Lời đồng dao huyền thoại

Nhu ang may bayBay trên tổ chim cúc cu

Wire, briar, limber-lock
Three geese in a flock
One flew east, one flew west
And one flew over the cuckoo’s nest.

Dây dã tường vi thật dẻo dai
Ba con ngỗng trong một đàn
Một bay về Đông, một bay Tây
Và một bay trên tổ chim cúc cu.

Nhân loại
Nghìn năm trước
Bây giờ
và mãi mãi
là bài ca
khát khao Tự Do
và duy trì Kỷ luật.

Wire, briar, limber-lock
Three geese in a flock
One flew east, one flew west
And one flew over the cuckoo’s nest.

Dây dã tường vi thật dẻo dai
Ba con ngỗng trong một đàn
Một bay về Đông, một bay Tây
Và một bay trên tổ chim cúc cu.

Tách cà phê ban mai
Gió mù sương đầy núi
Suối nguồn thao thiết chảy
Nhạc rừng đầy tiếng chim …

Xem phim

Baytrentochimcuccu
Bìa Sách hay  và Xem phim: Bay trên tổ chim cúc cu

Giovanni Marradi – Garden of Dreams

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Đến với bài thơ hay

SongHuong

ÂN TÌNH

Hoàng Kim

Thương nước biết ơn bao người ngọc (*)
Vì dân qua bến nhẹ tênh lòng
Nhớ bao tài đức đời phiêu dạt
Ân tình lưu mãi những dòng sông.

(*) An Tư, Huyền Trân, Ngọc Hoa, Ngọc Vạn, …
(**) Chút Huế cho em (thơ Hoàng Kim)

TranXichBich

EM TÔI

Thuận Nghĩa

Bao người cũ đã mới rồi
Chỉ còn em vẫn kín thời ngày xưa
Đèo heo mấy bận mút mùa
Mờ môi hút gió nhặt thưa nụ cười

Bao người đã bỏ cuộc chơi
Riêng em nhặt nắng cuối trời ra hong…
Bò hóc mắm ủ lòng tong
Để cho bò tó ấm cùng hốc hang

Bao người miếng ngập giữa làng
Hạt mè hột đậu em rang đợi người
Trúc xinh đình rộng phỡn phơi
Em tôi lặng chín cả thời xưa nay

Không lời gửi cuối đuôi mày
Mà nghe đến tận ngất ngây mùa màng
Không lời yểm dụ kim thang
Em tôi bí rợ tập tàng hồn Quê

Em tôi
Cõi mộng
Tôi về…..

Xem tiếp
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

HoaMua
Hoa Mua rực rỡ trong nắng xuân

Hoa Mua

HOA MUA

Hoàng Kim

Vườn thiêng cổ tích tím hoa mua
Hoa em tím tái một giấc mơ.
Tháng ngày dầu dãi bao mưa nắng
Vẫn nở quanh năm, đẹp bốn mùa.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG


Chúc mừng Năm mới 2016 vui khỏe hạnh phúc

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

 

Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi

Hoàng Kim. Tôi chọn chép lại dưới đây năm bài thơ thần của  Nguyễn Trãi “Yên Tử” , “Ngôn chí”, “Quan hải”, “Hải khẩu dạ bạc hữu cảm”,“Oan thán” và  bài bình ” Trời ban tối biết về đâu?” của Vũ Bình Lục để góp phần tìm hiểu Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, bậc hào kiệt lỗi lạc, nhà chính trị kiệt xuất và danh nhân văn hóa. Giáo sư Phan Huy Lê  trong bài “Nguyễn Trãi – 560 năm sau vụ án Lệ Chi Viên” đã nhận xét: “Cho đến nay, sử học còn mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu và hành động lợi dụng việc từ trần đột ngột của vua Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giá hoạ dựng nên vụ án kết liễu thảm khốc cuộc đời của một anh hùng vĩ đại, một nữ sĩ tài hoa, liên luỵ đến gia đình ba họ. Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hi vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng. Với thời gian và những công trình nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà sử học, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà văn hoá…, lịch sử càng ngày càng làm sáng rõ và nâng cao nhận thức về con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, về những công lao, cống hiến, những giá trị đích thực của ông trong lịch sử cứu nước và dựng nước, lịch sử văn hoá của dân tộc”.

Tư liệu sáng giá nhất, rõ rệt nhất, sâu sắc nhất để minh oan cho Người trong tất cả những tư liệu lịch sử để lại thì chính lại là Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi, “Họa phúc có nguồn đâu bổng chốc, Anh hùng để hận mãi nghìn năm” “Số khó lọt vành âu bởi mệnh. Văn chưa tàn lụi cũng do trời “.

Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc nay là huyện Thường Tín, Hà Nội. Ông sinh năm 1380, mất năm 1442, cha là Nguyễn Phi Khanh, nguyên quán làng Chi Ngại , huyện Phương Sơn (Chí Linh, Hải Dương) mẹ là Trần Thị Thái, con gái của Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm 1400, lúc 20 tuổi, cha con đều từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Ông trở thành mưu sĩ bày tính mưu kế về mọi mặt chính trị, quân sự, ngoại giao của nghĩa quân Lam Sơn. Ông là quân sư kiệt xuất, trù hoạch mưu kế, viết thư thảo hịch. Ông là khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, được ban quốc tính. Năm 1433 ông đã viết văn bia Vĩnh Lăng nổi tiếng khi Lê Lợi mất. Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” (Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê). Ở thế kỉ 20, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá: “Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị ngoại giao” mở nền thái bình muôn thủa, rửa nỗi thẹn nghìn thu”; võ là quân sự : chiến lược và chiến thuật, “yếu đánh mạnh, ít địch nhiều … thắng hung tàn bằng đại nghĩa”; văn và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao… Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt trong lịch sử nước ta. (Nguồn: Nguyễn Trãi – Wikipedia tiếng Việt).

