vững đất Thuận Quảng và mở mang bờ cõi về phía Nam“. Ông trong dụng bậc kỳ tài kiệt xuất, nhà chính trị và quân sự lỗi lạc Đào Duy Từ cùng với các danh tướng  Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến giữ vững nghiệp chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chặn được quân Trịnh ở Đàng Ngoài, làm cho Đàng Trong thời ấy trở nên phồn thịnh, nước lớn lên, người nhiều ra, xây dựng được một định chế chính quyền rất được lòng dân, đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn lưu truyền chín chúa mười ba đời vua và mở đất phương Nam thuận thời, thuận lòng người.

Năm 1631, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là Ngọc Khoa (có sách gọi là Ngọc Hoa) cho vua Chăm Pa là Po Rome,  và gả con gái là Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II. Hai cuộc hôn phối này làm quan hệ Việt – Chăm và Việt – Chân diễn ra tốt đẹp[24][25]. Đàng Trong thời ấy vốn đã được các nước lân ban rất nể phục . Sự kiện hai cuộc lương duyên này càng làm cho mối bang giao của Đàng Trong ở mặt phía Nam ổn định, giúp cho chúa Nguyễn có thể tập trung lực lượng để đối phó trước các cuộc tấn công của chúa Trịnh Đàng Ngoài, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội cho người Việt di dân và mở rộng lãnh thổ về phương Nam.

Năm 1635, chúa  Nguyễn Phúc Lan kế nghiệp cho đến năm 1648 thì truyền ngôi cho cho con trai là Nguyễn Phúc Tần rồi mất. Cùng năm ấy (1648) chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần nối nghiệp cho đến năm 1687 và việc Nam tiến của người Việt đến Sài Gòn Gia Định ở thời này càng nhiều hơn trước. Năm 1658, tình hình Chân Lạp rối ren, chú cướp ngôi của cháu. Hai người con sống sót của vua Chân Lạp  Preah OuteyAng SurAng Tan dấy binh chống lại Ramathipadi I (Nặc Ông Chân) nhưng thất bại. Họ đã theo lời khuyên của Thái hậu Ngọc Vạn, cầu cứu chúa Nguyễn Phúc Tần.

Sách Gia Định thành thông chí chép: “Năm Mậu Tuất (1658)…vua (chúa Nguyễn Phúc Tần) sai Phó tướng Yến Vũ hầu (Nguyễn Phước Yến)…đem 2000 quân, đi tuần đến thành Mỗi Xoài nước Cao Mên, đánh phá được, bắt vua nước ấy là Nặc Ông Chân, đóng gông đem đến hành tại ở dinh Quảng Bình. Vua dụ tha tội…Khi ấy địa đầu trấn Gia Định là hai xứ Mỗi Xoài, Đồng Nai đã có dân lưu tán của nước ta cùng ở lẫn với người Cao Mên, để khai khẩn đất”..[3]

Ang Sur lên ngôi vua xưng là Barom Reachea V, đóng tại Oudong (cố đô Campuchia từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 trước khi vương triều Khmer thiên đô xuống Phnom Penh), phong cho em là Ang Nan (Nặc Ông Nộn) làm Phó vương đóng tại thành Sài Gòn. Các Quốc vương Chân Lạp đổi lại phải thần phục Đàng Trong và thực hiện triều cống định kỳ, dẫn tới hệ quả người Việt chuyển đến sinh sống nhiều ở vùng đất thuộc Chân Lạp.

Tháng 12, năm 1672, Quốc vương Barom Reachea V (Ang Sur) bị Bô Tâm[12] giết chết rồi cướp ngôi, Bô Tâm xưng là Chey Chettha III. Ang Tan (Nặc Ông Tân), chú của Chey Chettha III, chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Nhưng ngay sau đó tháng 5 năm 1673, Chey Chettha III cũng bị giết trên giường ngủ bởi người Mã Lai thuộc phe của Nặc Ông Chân (Ramathipadi I). Ang Chea (Nặc Ông Đài), con trai đầu của vua Barom Reachea V lên ngôi sau đó, xưng là Keo Fa II. Năm 1674, Nặc Ông Đài đã đi cầu viện Thái Lan (Ayutthaya) đánh Nặc Ông Nộn (Ang Nan) và chiếm được thành Sài Gòn. Nặc Ông Nộn bỏ chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn ở Khánh Hòa (dinh Thái Khang xưa). Trong khi đó, Nặc Ông Đài đắp lũy chống giữ ở vùng Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay và đắp thành Nam Vang, nhờ Xiêm (Thái Lan) cứu viện để chống lại quân chúa Nguyễn. Chúa Hiền bèn sai Cai cơ đạo Nha Trang là Nguyễn Dương Lâm cùng với Nguyễn Đình Phái làm tham mưu đem binh chia ra hai đạo sang đánh Nặc Ông Đài. Năm 1674, quân Nguyễn chiếm được (Sài Gòn Gia Định (đất Sài Côn xưa thuộc trấn Phiên An), và tiến quân lên vây thành Nam Vang. Nặc Ông Đài phải bỏ thành chạy vào rừng và bị thuộc hạ giết chết. Nặc ông Thu ra hàng. Nặc ông Thu là chính dòng con trưởng cho nên lại lập làm chính quốc vương đóng ở Oudong (cố đô Campuchia như đã dẫn) và để Nặc Ông Nộn làm đệ nhị quốc vương như cũ, đóng ở thành Sài Gòn, bắt hằng năm phải triều cống[14]. Chúa Nguyễn gia phong cho Nguyễn Dương Lâm làm Trấn thủ dinh Thái Khang (Khánh Hòa) lo việc phòng ngự ngoài biên và làm chủ tình thế cả vùng Đồng Nai. Phần lãnh thổ còn lại của người Chăm (từ Phú Yên tới Bình Thuận) sát nhập hoàn toàn vào  lãnh thổ Đàng Trong năm 1693.