Những cống hiến của Nguyễn Trãi về chính trị, quân sự, ngoại giao, tư tưởng, văn chương, địa chí, văn hóa là đặc biệt to lớn. Tiếc rằng di sản văn học của ông hầu hết đã bị triều đình ra lệnh tiêu hủy, nay chỉ một phần nhỏ thơ văn còn sót lại trong toàn bộ trước tác đồ sộ của ông. Một số tác phẩm của Nguyễn Trãi còn lại như Bình Ngô đại cáo thiên cổ hùng văn viết năm 1428 lưu tryuền muôn đời và Quân trung từ mệnh tập gồm những thông điệp gửi cho bọn tướng giặc Minh là mẫu mực của văn chính luận sắc bén.  Dư địa chí là nguồn thông tin cương vực lãnh thổ quốc gia đặc biệt giá trị (trong Tổng tập Dư Địa Chí Việt Nam 4 quyển, quyển 1 trang 537-680 Viện Đại học Huế, Nhà Xuất bản Thanh Niên), Ức Trai thi tậpQuốc âm thi tập, Chí Linh sơn phú, Băng Hồ di sự lục . Nhiều tác phẩm đã bị thất lạc như Ngọc đường di cảo, Thạch khánh đồ, Luật thư, Giao tự đại lễ , v.v…

Cháu Hoàng Lê hỏi:  Ông ơi, ông có thể cho cháu ý kiến về định hướng tìm hiểu bài thơ “Hải khẩu dạ bạc hữu cảm” của Nguyễn Trãi được không ạ. Cháu có tìm hiểu nhưng có thể phần chìm của tác phẩm cháu chưa hiểu hết được. Cháu cảm ơn ông ạ !

Tôi nhắn với cháu là: “1) Hãy tìm hiểu kỹ cuộc đời và thơ văn Nguyễn Trãi, gắn thơ và đời, 2) Hiểu rõ hoàn cảnh ra đời tác phẩm và tư tưởng, cốt cách, minh triết xử thế của Nguyễn Trãi; 3) Đối chiếu so sánh nguyên tác với dịch nghĩa, và các bản dịch thơ, đặc biệt lưu ý các điển cố và nơi năm sáng tác. Nguyễn Trãi là danh nho chính phái, quan điểm làm thơ viết văn rất nghiêm cẩn như lời Khổng Minh: “nho cũng có nho quân tử, nho tiểu nhân; nho quân tử thì trung quân ái quốc, giữ chính ghét tà, chăm những sự ơn khắp đời, để tiếng về sau, nho tiểu nhân thì chỉ chăm văn chương, nghiên bút, phú kinh, bút múa thì hay, ruột thì rỗng tuếch, …” quan điểm văn chương tác động sâu sắc chất lượng sáng tác. Hiểu đúng Nguyễn Trãi mới có thể mới định hướng đúng, bình đúng khi tìm hiểu thơ Nguyễn Trãi. Mời đọc 5 bài thơ trong Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi và một bài bình ” Trời ban tối biết về đâu?” của Vũ Bình Lục. Bài thơ nếu đặt trong bối cảnh giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến thì sẽ khác xa bối cảnh giai đoạn cuối đời của ông. Để hiểu bài thơ “Hải khẩu dạ bạc hữu cảm” cháu cần lưu ý ba điểm lưu ý định hướng trên.

Hoan nghênh những ý kiến đóng góp trao đổi của mọi người tại đây và tại KimonFaceBook

NGÔN CHÍ

Am trúc, hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến chốn yên hà
Cơm ăn dù có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
Nước dưỡng cho thanh, trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải luống ương hoa
Trong khi hứng động bề đêm tuyết
Ngâm được câu thần dững dưng ca

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

QUAN HẢI

Nguyên văn chữ Hán

樁木重重海浪前
沉江鐵鎖亦徒然
覆舟始信民猶水
恃險難憑命在天
禍福有媒非一日
英雄遺恨幾千年
乾坤今古無窮意
卻在滄浪遠樹烟

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền
Trầm giang thiết tỏa diệt đồ nhiên
Phúc chu thủy tín dân do thủy
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng[3] di hận kỷ thiên niên.
Càn khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang viễn thụ yên.

Dịch nghĩa : NGẮM BIỂN

Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt ngầm dưới sông cũng vậy thôi.
Thuyền bị lật mới tin rằng dân là như nước
Cậy đất hiểm cũng khó dựa, mệnh là ở trời.
Họa phúc có manh mối không phải một ngày
Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau.
Lẽ của trời đất và xưa nay, thực là vô cùng
Vẫn là ở chỗ sắc nước bát ngát, cây khói xa vời

CỬA BIỂN

Lớp lớp cọc ngăn giữa sóng nhồi
Thêm ngầm dây sắt – uổng công thôi !
Lật thuyền, thấm thía dân như nước
Cậy hiểm, mong manh : mệnh ở trời
Hoạ phúc có nguồn, đâu bỗng chốc ?
Anh hùng để hận, dễ gì nguôi ?
Xưa nay trời đất vô cùng ý
Nơi sóng xanh cây khói tuyệt vời

(Bản dịch của HƯỞNG TRIỀU)

YÊN TỬ

Nguyên văn chữ Hán

 安子山花煙寺

安山山上最高峰,
纔五更初日正紅。
宇宙眼窮滄海外,
笑談人在碧雲中。
擁門玉槊森千畝,
掛石珠流落半空。
仁廟當年遺跡在,
白毫光裏睹重瞳。

Ðề Yên Tử sơn Hoa Yên tự

Yên Sơn sơn thượng tối cao phong
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu
Quải thạch châu lưu lạc bán không
Nhân miếu đương niên di tích tại
Bạch hào quang lý đổ trùng đồng.

YÊN TỬ

Đề chùa Hoa Yên, núi Yên Tử
Nguyễn Trãi

Non thiêng Yên Tử đỉnh kỳ phong
Trời mới ban mai đã rạng hồng
Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả
Nói cười lồng lộng giữa không trung
Giáo trúc quanh chùa giăng nghìn mẫu
Cỏ cây chen đá rũ tầng không
Nhân Tông bảo tháp còn lưu dấu
Mắt sáng hào quang tỏa ánh đồng

(Bản dịch của Hoàng Kim)

Trên dải Yên Sơn đỉnh tuyệt vời
Đầu canh năm đã sáng trưng rồi
Mắt ngoài biển cả ôm trời đất
Người giữa mây xanh vẵng nói cười
Giáo ngọc quanh nhà giăng vạn khoảnh
D4i châu treo đá rũ lưng trời
Nhân Tông còn miếu thời nao đó
Thấy rõ đôi ngươi giữa ánh ngời (1)

(1) Tương truyền vua Trần Nhân Tông mắt có hai con ngươi
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

Trên núi Yên Tử chòm cao nhất
Vừa mới canh năm đã sáng trời
Tầm mắt bao trùm nơi biển tận
Từng mây nghe thoảng tiếng ai cười
Rừng vươn giáo dựng tre nghìn mẫu
Đá rũ rèm buông nhũ nửa vời
Miếu cổ Nhân Tông hằng để dấu
Mắt còn trắng tỏa ánh đôi ngươi.

(Bản dịch của Lê Cao Phan)

Trên non Yên Tử chòm cao nhất,
Trời mới canh năm đã sáng tinh.
Vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả,
Nói cười người ở giữa mây xanh.
Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa,
Bao dãi tua châu đá rủ mành.
Dấu cũ Nhân tôn còn vẫn đấy,
Trùng đồng thấy giữa áng quang minh.

(Bản dịch của nhóm Đào Duy Anh)
Nguồn: Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh, NXB Khoa học xã hội, 1976

Trên non Yên Tử ngọn cao nhất
Chỉ mới canh năm sáng đỏ trời!
Ngoài vũ trụ xanh màu biển thẳm
Giữa mây biếc rộn tiếng người cười.
Cửa cài ngọc dựng, ken nghìn mẫu
Đá rũ châu rơi, rớt nửa vời!
Miếu cổ Nhân Tông di tích đó
Đôi mày sáng trắng rực hai ngươi!

(Bản dịch của Lâm Trung Phú)

HẢI KHẨU DẠ BẠC HỮU CẢM (I)

Nguyên văn chữ Hán
一別江湖數十年,
海門今日繫吟船。
波心浩渺滄洲月,
樹影參差浦漵煙。
往事難尋時易過,
國恩未報老堪憐。
平生獨抱先憂念,
坐擁寒衾夜不眠。
Nhất biệt giang hồ sổ thập niên,
Hải môn kim nhật hệ ngâm thuyền.
Ba tâm hạo diểu thương châu nguyệt
Thụ ảnh sâm si phố tự yên .
Vãng sự nan tầm thời dị quá.
Quốc ân vị báo lão kham liên.
Bình sinh độc bão tiên ưu niệm,
Toạ ủng hàn khâm dạ bất miên.

Dịch nghĩa
Từ ra đi khoảng giang hồ đã mấy chục năm
Cửa biển tối nay mới buộc thuyền thơ
Lòng nước mênh mông, trăng chiếu trên bãi
Bóng cây so le, mặt vụng khói lồng
Việc xưa khó tìm, thời dễ qua mau lắm
Ơn nước chưa đền, mà đã già đáng thương
Bình sinh một mình ôm cái chí lo trước
Ngồi ôm chăn lạnh không ngủ suốt đêm

Cảm hứng đêm đậu thuyền ở cửa biển (I)

Bao năm xa cách sông hồ,
Ðêm nay lại buộc thuyền thơ chốn này.
Mênh mông sóng bãi trăng đầy.
Khói lồng bến nước bóng cây im lìm.
Thời qua, việc cũ khó tìm
Chưa đền ơn nước buồn thêm tuổi già.
“Tiên ưu” ray rứt lòng ta,
Khoác chăn trằn trọc canh tà khôn khuây…

(bản dịch của Lê Cao Phan)

Bao năm hồ hải, hứng hoài sinh
Bước khắp đất trời dạ nhẹ thênh
Xuân sắc bày tranh, nhìn đắm đuối
Triều âm vỗ gối, mộng yên lành
Vô tình tuế nguyệt tô đầu bạc
Nhất niệm quân thân giữ tấc thành
Sự nghiệp đời ta, cười chí phải
Lãi chăng ôi! Một chút phù danh…

(bản dịch của Lê Cao Phan)

Hồ hải lâu nay hứng chửa tàn,
Đất trời đâu chẳng thấy lòng khoan.
Xuân bày trước mắt người say ngắm,
Sóng vỗ bên đầu mộng muốn tan.
Ngày tháng vô tình hai mái bạc,
Vua cha để dạ một niềm đan.
Suốt đời sự nghiệp nên cười thực,
Lãi được sống thừa giữa thế gian.

(bản dịch của nhóm Đào Duy Anh)
Nguồn: Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh, NXB Khoa học xã hội, 1976

Hồ biển ngao du hứng chứa chan,
Đất trời đâu cũng thoáng tâm can.
Sắc xuân quanh mắt, lòng ngây ngất,
Tiếng sóng hòa mơ lạnh dưới màn.
Năm tháng vô tình hai mái bạc,
Lòng son trọn vẹn nghĩa quân thân.
Đáng cười sự nghiệp đời ta nhỉ?
Được chút phù sinh giữa thế gian.