Năm 1679, các quan tướng nhà Minh không chịu làm tôi nhà Thanh Dương Ngạn Địch (tổng binh Long Môn, Quảng Tây) vớiHoàng Tiến (phó tướng), Trần Thượng Xuyên ( tổng binh châu Cao, châu Lôi, châu Liêm thuộc Quảng Đông) và Trần An Bình (phó tướng),  đem 3000 quân cùng 50 chiếc thuyền cập bến cửa Hàn xin được làm dân mọn xứ Việt. Chúa Nguyễn Phúc Tầnkhao đãi ân cần, chuẩn y cho giữ nguyên chức hàm, phong cho quan tước rồi lệnh cho tới Nông Nại (Đồng Nai) khai khẩn đất đai. Mặt khác, triều đình còn hạ chỉ dụ cho Quốc vương Cao Miên (Thủy Chân Lạp) biết việc ấy để không xảy ra chuyện ngoài ý muốn[14]. Dương Ngạn ĐịchHoàng Tiếnđem binh thuyền vào cửa Xoài Rạp và cửa Đại cửa Tiểu thuộc trấn Định Tường dừng trú tại xứ Mỹ Tho. Trần Thượng Xuyênvà Trần An Bìnhthì đem binh thuyền vào cửa Cần Giờ rồi đồn trú tại Đồng Nai ( trấn Biên Hòa). Họ khai khẩn đất đai, lập ra phố chợ, giao thông buôn bán. Tàu thuyền người Hoa, người phương Tây, người Nhật, người Chà Và lui tới tấp nập, phong hóa Trung Quốc dần dần lan ra cả vùng Đông Phố[14].

Khi nhà Minh bị diệt, gần như cùng lúc với Trần Thượng XuyênCù lao Phố, Dương Ngạn ĐịchMỹ Tho, Mạc Cửu – một thương gia trẻ – cũng bỏ nước ra đi. Đến vùng Chân Lạp, ông bỏ tiền ra mua chức Ốc Nha và làm quan tại đây. Tuy nhiên do tình hình Chân Lạp hết sức rối ren, ông bỏ Nam Vang về phủ Sài Mạt…[7]

Gia Định thành thông chí là sách địa chí của Trịnh Hoài Đức (1765-1825) viết về miền đất Gia Định bằng chữ Hán cổ và chữ Nôm, là một sử liệu quan trọng về Nam bộ Việt Nam thời nhà Nguyễn. Sách gồm sáu quyển, đóng làm 3 tập theo bản chép tay lưu tại thư viện Viện sử học Việt Nam (ký hiệu HV. 151 (1-6). Việc biên soạn được cho là đã tiến hành vào giữa các năm 1820 và 1822[3].

Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép về Mạc Cửu ở đất Hà Tiên: “Hà Tiên vốn là đất cũ của Chân Lạp, tục gọi là Mường Khảm, tiếng Tàu gọi là Phương Thành[3] Ban đầu có người tên là Mạc Cửu gốc xã Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, vào thời Đại Thanh, niên hiệu Khang Hy thứ 19 (1680), nhà Minh mất hẳn (nhưng mãi đến năm Khang Hy thứ 19, vùng Quảng Đông mới bình định xong). Mạc Cửu không khuất phục chính sách buổi đầu của nhà Đại Thanh, mới chừa tóc rồi chạy qua phương Nam, trú tại phủ Nam Vang nước Cao Miên. Ông thấy ở phủ Sài Mạt[4] của nước ấy, người Việt, người Trung Hoa, Cao Miên, Đồ Bà (Chà Và) các nước tụ tập mở trường đánh bạc để lấy xâu, gọi là thuế hoa chi, bèn thầu mua thuế ấy, lại còn đào được một hầm bạc nên bỗng trở thành giàu có. Từ đó ông chiêu mộ dân Việt Nam lưu tán ở các xứ Phú Quốc, Lũng Kỳ (hay Trũng Kè, Lũng Cả –réam), Cần Bột (Cần Vọt – Kampôt), Hương Úc (Vũng Thơm – Kompong Som), Giá Khê (Rạch Giá), Cà Mau lập thành bảy xã thôn.[5] Tương truyền ở đây thường có tiên xuất hiện trên sông, do đó mới đặt tên là Hà Tiên (tiên trên sông)[6].

Sách Gia Định thành thông chí chép tiếp:  Lúc này ở Gia Định, các chúa Nguyễn đã lập xong phủ Gia Định. Người Việt và các di thần người Hoa đang định cư yên ổn. Nhận thấy muốn tồn tại phải có thế lực đủ mạnh để bảo vệ, che chở cho lãnh địa mà ông đã tốn công gây dựng. Sau khi cân nhắc, năm 1708[11] Mạc Cửu cùng thuộc hạ là Lý Xá, Trương Cầu đem lễ vật đến xin thần phục. “Mạc Cửu sai thuộc hạ là Trương Cầu, Lý Xá dâng biểu trần trình lên kinh đô Phú Xuân khẩn cầu xin được đứng đầu trông coi đất ấy. Tháng 8 mùa thu năm thứ 18 Mậu Tý (1708), chúa Nguyễn Phúc Chu, chuẩn ban cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên và phong tước là Cửu Ngọc hầu. Mạc Cửu lo xây dựng dinh ngũ và đóng binh tại Phương Thành (Hà Tiên), từ đó dân càng qui tụ đông đúc.

Như vậy, các chúa Nguyễn sau các cuộc di dân của người Việt ở Đàng Trong vào sinh sống chung với người Khmer, đã lần lượt thiết lập chủ quyền từng phần trên vùng đất Nam Bộ, sau các cuộc chiến với vương quốc Khmer, vương quốc Ayutthaya cũng như các yếu tố chính trị khác. Từ năm 1698 đến năm 1757 chính quyền Đàng Trong đã giành được hoàn toàn Nam Bộ ngày nay vào sự kiểm soát của mình. Cùng với việc mở rộng lãnh thổ trên đất liền, chính quyền Đàng Trong lần lượt đưa người ra khai thác và kiểm soát các hòn đảo lớn và quần đảo trên biển Đôngvịnh Thái Lan. Quần đảo Hoàng Sa được khai thác và kiểm soát từ đầu thế kỷ 17, Côn Đảo từ năm 1704, Phú Quốc từ năm 1708 và quần đảo Trường Sa từ năm 1816[15]

Lịch sử Sài Gòn Gia Định đến nay đã có hơn 315 năm.

Dinh Thống Nhất xưa và nay.