(bản dịch của Huy Cận)

Bao năm chưa thỏa hải hồ
Ðất trời, đâu cũng mến ưa trong lòng.
Sắc xuân say đắm não nùng,
Sóng nghe bên gối lạnh lùng mưa hoa.
Tháng năm buồn tóc sương pha
Vua tôi nghĩa nặng lòng ta há dời.
Cười thay, sự nghiệp một đời!
Chút hư danh, gửi miệng người thế gian…

(Bản dịch của Nguyễn Tấn Hưng)

OAN THÁN

Nguyên văn chữ Hán

浮俗升沉五十年
故山泉石負情緣
虛名實禍殊堪笑
眾謗孤忠絕可憐
數有難逃知有命
大如未喪也關天
獄中牘背空遭辱
金闕何由達寸箋

Phù tục thăng trầm ngũ thập niên ;
Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.
Hư danh thực họa thù kham tiếu ;
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.
Số hữu nan đào tri thị mệnh ;
Văn như vị táng dã quan thiên.
Ngục trung độc bối[1] không tao nhục ;
Kim khuyết hà do đạt thốn tiên ?

Dịch nghĩa THAN NỔI OAN

Nổi chìm trong phù tục đã năm chục năm,
Đành phụ tình duyên với khe và đá của núi cũ.
Danh hư mà họa thực, rất đáng buồn cười ;
Lắm kẻ ghét một mình trung, rất đáng thương hại.
Khó trốn được số mình, biết là vì mệnh ;
Tư văn như chưa bỏ, cũng bởi ở trời.
Trong ngục viết ở lưng tờ, khi không bị nhục ;
Cửa khuyết vàng làm thế nào mà đạt được tờ giấy lên ?

Dịch Thơ: THAN NỔI OAN:

Biển tục thăng trầm nữa cuộc đời
Non xưa suối đá phụ duyên rồi
Trung côi , ghét lắm, bao đau xót
Họa thực, danh hư , khéo tức cười
Số khó lọt vành âu bởi mệnh
Văn chưa tàn lụi cũng do trời
Trong lao độc bối cam mang nhục
Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?

Bản dịch của Thạch Cam

Năm mươi năm thế tục bình bồng
Khe núi lòng cam bội ước chung
Cười nạn hư danh, trò thực họa
Thương phường báng bổ kẻ cô trung
Mạng đà định số, làm sao thoát
Trời chửa mất văn, vẫn được dùng
Lao ngục đau nhìn lưng mảnh giấy
Oan tình khó đạt tới hoàng cung.

Bản dịch của Lê Cao Phan

TRỜI BAN TỐI, BIẾT VỀ ĐÂU?

Vũ Bình Lục

(Về bài thơ NGÔN CHÍ – SỐ 13 của Nguyễn Trãi)

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

Nguyễn Trãi sống cách chúng ta khoảng sáu trăm năm. Riêng nói về thơ Nôm, dẫu thất lạc sau thảm hoạ tru di năm 1442, cũng còn được hơn 250 bài. Có thể nói, Nguyễn Trãi đã dựng lên một tượng đài sừng sững bằng thơ, mà trước hết là thơ viết bằng ngôn ngữ dân tộc-Thơ Nôm. Chùm thơ “Ngôn chí” có rất nhiều bài hay, đọc kỹ, nghiền ngẫm kỹ mới thấy cái hay, bởi chữ Nôm cách nay sáu trăm năm, rất nhiều từ nay không còn dùng nữa, hoặc rất ít dùng. Phải tra cứu một số từ, một số điển tích, mới dần sáng tỏ một hồn thơ lớn, lớn nhất, trong lịch sử thơ ca Việt Nam!

Đây là bài Ngôn chí số 13, do những người biên soạn sách Tuyển tập thơ văn Nguyễn Trãi sắp xếp.

Hai câu đầu:
Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu

Hai câu thơ đơn thuần chỉ là tả cảnh, đặc tả một buổi chiều, mà gam màu chủ đạo là màu vàng thẫm rất quen mà huyễn hoặc. Bóng chiều tà đã ngả, đang quấn lấy một ngôi lầu ở bên sông, hay đang trùm lên ngôi lầu bên sông một màu vàng thẫm. Nhưng có điều cần lưu ý, đây là ngôi lầu giành cho đàn bà con gái thuộc tầng lớp quý tộc giàu sang, trong một không gian rộng lớn và yên tĩnh, rất yên tĩnh. Câu tiếp theo mới thật diễm lệ: Thế giới đông nên ngọc một bầu. Vậy thế giới đông là gì? Theo điển dẫn, đông chính là khí tốt, khí thiêng của thế giới, của vũ trụ đông đặc lại mà thành phong cảnh đẹp như ngọc. Thế đấy! Còn như Bầu, cũng theo điển sách Đạo gia, kể rằng Trương Thân thường treo một quả bầu rất lớn, hoá làm trời đất, ở trong cũng có mặt trời mặt trăng, đêm chui vào đó mà ngủ, gọi là trời bầu, hay bầu trời cũng vậy…Quả là một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ, rất xưa, tinh khiết và tráng lệ, dường như đã đạt đến mức cổ điển!

Đấy là hai câu thất ngôn. Hai câu tiếp theo, lại là lục ngôn, vẫn tiếp tục tả cảnh:
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giải nguyệt in câu.

Tuyết sóc, nghĩa là tuyết ở phương bắc (sóc) chả biết gieo xuống từ bao giờ, mà còn giăng mắc trên những cành cây như những bông hoa trắng muốt, như điểm phấn cho cây, trang trí làm đẹp cho cây. Có người bảo nước ta làm gì có tuyết, chỉ là ước lệ cho đẹp văn chương mà thôi. Nhưng họ nhầm đấy! Các tỉnh phía Bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang và chắc là còn một số nơi khác nữa ngày nay vẫn có tuyết, nhiều nữa kia. Vậy thì sao thơ văn ngày xưa các cụ ta nói đến tuyết, con cháu lại hàm hồ bác bỏ? Cách đây mấy trăm năm, sao lại không thể không có tuyết mà các cụ phải đi mượn của người? Phía bắc là tuyết, là hoa tuyết điểm phấn cho cây, thì Cõi đông giải nguyệt in câu. Phương đông in một giải lụa trăng vàng óng. Thế là cả một không gian rực rỡ sắc màu. Màu trắng của tuyết hoa tương ánh cùng màu vàng của ánh nguyệt in bóng nước, của chiều tà vàng thẫm, tạo một bức tranh vừa rộng vừa sâu, gợi một khoảnh khắc giao thoa hỗn mang rất nhiều tâm trạng.

Hai câu tiếp theo, vẫn cấu trúc bằng lục ngôn:
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu

Bây giờ là sương khói trong chiều muộn. Cúi xuống nhìn dòng nước, thấy khói chiều in xuống mặt nước trong veo phẳng lặng. Quyên, từ cổ là mặt nước trong, do đó quyên phẳng nghĩa là mặt nước trong phẳng lặng, như thể nhìn rõ khói chiều đang chìm dưới đáy nước. Rõ là nước lộn trời, vàng gieo đáy nước, “Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”. Có lẽ Nguyễn Du mấy trăm năm sau đã tiếp thu tinh thần của câu thơ Nguyễn Trãi mà sáng tạo lại trong Truyện Kiều câu thơ trên, khi mà tiếng Việt đã đạt đến độ nhuần nhuyễn và trang nhã chăng? Còn trên trời thì đàn chim nhạn đang xếp hình chữ triện mà mỏi mệt bay về rừng tìm chốn ngủ. Và gió nhẹ, thổi rỗng cả trời…

Cảnh chỉ là điểm xuyết, mà gợi nên bức tranh đủ sắc màu, rất sống động, và tiếp đó, nó như thể đang chuyển động dần về phía đêm tối, về phía lụi tàn.

Hai câu cuối, tác giả viết:
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối ước về đâu?

Con thuyền nhỏ nhoi (Thuyền mọn) của Tiên sinh, hay con thuyền của một vị khách nào đó, vẫn còn đang mải miết chèo trên sông, như chẳng muốn dừng lại. Trong nhập nhoạng bóng tà, con thuyền mọn như càng nhỏ bé hơn, chưa muốn, hay chưa tìm được nơi đỗ lại mà nghỉ ngơi, hay bởi vì Trời ban tối, ước về đâu, biết về đâu? Câu bảy thất ngôn, dàn trải thêm, biểu hiện sự buông thả, lửng lơ, phân vân… Câu tám bỗng đột ngột thu lại lục ngôn, như một sự dồn nén tâm sự.

Có bao nhiêu phần trăm sự thực trong bức tranh chiều tà bên sông lộng lẫy mà buồn? Có lẽ cũng chẳng nên đặt vấn đề cân đong cụ thể, bởi thơ nhìn chung là sản phẩm sáng tạo của trí tưởng tượng, thực và ảo hoà trộn đan xen. Hai câu kết của bài thơ xem ra mới thật sự là tâm điểm của bài thơ. Phải chăng, con thuyền mọn kia, chính là hình ảnh Ức Trai Tiên sinh, như con thuyền nhỏ bé ấy, đang một mình đi tìm bến đỗ, mà chưa tìm thấy nơi đâu là bến là bờ? Từ cái ngôn chí này, có thể ước đoán Ức Trai viết bài thơ này vào thời điểm quân Minh đang đô hộ nước ta, Ức Trai đang bị giam lỏng ở thành Đông Quan, chưa tìm được minh chủ mà đem tài giúp nước? Cũng có thể đây là thời điểm Nguyễn Trãi bị thất sủng, về ở ẩn tại Côn Sơn, trong hoàn cảnh chính sự trong nước đang rất đen tối, nhất là ở nơi triều chính. Nguyễn Trãi từ tin tưởng, đến nghi ngờ và thất vọng trước thực tại đau lòng: Biết bao trung thần bị hãm hại, còn lũ gian thần hiểm ác nổi lên như ong, nhũng lọan cả triều đình. Làm sao mà không bi quan cho được khi mà Trời ban tối, biết về đâu?

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Ngày Quốc tế Hạnh phúc

203NgayQuocTeHanhphuc
Chào ngày mới 20 tháng 3 ngày Quốc tế Hạnh phúc. Chỉ số hạnh phúc đánh giá chất lượng cuộc sống có ba trụ cột chính:  sức khỏe và tình yêu; chất lượng của môi trường;  mức sống của người dân. Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20 tháng 3 là ngày được Liên Hợp quốc chọn  tôn vinh niềm hạnh phúc của nhân loại trên thế giới với mục tiêu không chỉ là ngày mang ý nghĩa biểu tượng mà còn là ngày của hành động, nỗ lực nhiều hơn để đem lại hạnh phúc tốt hơn cho người người trên trái đất.

Xuân phân năm ngoái, chúng tôi thành công với lúa siêu xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu, năng suât cao chất lượng tốt trên đồng ruộng. Tôi trở về nhà dọn vườn, may mắn được chứng kiến đôi chim trĩ quý về làm tổ ở vườn nhà và tôi nhặt được 18 cái lông chim. Tôi đã viết bài Nhà tôi có chim về làm tổ và Chào em ngày mới nắng đầy tiếng chim.

Xuân phân năm nay, tôi thật vui khi nông dân hài lòng với Năm giống sắn mới ở Phú Yên. Khi về nhà lại vui đọc được bài viết hay nói về môi trường ” “Năm Mùi sẽ  đủ thứ mùi / Mùi thơm xin giữ, mùi hôi xin đừng!”  của tiến sĩ Tô Văn Trường trên trang blog giáo sư Nguyễn Lân Dũng.