Dinh Thống Nhất trước khi Việt Nam thống nhất năm 1975 gọi là Dinh Độc Lập được xây mới năm 1962 thực hiện theo thiết kế của kiến trúc sư khôi nguyên La Mã Ngô Viết Thụ và đã khánh thành năm 1966. Trước đó thời Pháp thuộc, tại nơi này dinh cũ gọi là Dinh Thống đốc Nam Kỳ do Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière làm lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng năm 1868 theo đồ án do kiến trúc sư Hermite phác thảo.

Năm 1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm chiếm Việt Nam. Năm 1867, Pháp chiếm xong lục tỉnh Nam kỳ (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Ngày 23 tháng 2 năm 1868, ông Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière đã làm lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn thay cho dinh cũ được dựng bằng gỗ vào năm 1863. Dinh mới được xây dựng theo đồ án do kiến trúc sư Hermite phác thảo (người phác thảo đồ án Tòa thị sảnh Hongkong). Viên đá lịch sử này là khối đá lấy ở Biên Hòa, hình vuông rộng mỗi cạnh 50 cm, có lỗ bên trong chứa những đồng tiền hiện hành thuở ấy bằng vàng, bạc, đồng có chạm hình Napoleon đệ tam.

Dinh Norodom thời Pháp thuộc

Công trình này được xây cất trên một diện tích rộng 12 ha, bao gồm một dinh thự lớn với mặt tiền rộng 80 m, bên trong có phòng khách chứa 800 người, và một khuôn viên rộng với nhiều cây xanh và thảm cỏ. Phấn lớn vật tư xây dựng dinh được chở từ Pháp sang. Do chiến tranh Pháp-Phổ 1870 nên công trình này kéo dài đến 1871 mới xong. Sau khi xây dựng xong, dinh được đặt tên là dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng được gọi là đại lộ Norodom, lấy theo tên của Quốc vương Campuchia lúc bấy giờ là Norodom (1834-1904). Từ 1871 đến 1887, dinh được dành cho Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) nên gọi là dinh Thống đốc. Từ 1887 đến 1945, các Toàn quyền Đông Dương (Gouverneur-général de l’Indochine Française) đã sử dụng dinh thự này làm nơi ở và làm việc nên dinh gọi là dinh Toàn quyền. Nơi ở và làm việc của các Thống đốc chuyển sang một dinh thự gần đó.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam. Nhưng đến tháng 9 năm 1945, Nhật thất bại trong Thế chiến II, Pháp trở lại chiếm Nam bộ, Dinh Norodom trở lại thành trụ sở làm việc của Pháp ở Việt Nam.

Sau năm 1954, người Pháp rút khỏi Việt Nam. Việt Nam bị chia cắt thành 2 quốc gia, miền Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn miền Nam là nước Quốc Gia Việt Nam (sau thành Việt Nam Cộng Hòa). Ngày 7 tháng 9 năm 1954 Dinh Norodom được bàn giao giữa đại diện Pháp, tướng 5 sao Paul Ely, và đại diện Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Tổng thống. Ông quyết định đổi tên dinh này thành Dinh Độc Lập. Từ đó Dinh Độc Lập trở thành nơi đại diện cho chính quyền cũng như nơi ở của tổng thống và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Thời kỳ này, Dinh Độc Lập còn được gọi là Dinh Tổng thống. Theo thuật phong thủy của Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng, nên Dinh cũng còn được gọi là Phủ đầu rồng.

Ngày 27 tháng 2 năm 1962, hai viên phi công thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn CửPhạm Phú Quốc, lái 2 máy bay AD-6 ném bom làm sập toàn bộ phần chính cánh trái của dinh. (xem thêm: Vụ đánh bom Dinh tổng thống Việt Nam Cộng Hòa năm 1962). Do không thể khôi phục lại, ông Ngô Đình Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã.

Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng ngày 1 tháng 7 năm 1962. Trong thời gian xây dựng, gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm tạm thời chuyển sang sống tại Dinh Gia Long (nay là Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh). Công trình đang xây dựng dở dang thì ông Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính ám sát ngày 2 tháng 11 năm 1963. Do vậy, ngày khánh thành dinh, 31 tháng 10 năm 1966, người chủ tọa buổi lễ là ông Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ ngày này, Dinh Độc Lập mới xây trở thành nơi ở và làm việc của tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu sống ở dinh này từ tháng 10 năm 1967 đến ngày 21 tháng 4 năm 1975.

Bia kỷ niệm ngày khánh thành Dinh Độc Lập

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, chiếc máy bay F-5E do Nguyễn Thành Trung lái, xuất phát từ Biên Hòa, đã ném bom Dinh, gây hư hại không đáng kể.

Lúc 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng T54B mang số hiệu 843 của Quân đội Nhân dân Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Trung úy Bùi Quang Thận đã húc nghiêng cổng phụ của Dinh Độc Lập, tiếp đó xe tăng T54 mang số hiệu 390 do Vũ Đăng Toàn chỉ huy đã húc tung cổng chính tiến thẳng vào dinh. Lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy Quân Giải phóng Bùi Quang Thận, đại đội trưởng, chỉ huy xe 843, đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng Hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên, kết thúc 30 năm cuộc chiến tranh Việt Nam.

Sau hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc thành một đất nước Việt Nam thống nhất diễn ra tại dinh Độc Lập vào tháng 11 năm 1975. Cơ quan hiện quản lý di tích văn hoá Dinh Độc Lập có tên là Hội trường Thống Nhất[1] thuộc Cục Hành chính Quản trị II – Văn phòng Chính phủ. Đây là di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng được đông đảo du khách trong nước và nước ngoài đến tham quan. Nơi này được đặc cách xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 77A/VHQĐ ngày 25/6/1976 của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) của chính quyền Việt Nam hiện nay.

Ngày nay, Dinh Độc Lập trở thành một trong những địa điểm du lịch không thể thiếu của mỗi người dân khi tới Thành phố Hồ Chí Minh. Không chỉ có ý nghĩa về lịch sử mà Dinh Độc Lập còn thể hiện nét kiến trúc tiêu biểu của Việt Nam thời kì những thập niên 60.

Hoàng Kim
(sưu tầm, tổng hợp, biên soạn)

(*) Kế tiếp quần thể danh thắng “Dinh Thống Nhất – Vườn Tao Đàn – Hồ Con Rùa“, quần thể danh thắng “Tòa nhà Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh – đường hoa Sài Gòn-  Tòa nhà cao tầng Bitesco – Bến Nhà Rồng” cũng là biểu tượng đặc biệt của các điểm đến được ưa thích nhất.