Chào mọi người 20 tháng 3 ngày Quốc tế Hạnh phúc vui khỏe.

Hoàng Kim

 

Xem thêm:

NĂM MÙI SẼ … ĐỦ THỨ MÙI
MÙI THƠM XIN GIỮ, MÙI HÔI XIN ĐỪNG

Tô Văn Trường

Nhân dịp năm mới Ất Mùi, chúng ta cùng đàm đạo về lĩnh vực môi trường để tống cựu, nghênh tân: “Năm Mùi sẽ  đủ thứ mùi / Mùi thơm xin giữ, mùi hôi xin đừng!”  Năm 2014 đã qua, với nhiều biến động, khó khăn và thách thức, tác động  rất lớn đến đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là môi trường sống của người dân.

Thành tựu

Năm 2014 ghi dấu ấn về những thành công của Bộ Tài nguyên & Môi trường trong công tác xây dựng thể chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường. Luật bảo vệ môi trường đã được thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Đây là tiền đề để xây dựng và từng bước hoàn thiện việc phân vùng môi trường và xác định khả năng tiếp nhận của các thành phần môi trường nhằm hoạch định các định hướng phát triển đảm bảo phát triển bền vững, xây dựng mạng lưới quan trắc và dữ liệu môi trường nền phục vụ việc phân tích đánh giá các tác động môi trường.

Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường tiếp tục được tăng cường,  tiến hành xử phạt đối với 302 đối tượng được thanh tra và 42 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng với tổng số tiền xử phạt là hơn 62 tỷ đồng. Tạm đình chỉ hoạt động đối với 37 cơ sở/bộ phận gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường ngày càng tăng, đến nay, cả nước có 148/194 khu công nghiệp (đạt 76,3 %, tăng 7 KCN so với năm 2013) đã có hệ thống xử lý nước thải theo quy định; 19 khu công nghiệp (10%) đang đầu tư xây dựng hệ thống xử lý; chỉ còn 13,7% số khu công nghiệp còn lại hoạt động trước khi có Luật bảo vệ môi trường năm 2005 chưa có hệ thống xử lý nước thải.

Triển khai thực hiện các đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông năm 2014 đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường lưu vực sông đã được bổ sung và dần hoàn thiện từ Trung ương xuống địa phương.  Về lĩnh vực đa dạng sinh học có khởi sắc hơn, nhờ sự quan tâm của các cơ quan chức năng về môi trường.

Các vấn nạn về môi trường

Rác điện tử, rác kim loại nặng, rác công nghiệp… Còn thêm bao nhiêu máy vi tính và mobile phế thải hàng năm? Phế thải không chỉ vì hư hỏng, mà còn vì giới trẻ chạy theo phong cách, thời trang do các quảng cáo cổ vũ. Nhà máy của Hyundai Vinashin ở Ninh Hòa là một hình thức ẩn giấu việc ta làm đống rác cho người. Họ có tàu cần tân trang nhưng không muốn gây ô nhiễm do hạt nix bên nước họ, bèn dựng nhà máy làm việc này ở Việt Nam.  Họ “ngoại giao” với giới chức Việt Nam xong rồi cứ thế mà gây ô nhiễm!

Hệ thống đường bộ.

Sự chậm phát triển và thi công lôi thôi hệ thống đường bộ gây vấn nạn lớn lao về môi trường. Xe chạy ì ạch, lại chạy trên nền đường chất lượng kém thải ra rất nhiều khí ô nhiễm và khí nhà kính cho mỗi km hành trình so với nước người. Đường mới làm  giá thành rất cao, nhanh lún, dăm ba năm sau phải dặm vá hàng loạt, trong khi đường cao tốc bên Thái Lan sau dăm, mười năm sử dụng dấu dặm vá rất ít. Người ta chạy bon bon 100-120 km/giờ  suốt tuyến, bên ta chỉ đến 60-80 km/giờ,  lại phải phanh khi lên và xuống cầu. Mỗi lần phanh là thêm khí ô nhiễm và khí nhà kính.

Thêm một vấn đề là không hiểu sao bánh xe bên ta khi bị bào mòn bởi mặt đường thải ra nhiều kim loại nặng, trong khi bánh xe ở các nước phát triển không đến nỗi tệ hại như thế. Kim loại nặng bốc lên theo bụi đi vào phổi người tham gia giao thông, rồi khi có mưa lan xuống sông rạch. Quá nguy hại! Hãy xem Xa lộ Hà Nội: vừa mới mở rộng đường song hành 2 bên nhưng chẳng bõ bèn gì, ùn tắc ngày càng nghiêm trọng. Như bên Bangkok, khi gặp vấn nạn tương tự thì họ xây hẳn đường trên cao 6 làn xe thì mới giải quyết được.

Asbestos (amiăng).

Các nước đã cấm sử dụng asbestos (amiăng) từ lâu. Đã có khuyến cáo nên làm theo ở Việt Nam, nhưng  mỗi lần khuyên đều bị bác bỏ. Do nhóm lợi ích chăng? Gần đây các tổ chức chuyên môn quốc tế cảnh báo tất cả các loại asbestos đều độc hại nhưng phía Việt Nam có người vẫn còn biện hộ asbestos là không độc!?

Môi trường nông thôn.

Môi trường đô thị đang dần được cải thiện, nhưng môi trường nông thôn ngày càng xuống cấp, về mặt quản lý nước thải, bảo vệ nguồn nước uống, quản lý rác… Nhiều vùng nông thôn 100%  trẻ em bị giun sán, do thiếu cầu tiêu, thiếu tuyên truyền về sự nguy hại của phân người không được kiểm soát. Việc đốt rác sinh ra dioxin thì ai trong ngành cũng biết, nhưng không thấy các cơ quan y tế, môi trường…. cấm đốt rác và chỉ dẫn cách quản lý rác tốt hơn. Cứ cái đà này thì chẳng bao lâu nữa các vùng nông thông tươi đẹp bị nhiễm dioxin còn hơn là do Mỹ rải xuống thời chiến!