Các địa điểm tham quan du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh , Địa danh du lịch thành phố Hồ Chí Minh, Mười công trình kiến trúc nổi tiếng Sài Gòn, Những công trình kiến trúc nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minhfacebook hình ảnh thành phố Hồ Chí Minh giới thiệu nhiều danh thắng như  Chùa Giác Lâm, bảo tàng Hồ Chí Minh (Bến Nhà Rồng), Việt Nam Quốc Tự, Nam Thiên Nhất Trụ – Chùa Một Cột Miền Nam, chùa Bát Bửu Phật Đài, chùa Hoằng Pháp, Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược, Địa đạo Củ Chi, Đường hầm

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG


CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Ngày mới yêu thương

Giấc mơ hạnh phúc

Giấc mơ hạnh phúc

KHÁT KHAO XANH. Ít phút thư giản lúc ban mai, giữ yên tĩnh cho em ngủ ngon, ngủ sâu hơn, bù lại những ngày vất vả, ngẫm về câu chuyện “đàn bà xứ này thật kỳ lạ” và câu thơ độc đáo của Bùi Giáng: “Em ơi em đẹp vô cùng/ Vì em có cái lạ lùng bên trong” do bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trao tặng mà chợt thấy lòng rưng rưng…

ĐÀN BÀ XỨ NÀY THẬT KỲ LẠ

Họ là những cô gái rất xinh đẹp, thậm chí, cái đẹp ấy khiến người ta đáng ngờ vào cái nguy cơ hạnh phúc họ có được. Và chuyện ấy càng kỳ lạ hơn, khi họ đẹp dường ấy, lớn lên vẫn chẳng có cơ hội nào cho ra hồn.

Cứ đứng giữa Sài Gòn mà hỏi, đàn bà xứ này thật kỳ lạ, họ phải rời quê hương từ rất xa xôi tít miền Trung, miền Bắc để lặn lội đi bán hàng, kiếm tiền. Hỏi kỹ hơn, họ nói để chồng ở nhà nuôi con. Thật kỳ lạ, tới một ngày, đâu đó trên tivi người ta giới thiệu những ngôi làng xây lên bằng bàn tay nứt nẻ của những phụ nữ gồng gánh bán bưng xa quê này. Còn các ông chồng xa vợ, đã bận đi theo các cô gái mới, nên nhà nào cũng đóng cửa im ỉm.

Họ kỳ lạ hơn khi khi cứ lớn lên như hoa dại, đẹp trong sáng, tinh khôi khắp đất miền Tây. Rồi họ phải đem cái xinh đẹp vô ngần ấy ra tận xứ người, tít Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Campuchi, đánh đổi tuổi trẻ để làm con người xứ lạ, lấy miếng cơm gạo về nuôi cha mẹ già, có khi nuôi cả những ông anh trai, cậu em trai ở quê hương nên người. Sau khi nên người, những anh đàn ông hùng hồn ấy gọi họ ngon- ngoan – ngu. Các anh đã quên mất cơm trắng các anh ăn lấy từ da thịt và sự xinh đẹp của người chị, người mẹ tận quê nhà…

Sự kỳ lạ ấy đôi khi khiến người ta ngạc nhiên. Khi một người đàn bà bị đánh, anh công an phường đi qua, bà hội phụ nữ đi lại, nhòm ngó một cách dè chừng, rồi bỏ đi. Đàn bà bị đánh mà, có gì đâu ghê gớm…

Đàn bà xứ này kỳ lạ lắm. Nếu họ lỡ yêu và sống với 2, 3 anh đàn ông, họ sẽ bị coi là “người xấu”. Có kẻ còn đem cả tiểu sử của họ để đi bêu riếu khi cần nói xấu họ một việc chẳng liên quan. Nếu anh người yêu bỏ họ và họ chính chuyên độc thân, họ trở thành người phụ nữ được trọng thị và kẻ cả – để đi bình phẩm về những người đang yêu đương hạnh phúc khác.

Đàn bà xứ này kỳ lạ như một vũ điệu. Ngày xưa họ nhảy nhót cuống cuồng để có một tấm chồng. Đàn bà không chồng trở thành trò đàm tiếu (của vô vàn đàn bà khác). Thời nay họ nhảy nhót cuống cuồng để vinh danh “mẹ đơn thân”, “tôi không cần chồng”, “tôi sống khỏe không cần đàn ông”. Lúc nào cũng phải cuống cuồng, gồng gánh. Họ quên mất làm mẹ về cơ bản là cực khổ và thiêng liêng, nên không cần phải đem khoe mỗi ngày – vì chỉ có em bé ở nhà cần tình yêu ấy. Họ quên mất độc thân là niềm vui (hoặc nỗi khổ) của bản thân, cũng không cần phải gắn nhiều huy hiệu lên ấy làm gì. Có người còn bán cả huy hiệu cho những người khác, để đeo chung thành một hội, nơi những kẻ khác (gồm đàn ông và các phụ nữ đã có chồng) trở thành kẻ dị hợm bị chà đạp. Chỉ có người bán được tiền.

Đàn bà xứ này, xấu xí vì làm nông lam lũ để nuôi chồng con thì bị chê tởm quá và chồng bỏ theo em gái khác, còn lỡ xinh đẹp trong sáng thì bị chê là đĩ quá, thông minh giỏi giang thì bị chê là ghê gớm quá. Họ cứ phải gồng gánh một cái chức phận và không khí nào đó mà đàn ông và hằng hà sa số đàn bà khác ban cho. Người thì chăm chỉ gồng gánh. Người mệt quá ném gánh đập vô mặt người khác, chẳng cách gì bình tĩnh thản nhiên được.

Đàn bà xứ này kỳ lạ vô cùng, khi những buổi sớm mai ngoài đồng, trong công xưởng, họ cắm đầu vào cây lúa, dàn máy, cánh đàn ông cũng bận rộn với cuộc nhậu giữa trưa, chầu cá độ lúc chiều tối, hoặc bữa nhậu khuya với chiến hữu bạn bè. Ở nông thôn, lúc nào người ta cũng có thể gặp các cậu trai rảnh ngồi ngoài quán cafe đánh bài, rung đùi nghe nhạc, bất đắc chí vì đời sống. Chỉ có các cô gái đang miệt mài rời quê hương kiếm miếng ăn cho cha mẹ, và cả những người đàn ông trót trở thành số phận mà họ phải đeo mang.

Đàn bà xứ này kỳ lạ như vậy, bên cạnh những người đàn ông kỳ lạ không kém…

st

Em ơi em đẹp vô cùng
Vì em có cái lạ lùng bên trong
(Bùi Giáng)

CÁI ĐẸP

Đỗ Hồng Ngọc

Bùi Giáng có những câu thơ nhiều khi làm ta giật mình. Có những câu thơ làm ta ray rứt, lại có những câu thơ làm ta ngẩn ngơ. Một đời lận đận đo rồi đếm / Mỏi gối người đi đứng lại ngồi đã chẳng làm ta giật mình nhìn lại với bao nỗi đếm đo lận đận của mình đó sao? Và có lẽ cũng nên “nhâm nhi” thêm vài câu thơ nữa của ông viết về cái đẹp nhân mùa hoa hậu này cũng hay:

Em ơi em đẹp vô cùng
Vì em có cái lạ lùng bên trong

Bùi Giáng

Cái lạ lùng bên trong là cái gì vậy? Chẳng lẽ Bùi Giáng có cách nhìn của các thầy thuốc, nhìn con người “xuyên thấu” với môn cơ thể học, môn hình ảnh học với nào dao nào kéo, nào siêu âm bốn chiều, nào chụp cắt lớp? Chắc chắn là không rồi vì ông là một nhà thơ. Hẳn là ông muốn nói đến cái đẹp tâm hồn, khác với cái đẹp thể chất bên ngoài, và chính cái đẹp bên trong đó, nó mới lạ lùng làm sao: chính nó mới quyết định thế nào là cái đẹp của một người con gái! Nhưng làm cách nào mà ta có thể cân đong đo đếm được cái đẹp của tâm hồn? Nhà thơ chịu. Chỉ có thể kêu lên mà thôi: Em ơi, em đẹp vô cùng. Vì em có cái lạ lùng bên trong. Và vì không thể cân đong đo đếm được cái đẹp bên trong đó, người ta đành cân đong đo đếm cái đẹp bên ngoài, bằng những con số cân nặng, chiều cao, vòng số 1, số 2 số 3 theo một quy tắc giả tạo nào đó để rồi so sánh xếp hạng cái đẹp. Chuyện vui kể rằng vào cái thời thi sắc đẹp mà chưa được phép đo đạc trên người, chưa được phép bắt người ta mặc đồ tắm hai mảnh để dòm ngó so sánh đã có một cuộc thi hoa hậu mà mỗi thí sinh chỉ phải mang một cái gì đó tượng trưng cho người ta dễ đánh giá vòng số 1. Trong lúc các thí sinh khác, người thì mang hai trái bưởi năm roi, người hai trái dừa, người mang trái mướp, thậm chí mang cả bí rợ đi thi thì có một thí sinh chỉ mang hai trái quít tàu. Giám khảo phì cười hỏi vậy thì thi thố cái nỗi gì? Cô thí sinh trả lời vì nội quy không nói rõ nên tưởng chỉ cần mang một cái gì đó tượng trưng là được nên chỉ mang phần tượng trưng cái “núm”!

aodai12

Trở lại chuyện cái đẹp là lùng bên trong mà nhà thơ muốn nói. Đo đếm cách nào đây? So sánh cách nào đây? Không thể lấy bằng cấp, học lực. Không thể phỏng vấn đôi câu về điều này điều nọ. Hay là theo tiêu chuẩn của người xưa mà nay ít còn ai nhắc tới? Người xưa đưa ra bốn tiêu chuẩn là “công, ngôn, dung, hạnh”. Dung có vẻ như để nói riêng về cái đẹp hình thể thì cũng xếp hạng…ba! Trước đó còn phải công còn phải ngôn nữa! Bởi người mà chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy thì người ta gọi là người “vô duyên”! Mà “duyên” thì quan trọng lắm. Còn duyên kẻ đón người đưa/ Hết duyên đi sớm về trưa một mình! Như vậy rõ ràng không phải các số đo làm cho kẻ đón người đưa! (Dĩ nhiên bây giờ có khác một chút, có thể xe hơi đời mới nối đuôi chờ, nhưng đó lại là chuyện khác rồi!). Ngay cả với chữ dung đó thôi đã bao hàm “cái đẹp bên trong” của nó. Bởi dung ở đây còn mang ý nghĩa là dáng vẻ uy nghi, thư thái, dịu dàng, trang nhã, hòa đồng, bao dung, khoan nhương…bên cạnh cái nhan sắc: “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung”.

Bài ca dao “Mười thương” của ta cũng thật tuyệt. Cứ một cái thương bên ngoài thì liền theo đó là một cái thương bên trong:

Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương nếp ở…

Thì ra không chỉ tóc tai, chỉ má lúm (có thể đi mỹ viện làm vài cái dễ ợt) mà còn ăn còn nói, còn gói còn mở trong nếp ở của mình, trong mối tương giao giữa mình với mọi người chung quanh.

Cho nên nói về cái đẹp của một người con gái, Bùi Giáng chỉ nói đơn giản:

Em ơi em đẹp vô cùng
Vì em có cái lạ lùng bên trong

Ta có thể xin phép nhà thơ cao hứng nối thêm:

Em ơi em đẹp vô song
Vì em có cái bên trong lạ lùng!…

Vâng, cái lạ lùng bên trong và cái bên trong lạ lùng đó mới thật tuyệt vời làm sao, nó mới làm cho người ta đẹp vô cùng, đẹp vô song đó vậy!

Đỗ Hồng Ngọc

Bài viết mới trên Tình yêu cuộc sống

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

Ngày mới yêu thương

Muaxuanquehuong

Ngày mới yêu thương

Hoàng Kim

Khoác thêm tấm áo trời se lạnh
Đông tàn xuân tới đó rồi em
Phúc hậu mỗi ngày chăm việc thiện
Yêu thương xa cách hóa gần thêm.