Rồi bao nhiêu lưu vực nông thôn bị ô nhiễm nước? Những nơi mà từ xưa dân ta vẫn múc nước kênh rạch lên lóng phèn rồi uống. Bây giờ nhiều người biết uống như thế là quá nguy hại nhưng có nhiều người vẫn chưa biết.

Ô nhiễm hóa chất.

Các loại hóa chất bị cấm hoặc không có trong danh mục được phép sử dụng vẫn được dùng tràn lan. Chợ Kim Biên là một ví dụ điển hình: ngang nhiên buôn bán bao nhiêu thứ độc hại từ bấy lâu nay. Hóa chất đi vào đồng ruộng, nương rẫy, ao tôm cá.  Người sử dụng không dám ăn sản phẩm họ dùng hóa chất, mà tách ra một ao nhỏ, một thửa đất nhỏ để nuôi trồng riêng mà dùng trong gia đình họ. Còn có hóa chất tẩm rau cho đẹp, hóa chất thúc gia súc mau lớn, hóa chất thúc trái non chín đẹp hoặc hóa chất giữ trái tươi mấy tháng trời. Nguy cơ lớn nhất là hóa chất độc trong thực phẩm nhập từ Trung Quốc, đặc biệt là hàng nhập lậu.

Hóa chất đi vào cơ thể con người trước mắt không thấy gì, nhưng cả dân tộc này sau dăm ba chục năm không rõ sẽ ra sao. Viêm gan? Viêm tụy? Viêm gì gì nữa? Ung thư? Sinh con dị dạng? Gen bị biến dạng? Tức là tác hại có thể không lường được, không thể nào tưởng tượng nổi. Nhiều sản phẩm nông nghiệp đã và đang đầu độc cả dân tộc.

Thủy điện tàn phá môi trường.

Thủy điện làm ngập lụt đất mầu mỡ nhất trong vùng, phá rừng ngay tức thì để xây dựng và cũng mở đường cho việc phá thêm rừng trong tương lai. Chỉ vì thủy điện, lâm tặc lợi dụng tàn phá  cả rừng nguyên sinh. Nhiều nhóm lợi ích chỉ biết kiếm tiền từ thủy điện mà không màng gì đến các biện pháp nêu ra trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, tái tạo rừng bị tàn phá, bảo vệ rừng còn sót lại, chăm lo cho dân tái định cư để họ có cuộc sống ổn định mà không phải phá rừng.

Nước thải.

Xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa đạt được tiến độ đề ra. Nhiều khu công nghiệp và khu dân cư không có hệ thống nghiền và xử lý chất thải ở mức chuẩn tối thiểu. Các chất thải không được qua xử lý bị xả ra sông, hồ xung quanh các thành phố. Các con sông như Tô Lịch, Kim Ngưu và sông Sài Gòn vẫn còn bị ô nhiễm nghiêm trọng. Các công nghệ xử lý nước thải được phát triển và ứng dụng được ở Việt Nam  (công nghệ vi sinh, ozon, màng, xúc tác quang hóa,…). Tuy nhiên, vì nhiều lý do,  các doanh nghiệp vẫn phải nhập công nghệ từ nước ngoài.

Xử lý khí

Vẫn rất nan giải do chi phí phải bỏ ra và các công nghệ tương thích chưa được nghiên cứu kỹ . Ô nhiễm không khí tại các thành phố lớn vẫn còn nghiệm trọng (do bụi, khí thải từ giao thông và từ các khu công nghiệp,…)

Chất thải rắn

Phương pháp chôn lấp giảm vì liên quan đến diện tích đất. Công nghệ thiêu đốt nổi trội hơn: đốt phát điện; nước rỉ rác có công nghệ xử lý được; rác được phân loại bằng máy tại cơ sở xử lý; Rác thải  y tế: công nghệ  tốt nhưng chi phí cao nên khó khả thi . Hiện một số cơ sở ứng dụng vi sóng và hấp để khử trùng

Đất nhiễm dioxin được xử lý theo công nghệ nhiệt phân và dùng tiền của Mỹ là chính. Nền kinh tế đất nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nguồn lực của doanh nghiệp và thu nhập của của người dân bị sụt giảm dẫn đến đầu tư cho bảo vệ môi trường không còn được quan tâm đúng mức.

Thay cho lời kết

Năm 2015 là năm đầu tiên Luật Bảo vệ môi trường 2014 và các Nghị định hướng dẫn có hiệu lực thi hành.

Tất cả các vấn nạn về môi trường nói trên đều có tầm mức lớn lao trong lâu dài, không thể giải quyết là xong ngay. Giá như các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm kiểm toán môi trường thiết lập được mối liên kết chặt chẽ với giới truyền thông để hàng ngày, hàng giờ thông báo cho công chúng các chỉ số ô nhiễm môi trường đặc biệt liên quan đến nước, không khí, mức độ nhiễm độc của thực phẩm , rau quả thì nhận thức của xã hội sẽ thay đổi. Từ sự thay đổi đó sẽ hình thành động lực hành động nhằm bảo vệ môi trường. Nói rộng ra thì chính sự minh bạch và giải trình mới là điều không thể thiếu .