Mùa đông của anh. Bài hát rưng rưng xúc động với giọng ca ngọt ngào của Lệ Quyên. Hôm qua và hôm nay là ngày Đông Chí, là rét đậm, là đêm đông. Qua đông là xuân tới …

Bài viết mới trên Tình yêu cuộc sống

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook KimTwitter  hoangkim vietnam

Ngày mới yêu thương

OngvaHoa

KHÁT KHAO XANH. Thiền sư Thích Nhất Hạnh những câu nói nổi tiếng. 17 sách thích đọc của Bill Gates. Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời.

ThichNhatHanh
Thiền sư Thích Nhất Hạnh những câu nói nổi tiếng 

01. Thấu hiểu nỗi đau của người khác là món quà to lớn nhất mà bạn có thể trao tặng họ. Thấu hiểu là tên gọi khác của yêu thương. Nếu bạn không thể thấu hiểu, thì bạn chẳng thể yêu thương.

02. Cũng như một người làm vườn biết cách dùng phân bón để cho ra những bông hoa tươi đẹp, người tu tập biết tận dụng nỗi đau khổ để tạo ra hạnh phúc.

03. Nói “Tôi yêu bạn” có nghĩa là “Tôi có thể mang tới cho bạn sự bình yên và hạnh phúc”. Để làm được điều đó, trước tiên, chính bạn phải là người có được những điều đó đã.

04. Tĩnh lặng là điều cốt lõi. Chúng ta cần tĩnh lặng như chúng ta cần không khí, như cái cây cần ánh sáng. Nếu tâm trí chúng ta lúc nào cũng đầy những từ ngữ và suy nghĩ, thì lấy đâu ra không gian cho chính chúng ta.

05. Hãy bước đi như thể bạn đang hôn trái đất bằng bàn chân của mình.

06. Khi một người làm bạn đau khổ, ấy là vì ẩn sâu bên trong, nỗi đau khổ của anh ta đang tràn trề. Anh ta không đáng bị trừng phạt. Anh ta cần sự giúp đỡ.

07. Đôi khi niềm vui mang tới nụ cười. Nhưng cũng đôi khi, chính nụ cười mang tới niềm vui.

08. Hạnh phúc là được là chính mình. Bạn không cần phải được thừa nhận bởi người khác. Chỉ cần chính bạn thừa nhận mình là được rồi.

09. Những mầm mống khổ đau trong bạn có thể thật mạnh mẽ, nhưng đừng đợi cho đến khi mọi khổ đau đi hết rồi mới cho phép mình được hạnh phúc.

10. Hành động của tôi nói lên tôi là ai.

11. Nếu bạn yêu ai đó nhưng hiếm khi dành thời gian cho họ thì đó không phải tình yêu thật sự.

12. Tình yêu của bạn phải khiến cho người yêu cảm thấy tự do.

13. Thời khắc hiện tại tràn ngập niềm vui và hạnh phúc. Chỉ cần bạn để tâm, bạn sẽ nhìn thấy chúng

14. Tôi đã tới. Tôi đang ở nơi cần ở. Điểm đến của tôi nằm trên mỗi bước đi.

15. Mỗi hơi thở, mỗi bước đi của chúng ta có thể lấp đầy bởi bình an, hạnh phúc và sự thanh thản.

(Theo Thích Phước Tiến Fanpage).

BillGates

17 sách thích đọc của Bill Gates.

17 Books Everyone Should Read, According to Bill Gates

by

While Bill Gates has a schedule that’s planned down to the minute, the entrepreneur-turned-billionaire-humanitarian still gobbles up about a book a week.

Aside from a handful of novels, they’re mostly nonfiction books covering his and his foundation’s broad range of interests. A lot of them are about transforming systems: how nations can intelligently develop, how to lead an organization, and how social change can fruitfully happen.

We went through the past five years of his book criticism to find the ones that he gave glowing reviews and that changed his perspective.

Tap Dancing to Work: Warren Buffett on Practically Everything, 1966-2012 by Carol Loomis

Warren Buffett and Gates have a famously epic bromance, what with their recommending books to each other and spearheading philanthropic campaigns together.

So it’s no surprise that Gates enjoyed Tap Dancing to Work, a collection of articles and essays about and by Buffett, compiled by Fortune magazine journalist Carol Loomis.

Gates says that anyone who reads the book cover-to-cover will walk away with two main impressions:

First, how Warren’s been incredibly consistent in applying his vision and investment principles over the duration of his career;

[S]econdly, that his analysis and understanding of business and markets remains unparalleled. I wrote in 1996 that I’d never met anyone who thought about business in such a clear way. That is certainly still the case.

Getting into the mind of Buffett is “an extremely worthwhile use of time,” Gates concludes.

Buy it here.

Making the Modern World: Materials and Dematerialization by Vaclav Smil

Gates says his favorite author is Vaclav Smil, an environmental-sciences professor who writes big histories of things like energy and innovation.

His latest is Making the Modern World. It got Gates thinking.

“It might seem mundane, but the issue of materials — how much we use and how much we need — is key to helping the world’s poorest people improve their lives,” he writes. “Think of the amazing increase in quality of life that we saw in the United States and other rich countries in the past 100 years. We want most of that miracle to take place for all of humanity over the next 50 years.”

To know where we’re going, Gates says, we need to know where we’ve been — and Smil is one of his favorite sources for learning that.

Buy it here.

The Sixth Extinction: An Unnatural History by Elizabeth Kolbert

It can be easy to forget that our present day is a part of world history. Gates says that New Yorker writer Elizabeth Kolbert’s new book The Sixth Extinction helps correct that.

“Humans are putting down massive amounts of pavement, moving species around the planet, over-fishing and acidifying the oceans, changing the chemical composition of rivers, and more,” Gates writes, echoing a concern that he voices in many of his reviews.

“Natural scientists posit that there have been five extinction events in the Earth’s history (think of the asteroid that wiped out the dinosaurs),” he continues, “and Kolbert makes a compelling case that human activity is leading to the sixth.”

To get a hint of Kolbert’s reporting, check out the series of stories that preceded the book’s publication.

Buy it here.

Stress Test: Reflections on Financial Crises by Tim Geithner

Gates stood at the center of an enormously complex system as CEO of Microsoft. Timothy Geithner did much the same as U.S. Treasury secretary — and saw the structure fall down around him during the financial crisis.

“Geithner paints a compelling human portrait of what it was like to be fighting a global financial meltdown while at the same time fighting critics inside and outside the Administration as well as his own severe guilt over his near-total absence from his family,” Gates says. “The politics of fighting financial crises will always be ugly. But it helps if the public knows a little more about the subject.”

Stress Test provides that knowledge.

Buy it here.

The Better Angels of Our Nature: Why Violence Has Declined by Steven Pinker

In Better Angels, Harvard cognitive scientist Steven Pinker branches out into the history of the most contentious of subjects: violence.

Gates says it’s one of the most important books he’s ever read.

“Pinker presents a tremendous amount of evidence that humans have gradually become much less violent and much more humane,” he says, in a trend that started thousands of years ago and continued until this day.

This isn’t just ivory-tower theory. Gates says the book has affected his humanitarian work.

“As I’m someone who’s fairly optimistic in general,” he says, “the book struck a chord with me and got me to thinking about some of our foundation’s strategies.”

Buy it here.

The Man Who Fed the World by Leon Hesser

Even though Gates can get a meeting with almost anyone, he can’t land a sit-down with Norman Borlaug, the late biologist and humanitarian who led the “Green Revolution” — a series of innovations that kept a huge chunk of humanity from starving.

“Although a lot of people have never heard of Borlaug, he probably saved more lives than anyone else in history,” Gates says. “It’s estimated that his new seed varieties saved a billion people from starvation,” many of whom were in India and Pakistan.

Borlaug was awarded the Nobel Peace Prize, the Presidential Medal of Freedom, and the Congressional Gold Medal for his efforts — and is one of only seven people to receive that honor.

For Gates, Borlaug is a model in getting important work done in the world.

“Borlaug was one-of-a-kind,” he says, “equally skilled in the laboratory, mentoring young scientists, and cajoling reluctant bureaucrats and government officials.”

Hesser’s The Man Who Fed the World lets you peer into the personality that saved a billion lives.

Buy it here.

Business Adventures: Twelve Classic Tales from the World of Wall Street by John Brooks

Back in 1991, Gates asked Buffett what his favorite book was.

To reply, Buffett sent the Microsoft founder his personal copy of Business Adventures, a collection of New Yorker stories by John Brooks.

Though the anecdotes are from half a century ago, the book remains Gates’ favorite.

Gates says that the book serves as a reminder that the principles for building a winning business stay constant. He writes:

For one thing, there’s an essential human factor in every business endeavor. It doesn’t matter if you have a perfect product, production plan and marketing pitch; you’ll still need the right people to lead and implement those plans.

Learning of the affections that Gates and Buffett have for this title, the business press has fallen similarly in love with the book. Slate quipped that Business Adventures is “catnip for billionaires.”

Buy it here.

The Bully Pulpit: Theodore Roosevelt, William Howard Taft, and the Golden Age of Journalism by Doris Kearns Goodwin

Like us, Gates is fascinated by the way Theodore Roosevelt was able to affect his society: busting trusts, setting up a park system, and the like.

For this reason, Gates appreciates how Goodwin’s biography uses the presidency as a lens for understanding the shift of society.

“How does social change happen?” Gates asks in his review. “Can it be driven by a single inspirational leader, or do other factors have to lay the groundwork first?”

He says that TR shows how many stakeholders need to be involved.

“Although he tried to push through a number of political reforms earlier in his career,” Gates says, “[Roosevelt] wasn’t really successful until journalists at ‘McClure’s’ and other publications had rallied public support for change.”

Buy it here.

The Rosie Project: A Novel by Graeme Simsion

Gates doesn’t review a lot of fiction, but The Rosie Project, which came on the recommendation of his wife, Melinda, is an oddly perfect fit.

“Anyone who occasionally gets overly logical will identify with the hero, a genetics professor with Asperger’s Syndrome who goes looking for a wife,” he writes. “(Melinda thought I would appreciate the parts where he’s a little too obsessed with optimizing his schedule. She was right.)”

The book is funny, clever, and moving, Gates says, to the point that he read it in one sitting.

Buy it here.

On Immunity by Eula Biss

Even though the science all says that vaccines are among the most important inventions in human history, there’s still a debate about whether they’re a good idea.

In “On Immunity,” essayist Eula Biss pulls apart that argument.

She “uses the tools of literary analysis, philosophy, and science to examine the speedy, inaccurate rumors about childhood vaccines that have proliferated among well-meaning American parents,” Gates writes. “Biss took up this topic not for academic reasons but because of her new role as a mom.”

Buy it here.

How Asia Works by Joe Studwell

Joe Studwell is a business journalist whose central mission is understanding “development.”

The Financial Times said that How Asia Works is “the first book to offer an Asia-wide deconstruction of success and failure in economic development.”

Gates says that the book’s thesis goes like this:

All the countries that become development success stories (1) create conditions for small farmers to thrive, (2) use the proceeds from agricultural surpluses to build a manufacturing base that is tooled from the start to produce exports, and (3) nurture both these sectors with financial institutions closely controlled by the government.

Buy it here.

How to Lie with Statistics by Darrell Huff

Published in 1954, How to Lie with Statistics is an introduction to statistics — and a primer on how they can be manipulated.

It’s “more relevant than ever,” Gates says.

“One chapter shows you how visuals can be used to exaggerate trends and give distorted comparisons,” he says. “It’s a timely reminder, given how often infographics show up in your Facebook and Twitter feeds these days.”

Buy it here.

Epic Measures by Jeremy Smith

Reading this biography was especially meaningful for Gates because he’s known its subject, a doctor named Chris Murray, for more than a decade.

According to Gates, the book is a “highly readable account for anyone who wants to know more about Chris’s work and why it matters.”

That work involves creating the Global Burden of Disease, a public website that gathers data on the causes of human illness and death from researchers around the world. The idea is that we can’t begin finding cures for health issues if we don’t even know what those issues are.

Writes Gates: “As Epic Measures shows, the more we make sure reliable information gets out there, the better decisions we all can make, and the more impact we all can have.”

Buy it here.

Stuff Matters by Mark Miodownik

If you’re like most people, you use steel razors, glass cups, and paper notepads every day without thinking much about the materials they’re made of.

In “Stuff Matters,” Miodownik, a materials scientist, aims to show you why the science behind those materials is so fascinating.