CHÀO EM NGÀY MỚI NẮNG ĐẦY TIẾNG CHIM

Hoàng Kim

NGỌC PHƯƠNG NAM. Ngày trước tôi đã kể tặng các bạn câu chuyện: Nhà tôi có chim về làm tổ. Ngày hạnh phúc và 18 lông chim. Vườn cổ tích anh và em. Nay có chùm ảnh mới đẹp và lạ: Chim Phượng Hoàng đất vườn nhà tôi. Chào em ngày mới nắng đầy tiếng chim

Tổ chim Trĩ (Phương Hoàng đất) trên cây lộc vừng trước cửa nhà tôi bị gió lớn hất xuống sân. Con chim Trĩ non mới nở được nhà tôi cho vào một chiếc rỗ con treo lên cây để chim bố mẹ hàng ngày có thể cho ăn. Tối qua đi Phú Yên về, tôi rọi đèn ra thăm, trăng 16 đã hơi muộn. Chim non cánh vẫn còn ngắn… Sáng nay, nghe tiếng líu ríu của bố mẹ, hai con chim Phượng sà xuống lần lượt cho con ăn và gù rất lạ như là khuyến khích con bay lên.


Đột nhiên chim Trĩ non bật dậy nhảy lên thành rỗ. Sau khi lấy đà, nó bay vù qua nơi chảng ba của cây lộc vừng với sự háo hức lạ. Sau đó bổ nhào xuống cây sơn và đậu vững vàng như một con chim thành thục. Cặp Phượng Hoàng đất chuyền cành trên cây me cho con xanh mướt như ngọc và hót vang. Con chim non rướn mình bay lên khóm mai và cũng líu ríu. Nó đã tự tin và đang học bay.


Thốt nhiên tôi nhớ lời Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: “Chim Hồng hộc bay được cao và xa là nhờ sáu cái trụ lông cánh, nếu không khác gì chim thường”.

18 lông chim
20 tháng 3 năm 2014 là ngày quốc tế hạnh phúc,ngày xuân phân may mắn. Nhà tôi có chim về làm tổ. Tôi nhặt được 18 lông chim trong đó có 9 lông chim trĩ dưới gốc Cây bồ đề nhà tôi ra lá non sau khi Thăm siêu lúa xanh ở Phú Yên.

 

Bồ đề ra lộc non
Cây bồ đề nhà tôi ra lá non

 

Bạn còn nhớ bài thơ: Nhà tôi có chim về làm tổ mà tôi đã kể bạn nghe trước đây. Vườn nhà tôi có cặp chim trĩ về làm tổ sinh ra bầy chim trĩ con tuyệt đẹp. Những cây cao trong vườn có cò, chào mào, sáo sậu, yến, …và sóc về khá nhiều. Chim hót đủ giọng và sóc chuyền cành thật vui. Trong ngày quốc tế hạnh phúc tôi tìm được18 lông chim trong đó có 9 lông chim trĩ  (phượng hoàng đất) * rãi rác ở dưới gốc bồ đề, khóm trúc, vườn mai, khế, vú sữa … Thật đúng là sự may mắn an nhiên và niềm vui tình yêu cuộc sống.

 

NHÀ TÔI CÓ CHIM VỀ LÀM TỔ

 

Hoàng Kim

Thích quá đi.
Nhà tôi có chim về làm tổ
Cây bồ đề cuối vườn
Cò đêm về trắng xóa

Gốc me cho con
Xanh non màu lá
Ong đi rồi về
Sóc từng đàn nhởn nhơ.

Cây sơ ri ba mẹ trồng
Lúc con tuổi còn thơ
Nay như hai mâm xôi
Tròn đầy trước ngõ.

Cây mai Bác trồng
Bốn mùa hoa thương nhớ
Trúc xanh từ non thiêng Yên Tử
Trúc vàng ân nghĩa Đào Công

Em ơi!
Hôm nay trên cây lộc vừng
Chim phượng về làm tồ
Mẹ dạy con tập bay
Sao mà đẹp thế !

Đá vàng trao hậu thế
Người hiền noi tiếng thơm …

Bồ đề nhà tôi

(*) Ghi chú: Chim trĩ (Phượng hoàng đất –  Buceros bicornis) có nhiều loại chim trĩ đỏ , chim trĩ  xanh, … và chim trĩ đen. Trong dân gian nó được ẩn dụ với loài chim phượng hoàng cao quý rất hiếm thấy,  một trong tứ linh (long , ly, quy phượng), mà nếu ai gặp được thì rất may mắn. Theo Truyền thuyết về chim phượng hoàng thì  Phượng hoàng là biểu thị cho sự hòa hợp âm dương , biểu tượng của đức hạnh và vẻ đẹp duyên dáng, thanh nhã . Phượng Hoàng xuất hiện ở nơi đất lành và thời thịnh vượng, là điềm lành. Rồng và Phượng (hoàng) là biểu tượng cho hạnh phúc vợ  chồng, hòa hợp âm dương và thường được trang trí, chúc phúc trong các đám cưới ở Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước châu Á. Theo Kim Anh nguồn VN Express. Phượng hoàng đất ở Tràng An  thì  phượng hoàng đất là hoàn toàn có thật. Phượng hoàng đất có tên khoa học là Buceros bicornis, loài to nhất trong họ hồng hoàng, cư trú trong một số khu rừng ở Việt Nam và Tràng An Ninh Bình là nơi được nhắc đến nhiều nhất . Chim trĩ nhà tôi là loài chim lông xanh đen (ảnh minh họa) mà tôi chưa có điều kiện để tra cứu kỹ ở Sinh vật rừng Việt Nam.

chim-phuong-hoang-dat-9781-1381131449.jp

Video yêu thích  
Casava in Vietnam: Save and Grow, PhuYen
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim
Ngọc Phương Nam
Thung dung
Dạy và học
Cây Lương thực
Dạy và Học
Tình yêu cuộc sống
Kim on LinkedIn
Kim on Facebook

Tình yêu cuộc sống

e3d04-rose2banimation
KHÁT KHAO XANH.  Just For You là bản nhạc hay của Giovani Marradi được biên tập video hình ảnh đẹp bởi Andreea Petcu. Chào ngày mới tốt lành.