That premise might sound similar to “Making the Modern World,” a book by Gates’ favorite author Smil, which Gates has also recommended. But Gates says the two works are “completely different.” While Smil is a “facts-and-numbers guy,” Miodownik is “heavy on romance and very light on numbers,” potentially making “Stuff Matters” an easier read.

Gates claims his favorite chapter is the one on carbon, “which offers insights into one atom’s massive past, present, and future role in human life.”

Buy it here.

Hyperbole and a Half by Allie Brosh

It might be hard to imagine Gates curled up with a book of comic drawings. But Hyperbole and a Half, based on the blog by the same name, is more moving and profound than it is silly.

The stories and drawings in the book are based on scenes from Brosh’s life, as well as her imagined misadventures.

“It’s funny and smart as hell,” Gates writes, adding that “Brosh’s stories feel incredibly — and sometimes brutally — real.”

Gates was especially moved by the parts of the book that touch on Brosh’s struggles with severe depression, including a series of images about her attempts to leave an appropriate suicide note.

It’s a rare book that can simultaneously make you laugh, cry, and think existential thoughts — but this one seems to do it.

Buy it here.

What If? by Randall Munroe

Another book based on a blog, What If? is a collection of cartoon-illustrated answers to hypothetical scientific questions.

Those questions range from the dystopian (“What if I took a swim in a typical spent nuclear fuel pool?”) to the philosophical (“What if everyone actually had only one soul mate, a random person somewhere in the world?”) Each question was posed by a different reader, and Munroe, a former roboticist for NASA, goes to the greatest lengths to answer it accurately through research and interviews.

Gates writes:

The reason Munroe’s approach is a great way to learn about science is that he takes ideas that everybody understands in a general way and then explores what happens when you take those ideas to their limits. For example, we all know pretty much what gravity is. But what if Earth’s gravity were twice as strong as it is? What if it were three times as strong, or a hundred? Looking at the question in that way makes you start to think about gravity a little differently.

For anyone who’s ever wished there were someone to indulge and investigate their secret scientific fantasies, this book comes in handy.

Buy it here.

Should We Eat Meat? by Vaclav Smil

Gates isn’t shy about proclaiming Smil, a professor emeritus at the University of Manitoba, his favorite author. In fact, he’s recommended several of Smil’s books before.

As usual, Gates writes, Smil attacks the issue of whether humans should consume meat from every possible angle. First he tries to define meat, then he looks at its role in human evolution, as well as how much meat each country consumes, the health and environmental risks, and the ethicality of raising animals for slaughter.

Gates, who was a vegetarian for a year during his 20s, is especially impressed by how Smil uses science to debunk common misconceptions, like the idea that raising meat for food involves a tremendous amount of water.

In fact, Gates writes:

Smil shows you how the picture is more complicated. It turns out that not all water is created equal. Nearly 90 percent of the water needed for livestock production is what’s called green water, used to grow grass and such. In most places, all but a tiny fraction of green water comes from rain, and because most green water eventually evaporates back into the atmosphere, it’s not really consumed.

Overall, the book left Gates feeling that eventually, “the world can meet its need for meat.”

Buy it here.

This article originally appeared on Business Insider

More from Business Insider:

Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời

Hoàng Kim

Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy, bạn là lộc xuân của đời tôi mà nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này thì tôi không thể có được ngày hôm nay, như tôi đã từng viết trong bài Thắp đèn lên đi em: “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin (đọc tiếp)

 

Ngày mới yêu thương

Chaongaymoi

Ngày mới yêu thương


Niềm vui và hi vọng

Video nhạc tuyển

Ban Mai
Khí công Y đạo: Bài học tốt tự chăm sóc sức khỏe 

MAR AKRAM – Dancing with the wind♥
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

Ngày mới yêu thương

PhuongHoangđatvuonnhatoi

Khi bạn gieo giống tình yêu, nó là bạn và là hoa.
When you plant the seed of love, it is you that blossoms.

Ma Jaya Sati Bhagavati (*).

BanvaToi110
Source:

MaiBoDe
Source: hoangkimvietnam

BẠN VÀ TÔI

BanvaToi101

Source:  Wandering Aimlessly

BanvaToi102

Source:  Wandering Aimlessly

BanvaToi103

Source:  Wandering Aimlessly

BanvaToi104

Source:  Wandering Aimlessly

BanvaToi105

Source:  Wandering Aimlessly

BanvaToi106

Source:  Wandering Aimlessly

BanvaToi107

Source:  Wandering Aimlessly

BanvaToi108

Source:  Wandering Aimlessly

Tắm tiên ở Chư Yang Sin 1

Tắm tiên ở Chư Yang Sin, ảnh: hoangkimvietnamTắm tiên ở Chư Yang Sin 2

Tắm tiên ở Chư Yang Sin, ảnh  hoangkimvietnam Tắm tiên ở Chư Yang Sin 3

Tắm tiên ở Chư Yang Sin, ảnh  hoangkimvietnam Tắm tiên ở Chư Yang Sin 1

Tắm tiên ở Chư Yang Sin, ảnh  hoangkimvietnam

Tiếng Anh cho em
(*) 
Ma Jaya Sati Bhagavati is a spiritual teacher, and visionary. She teaches that divinity is ultimately beyond words and without form. She tells us that all paths of love can lead to spiritual awakening. Emphasizing individual spiritual growth, she teaches seekers at all levels and does not ask her students to follow any particular set of doctrines or beliefs. Or, as she often says, “This is not a religion!” She encourages her students to use what she teaches within their traditions, and to practice kindness.

Ma Jaya Sati Bhagavati là một người thầy tinh thần, nhìn xa trông rộng. Cô dạy rằng thiên tính là cuối cùng không thể tả và không có hình thức, Cô nói với chúng ta rằng tất cả các con đường của tình yêu có thể dẫn đến sự thức tỉnh tâm linh. Nhấn mạnh sự phát triển tinh thần cá nhân, cô dạy mọi người tìm kiếm ở tất cả các cấp độ mà không yêu cầu người học làm theo bất kỳ các chủ thuyết hay tín ngưỡng nào. Hoặc, như cô thường nói: “Đây không phải là một tôn giáo!” Cô khuyến khích học viên sử dụng và thực hành tử tế những gì cô gợi ý theo cách riêng của họ.

Video yêu thích
Ban Mai
MAR AKRAM – Dancing with the wind♥
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook