Ngày Quốc tế Hạnh phúc


Ngày Quốc tế Hạnh phúc được Liên Hiệp Quốc lựa chọn là ngày 20 tháng 3 hằng năm theo đề xuất của Vương quốc Bhutan ở Nam Á, phía Đông của dãy Himalaya. Thông điệp này được Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki- moon chính thức công bố tại hội nghị  Liên Hiệp Quốc ngày 28 tháng 6 năm 2012 và đã được 193 nước thành viên Liên Hiệp quốc, trong đó có Việt Nam, thông qua Nghị quyết cùng cam kết ủng hộ.

Ý nghĩa của ngày Quốc tế Hạnh phúc

Mục đích của ngày Quốc tế Hạnh phúc 20 tháng 3 là biểu tượng hành động để gia tăng nhận thức của dư luận thế giới trong việc công nhận hạnh phúc là một trong những chỉ tiêu phát triển toàn cầu nhằm xây dựng một thế giới hài hòa, cân bằng, hạnh phúc cho mọi người trên trái đất.

Tổng thư ký Ban Ki-moon khẳng định: “Chúng ta cần một mô hình kinh tế mới mà ở đó các bên phải công nhận sự phát triển bền vững của cả ba trụ cột xã hội, kinh tế và môi trường trong lành. Các yếu tố này kết hợp với nhau sẽ tạo ra khái niệm chỉ số chung về hạnh phúc toàn cầu”.

Vì sao chọn 20/3 làm ngày Hạnh phúc?

Ngày 20 tháng 3 sở dĩ được chọn làm ngày “Quốc tế Hạnh phúc” vì giao thời của đêm 19 tháng 3 đến đêm  21 tháng 3 thuộc tiết Xuân phân tại Đông Á. Đây là khi mặt trời nằm ngang với đường xích đạo nên trong ngày này, ngày và đêm có độ dài bằng nhau. Điều đó biểu tượng cho sự cân bằng âm dương, hài hòa vũ trụ. Đó là thời điểm tính giao cân bằng âm dương và quý nhất, hạnh phúc nhất của các cặp vợ chồng theo thuật số chiêm tinh cổ đại. Việc lựa chọn ngày 20 tháng 3 hàng năm làm ngày “Quốc tế Hạnh phúc” nhằm truyền tải thông điệp rằng cân bằng, hài hòa là một trong những chìa khóa để mang đến hạnh phúc.

Hai mươi tư tiết khí
Kinh độ Tiết khí Dương lịch
Xuân
315° Lập xuân 45/2
330° Vũ thủy 1819/2
345° Kinh trập 56/3
Xuân phân 2021/3
15° Thanh minh 45/4
30° Cốc vũ 2021/4
Hạ
45° Lập hạ 56/5
60° Tiểu mãn 2122/5
75° Mang chủng 56/6
90° Hạ chí 2122/6
105° Tiểu thử 78/7
120° Đại thử 2223/7
Thu
135° Lập thu 78/8
150° Xử thử 2324/8
165° Bạch lộ 78/9
180° Thu phân 2324/9
195° Hàn lộ 89/10
210° Sương giáng 2324/10
Đông
225° Lập đông 78/11
240° Tiểu tuyết 2223/11
255° Đại tuyết 78/12
270° Đông chí 2122/12
285° Tiểu hàn 56/1
300° Đại hàn 2021/1

Xuân phân, theo lịch Trung Quốc cổ đại, là điểm giữa của mùa xuân, nó là một trong hai mươi tư tiết khí trong nông lịch và tiết khí này bắt đầu từ điểm giữa mùa xuân. Theo định nghĩa này, thời điểm bắt đầu của nó trùng với khái niệm điểm xuân phân (tiếng Anh: Vernal equinox) tại Bắc bán cầu theo quan điểm của khoa học phương Tây.

Theo quy ước, tiết Xuân phân là khoảng thời gian bắt đầu từ khoảng gần nửa đêm 19 đến rạng ngày 20 tháng 3 và kết thúc vào khoảng ngày 4 hay 5 tháng 4 trong lịch Gregory theo các múi giờ Đông Á khi tiết Thanh minh bắt đầu.

Tuy nhiên, theo khoa học phương Tây thì điểm xuân phân lại là thời điểm bắt đầu mùa xuân tại Bắc bán cầu, thời điểm mà Mặt Trời xuất hiện trên “thiên xích đạo” (Mặt Trời ở gần xích đạo nhất) và đi lên hướng Bắc. Thuật ngữ này cũng được sử dụng để chỉ một điểm trên bầu trời là điểm đầu tiên của cung Bạch Dương trong Hoàng đạo. Về mặt thời gian, xuân phân diễn ra vào khoảng 19 tháng 3 đến 21 tháng 3, thời gian chính xác của nó là khoảng 5 giờ 49 phút muộn hơn so với năm trước trong những năm thường và khoảng 17 giờ 26 phút sớm hơn trong những năm nhuận. (Xem thêm chu kỳ 400 năm của năm nhuận để biết thêm về sai số trong lịch Gregory).

Nam bán cầu thì thời điểm giao thời này cũng khoảng thuộc đêm 19 tháng 3 đến rạng ngày 20 tháng 3 đó là điểm thu phân.

Theo khoa học thiên văn phương Tây, điểm mà Mặt Trời vượt qua xích đạo bầu trời đi về hướng Bắc gọi là điểm đầu tiên của cung Bạch Dương. Tuy nhiên, theo độ chính xác của các điểm phân, điểm này hiện không còn ở trong chòm Bạch Dương nữa mà đang ở trong cung Song Ngư. Đến khoảng năm 2600 nó sẽ ở trong cung Bảo Bình (do đó có thuật ngữ “kỷ nguyên Bảo Bình”). Tại Nam bán cầu, điểm phân này diễn ra cùng thời điểm nhưng nó là điểm bắt đầu của mùa thu tại bán cầu này.

Sự chiếu sáng Trái Đất bởi Mặt Trời vào ngày Xuân phân và Thu phân được thể hiện ở hình trên đây . Đêm 19 tháng 3 đến ngày 20 tháng 3, lưu ý vị trí của Việt Nam tại  điểm cực đông và chuyển động của mặt trời. Tại điểm xuân phân, người quan sát sẽ thấy Mặt Trời khi đó mọc “chính xác” ở phía Đông và lặn “chính xác” ở phía Tây. Xuân phân là thời điểm giao hòa cân bằng hài hòa trời đất âm dương vũ trụ và con người. Sau xuân phân Mặt Trời có xu hướng mọc và lặn mỗi ngày nhích dần về phía bắc.

Ngày hạnh phúc tại Việt Nam và thế giới
Đối với Việt Nam tiêu chí “hạnh phúc” đã được Hồ Chí Minh chọn làm tôn chỉ quốc gia: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa . Độc lập, Tự do, Hạnh phúc” . Điều này được học theo gương sáng của nhà lập quốc và minh triết vĩ đại Tôn Trung Sơn, người sáng lập học thuyết “Tam Dân” (Dân tộc Độc lập, Dân quyền Tự do, Dân sinh Hạnh phúc).

Hồ Chí Minh nói: “..Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Jêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của các vị ấy”. Trích “Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng”, NXB Khoa học xã hội, H.1996, tr. 152. Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Tuy vậy, ngày 20 tháng 3 năm 2014 nước Việt Nam mới lần đầu tiên chính thức vinh danh ngày Quốc tế Hạnh phúc tại Quyết định số 2589/QĐ-TTg ngày 26/ 12/ 2013 của Thủ tướng Chính phủ  phê duyệt Đề án “Tổ chức các hoạt động nhân Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20 tháng 3 hằng năm”.

Đối với một số quốc gia trên thế giới, thời điểm xuân phân từ 19 tháng 3 đến  21 tháng 3 là ngày hội. Lễ hội Norouz (lễ hội năm mới hay lễ hội đầu xuân) của Iran được tổ chức vào ngày này, đạo Bahai gọi lễ này là Naw-Rúz; ngoài ra còn có lễ hội Ostara của đạo Wicca, một trong tám lễ hội Sabbat của những người theo đạo đa thần giáo kiểu mới. Tại Nhật Bản ngày Xuân phân (春分の日) là ngày lễ chính thức của quốc gia để mọi người đi tảo mộ và đoàn tụ gia đình. Lễ Phục sinh ở các nước theo Cơ đốc giáo được tổ chức vào ngày chủ nhật đầu tiên ngay sau khi trăng tròn kể từ ngày Xuân phân. Năm mới Tamil được tổ chức sau ngày Xuân phân. Nó được tổ chức tại bang miền nam Ấn Độ (Tamil Nadu).
Ngày Hành phúc và Ngày Trái Đất
Ngày Xuân phân hàng năm, ngày Hạnh phúc cũng chính là Ngày Trái Đất được kỷ niệm vào ngày Xuân phân hàng năm kể từ ngày đầu tiên là 21 tháng 3 năm 1970. Mục đích Ngày Trái Đất nhằm nâng cao nhận thức về giá trị môi trường tự nhiên Trái Đất. Ngày Trái Đất được tài trợ bỏi thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Gaylord Nelson tại hội thảo môi trường được tổ chức lần đầu vào 22 tháng 4 năm 1970. Trong khi Ngày Trái Đất đầu tiên tại nước Mỹ, đã được Denis Hayes, nguyên là điều phối viên toàn quốc tổ chức lần đầu năm 1970, đưa nó lên tầm quốc tế vào năm 1990 và tổ chức các sự kiện ở 141 quốc gia.[1][2] Ngày Trái Đất giờ đây được điều phối toàn cầu bởi Mạng Ngày Trái Đất[3] và được tổ chức hàng năm tại hơn 175 nước.[4] Nhiều cộng đồng còn tổ chức Tuần Trái Đất, một tuần của các hoạt động xoay quanh các vấn đề môi trường. Năm 2009, Liên hợp quốc chọn ngày 22 tháng 4 là ngày Quốc tế Mẹ Trái Đất.[5]

Nelson đã truyền bá ý tưởng về Ngày Trái Đất tại một buổi hội thảo quốc gia về môi trường ở Mỹ.[8]

“I am convinced that all we need to do to bring an overwhelming insistence of the new generation that we stem the tide of environmental disaster is to present the facts clearly and dramatically. To marshal such an effort, I am proposing a national teach-in on the crisis of the environment to be held next spring on every university campus across the Nation. The crisis is so imminent, in my opinion, that every university should set aside 1 day in the school year-the same day across the Nation-for the teach-in”.[8] “Tôi tin rằng tất cả chúng ta cần phải hành động ngay để mang lại một sự sức mạnh thay đổi của thế hệ mới mà chúng tôi ngăn chặn xu hướng của thảm họa môi trường để trình bày sự thật rõ ràng và đáng kể. Để sắp xếp một nỗ lực như vậy, tôi đề xuất một quốc gia giảng dạy về cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về môi trường được tổ chức vào mùa xuân tới trên tất cả các khuôn viên trường đại học trên khắp các quốc gia. Cuộc khủng hoảng sắp xảy ra như vậy, theo ý kiến ​​của tôi, rằng tất cả các trường đại học nên dành một ngày trong các trường năm trong cùng một ngày trên toàn quốc để giảng dạy về điều này.”

Ngày Trái Đất tỏ ra tự phát và tự nó phát triển:

Ngày Trái Đất thành công nhờ phản ứng tự nguyện của tầng lớp thường dân. Chúng tôi không có thời gian hay nguồn lực để tổ chức 20 triệu người biểu tình và hàng nghìn trường học và các cộng đồng địa phương tham gia. Đó là điều đáng chú ý về Ngày Trái Đất. Nó tự tổ chức.[15]

Official Earth Week logo that was used as the backdrop for the prime time CBS News Special Report with Walter Cronkite about Earth Day 1970.[16]

Ngày 22 tháng 4 năm 1970, Ngày Trái Đất đánh dấu sự khởi đầu của cuộc vận động vì môi trường hiện đại. Xấp xỉ 20 triệu người Mỹ tham gia. Hàng ngàn trường đại học và cao đẳng tổ chức biểu tình chống lại sự xuống cấp của môi trường. Các nhóm người chống tràn dầu, các công xưởng và nhà máy điện ô nhiễm, nước thải không qua xử lý, chất độc hoá học, thuốc trừ sâu, sự suy giảm vùng hoang dã và ô nhiễm không khí bỗng chốc nhận ra họ có chung mục đích.
Ngày Trái Đất xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng qua bài báo cáo đặc biệt dài một tiếng vào giờ vàng của CBS mang tên “Ngày Trái Đất: Vấn đề của sự tồn tại” [16]

Ngày Trái Đất đã chứng tỏ sự rộng rãi ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới. Ngày Trái Đất đầu tiên có sự tham dự và ủng hộ của hai nghìn trường đại học và cao đăng, gần 10 nghìn trường tiểu học và cấp hai và hàng trăm cộng động dọc nước Mỹ. Quan trọng hơn, nó “đưa 20 nghìn người Mỹ ra khỏi nhà trong ánh nắng của mùa xuân cho một cuộc tuần hành hoà bình ủng hộ môi trường.” [18]
Thượng nghị sĩ Nelson tuyên bố rằng Ngày Trái Đất thành công nhờ phản ứng của tầng lớp bình dân.[19] Ông gắn Ngày Trái Đất với việc thuyết phục các chính trị gia Hoa Kỳ rằng luật môi trường nhận được sử ủng hộ quan trọng và lâu dài của cử tri.

Ngày Trái Đất 2010 diễn ra đồng thời với Hội nghị Nhân dân Thế giới về Biến đổi Khí hậu, tổ chức ở Cochabamba, Bolivia, và Năm Đa dạng Sinh học.

Điều kì diệu của hạnh phúc

Hạnh phúc là gì? Theo định nghĩa của Từ điển bách khoa Việt : “Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí.”

Hạnh phúc là tất cả những gì chúng ta đang có. Hạnh phúc là cái ta đang nắm trong tay, là đoạn đường cùng nhau bước tới, bên nhau cho dù khó khăn vất vả trên trường đời… Có những trang web hay nói về điều này : Ngày quốc tế hạnh phúc 20.3: 12 bí kíp để vui sống!; Việt Nam hướng ứng Ngày Quốc tế Hạnh Phúc 20/3

Thầy Giáo Già đã có tản mạn về hạnh phúc thật thú vị:

Hạnh phúc, sung sướng là hai từ gần nghĩa nhưng điểm khác biệt là hạnh phúc liên quan đến lý trí, sự mang lại tình yêu, thành công, danh tiếng, sự yêu mến còn sung sướng liên quan đến bản năng, được mang lại bởi sự tiện nghi, giàu sang, thỏa mãn các bản năng cơ bản như ăn uống, vui chơi, sinh hoạt tình dục…

K. Mác nói: “Người hạnh phúc nhất là người đem đến hạnh phúc cho nhiều người nhất…”. Nhà triết học Platon nói: “Nếu coi thỏa mãn vật chất là hạnh phúc thì ta có thể xem con bò là hạnh phúc…”

Hạnh Phúc chiết tự từ Happiness, đó là: H – Healthy (Sống khỏe), A – Attitude (Sống có đức tin), P – Present (Sống cho hiện tại), P – Play (Sống vui) , I – Inward (Sống nội tâm), N – Nut (Sống thật như hạt), E – Express Yourself (Hãy là chính mình), S – Simple (Sống đơn giản), S – Smile (Luôn mỉm cười)

Chỉ số hành tinh hạnh phúc (Happy Planet Index, viết tắt HPI) do NEF (New Economics Foundation – Anh) công bố. Chỉ số này nói lên mối quan hệ giữa tuổi thọ, cảm giác thoải mái và các hành vi tác động đến môi trường. Những tiêu chí do NEF đưa ra khác với các chỉ số GDP (tổng sản phẩm quốc nội), HDI (chỉ số phát triển con người).

Theo bảng xếp hạng năm 2006, Việt Nam đứng ở vị trí số 12 trên thế giới và cao nhất Châu Á. Trong 30 nước dẫn đầu phần lớn là các nước đang phát triển, 2 quốc gia thuộc Đông Nam Á khác là Philippin và Indonesia lần lượt nắm các vị trí 17 và 25.

Bhutan là quốc gia đã ghi nhận uy thế của hạnh phúc quốc gia hơn là thu nhập quốc gia từ những năm đầu tiên của thập kỷ 70 thế kỷ 20 và nổi tiếng với việc thực thi mục tiêu tổng hạnh phúc quốc gia thay vì tổng sản phẩm quốc nội. Quan niệm về hạnh phúc cấu thành từ ba trụ cột: kinh tế phát triển bền vững,  xã hội dân chủ công bằng, môi trường trong lành xanh sạch.

Đại diện quốc gia Bhutan cho rằng nhu cầu về Ngày Hạnh phúc này là đối với tất cả quốc gia và con người trên toàn thế giới để có những bước vượt lên trên sự khác biệt giữa các nước và con người trên toàn thế giới và liên kết, đoàn kết toàn nhân loại.

Giấc mơ hạnh phúc

 Tùy theo quan niệm và nhận thức của mỗi người về giấc mơ hạnh phúc . Trang Tình yêu cuộc sống của Hoàng Kim có một định nghĩa khá thú vị về điều này:

GIẤC MƠ HẠNH PHÚC

Hoàng Kim

nhắm mắt lại đi em
để thấy rõ giấc mơ hạnh phúc
trời thanh thản xanh
đêm nồng nàn thở
ta có nhau trong cuộc đời này
nghe hương tinh khôi đọng mật
quyến rũ em và khát khao anh
mùi ngây ngất đằm sâu nỗi nhớ
một tiếng chuông ngân
thon thả đầu ghềnh

nhắm mắt lại đi em
hạnh phúc đâu chỉ là đích đến
hạnh phúc là con đường trãi nghiệm
vỗ về, chờ đợi, nhớ thương

nhắm mắt lại đi em
trong giấc mơ của anh
có em và rừng thiêng cổ tích
có suối nước trong veo như ngọc
có vườn trúc và ngôi nhà tranh
có một đàn trẻ thơ tung tăng
heo gà chó mèo ngựa trâu
nhởn nhơ trên đồng cỏ
tươi xanh

nhắm mắt lại đi em,
tận hưởng thú an lành

*

Hạnh phúc thay cho ai thấu hiểu giá trị đích thực của  sự cân bằng hài hòa hạnh phúc, ba trụ cột của quan niệm hạnh phúc mới, Ngày Quốc tế Hạnh Phúc, Ngày Trái Đất, Bí ẩn Cung Hoàng Đạo, Ngày Xuân Phân 19 – 21/3,  Nhân Duyên và Tam Hợp, thông điệp tình yêu cuộc sống.

Hoàng Kim
(tổng hợp)

Advertisements

Bí ẩn cung hoàng đạo

Cung hoàng đạo là gì ? Chiêm tinh học giải đoán thế nào về mẫu hình của người chồng/ vợ lý tưởng ở 12 cung hoàng đạo?  Theo bạn 12 cung hoàng đạo có quan hệ thế nào đến tính cách, số phận của con người? Mời đọc và suy ngẫm.

Cung Hoàng Đạo là gì?

Cung Hoàng Đạo tại mục từ Hoàng Đạo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trái Đất trong quỹ đạo quanh mặt trời và vị trí những chòm sao cung hoàng đạo

12 biểu tượng cung Hoàng Đạo trên tranh khắc gỗ thế kỷ 16

Trong chiêm tinh họcthiên văn học thời cổ, các cung Hoàng Đạo là một vòng tròn 360o và được phân chia làm 12 nhánh, mỗi nhánh tương ứng với một cung, góc 30o. Cung Hoàng Đạo tạo ra bởi các nhà chiêm tinh học Babylon cổ đại từ những năm 1645 trước Công nguyên. Vòng tròn 12 cung Hoàng Đạo hoàn hảo với 12 cung tương xứng với bốn mùa và 12 tháng. Các cung được phân chia làm bốn nhóm yếu tố (Lửa, Nước, Khí, Đất), mỗi nhóm yếu tố gồm 3 cung đại diện cho các cung có tính cách tương đồng với nhau.

Theo các nhà thiên văn học thời cổ đại, trong khoảng thời gian chừng 30 – 31 ngày, Mặt Trời sẽ đi qua một trong mười hai chòm sao đặc biệt. Ai sinh ra trong thời gian Mặt Trời đi qua chòm sao nào thì họ sẽ được chòm sao đó chiếu mệnh và tính cách của họ cũng bị chòm sao ảnh hưởng nhiều. 12 chòm sao tạo thành 12 cung trong vòng tròn Hoàng đạo, có nghĩa “Đường đi của mặt trời”. Theo phương Tây, vòng tròn này tên là Horoscope. Tiếng Hy LạpZodiakus Kyklos (ζωδιακός κύκλος) – “Vòng tròn của các linh vật.” [1]

Nhiều nhà khoa học hiện đại xem chiêm tinh học là trò mê tín dị đoan.[2] Tuy nhiên, chiêm tinh học vẫn giữ vị trí trọng yếu trong nghiên cứu về “số phận đời người” của phương Tây, vẫn tồn tại ở ngay cả những nước mà tại đó chiêm tinh học bị cấm.[3]

Lịch sử

Thời kỳ đầu

Sự phân chia vòng tròn hoàng đạo ra làm 12 cánh, mỗi cánh một kí tự được hình thành bởi các nhà thiên văn Babylon cổ đại vào thiên niên kỷ 1 TCN. Mỗi cánh có độ quay 30o tương ứng với một tháng trong lịch Babylon cổ. Các nhà thiên văn Babylon cũng đặt cho mỗi cung hoàng đạo một ký tự. Trong đó, cánh đầu tiên có tên là Bạch Dương (Aries), ký tự là một con cừu núi.[4] Dần dần sau này, Hoàng Đạo đã có ảnh hưởng lớn hơn vào thời Hy LạpLa Mã cổ đại. Việc sử dụng Hoàng Đạo để tiên đoán về tính cách, sự nghiệp,… vào thời kì này trở nên khá phổ biến. Nó có ảnh hưởng tới tận vào thời Trung Cổ sau này.

Thời Hy Lạp cổ đại

Cách phân chia của Babylon du nhập vào chiêm tinh học Hy Lạp vào thế kỷ 4 TCN.[5][6] Chiếm tinh số mệnh xuất hiện lần đầu tại Ai Cập thuộc Hy Lạp. Cung Hoàng Đạo Dendera (khoảng năm 50 TCN) là mô tả sớm nhất về 12 cung Hoàng Đạo.

Đóng vai trò quan trọng trong chiêm tinh học số mệnh của phương Tây là nhà thiên văn học kiêm chiêm tinh học Claudius Ptolemaeus với tác phẩm Tetrabiblos được xem là nền tảng của chiêm tinh học phương Tây.[7]

Mười hai cung Hoàng Đạo

Điểm khởi đầu theo lý thuyết của cung Bạch Dương là xuân phân. Các cung khác cứ thế nối tiếp. Ngày giờ chính xác theo lịch Gregory thường khác biệt chút ít từ năm này sang năm khác, bởi lẽ lịch Gregory thay đổi tương ứng với năm chí tuyến,[Ghi chú 1] trong khi độ dài năm chí tuyến có bản chất thay đổi đều đều. Trong quá khứ gần đây và tương lai không xa thì các sai khác này chỉ vào khoảng dưới hai ngày. Từ năm 1797 đến năm 2043, ngày xuân phân (theo giờ UT – Universal Time) luôn rơi vào ngày 20 hoặc 21 tháng 3. Ngày xuân phân từng rơi vào ngày 19 tháng 3, gần đây nhất vào năm 1796 và lần tới là năm 2044.[Ghi chú 2]

12 cung hoàng đạo
 
STT Tên Latinh Tên
thường
gọi
Tên
chòm sao tương ứng
Nghĩa/
biểu tượng
Hoàng đạo dương lịch (năm 2011)
1 Aries Bạch Dương
Tên khác: Dương Cưu
Bạch Dương Aries.svg Con cừu có bộ lông vàng 21/3 – 20/4
2 Taurus Kim Ngưu Kim Ngưu Taurus.svg Con trắng (do thần Zeus biến thành) 21/4 – 21/5
3 Gemini Song Tử
Tên khác: Song Nam, Song Sinh
Song Tử Gemini.svg Hai cậu bé song sinh (đôi lúc là hai cô bé) 22/5 – 21/6
4 Cancer Cự Giải
Tên khác: Bắc Giải
Cự Giải Cancer.svg Con cua 22/6 – 22/7
5 Leo Sư Tử Sư Tử Leo.svg Con sư tử 23/7 – 22/8
6 Virgo Xử Nữ
Tên khác: Thất Nữ, Trinh Nữ
Thất Nữ Virgo.svg Trinh nữ 23/8 – 23/9
7 Libra Thiên Bình
Tên khác: Thiên Xứng
Thiên Xứng Libra.svg Cái cân 24/9 – 23/10
8 Scorpio Hổ Cáp
Tên khác:Thiên Hạt, Thần Nông, Bọ Cạp
Thiên Hạt Scorpio.svg Con bọ cạp 24/10 – 22/11
9 Sagittarius Nhân Mã
Tên khác: Xạ Thủ, Cung Thủ
Nhân Mã Sagittarius.svg Nửa trên là người, nửa dưới là ngựa, cầm cung 23/11 – 21/12
10 Capricornus Ma Kết
Tên khác: Nam Dương
Ma Kết Capricorn.svg Con biển 22/12 – 20/1
11 Aquarius Bảo Bình
Tên khác: Thủy Bình
Bảo Bình Aquarius.svg Người mang nước 21/1 – 19/2
12 Pisces Song Ngư Song Ngư Pisces.svg Hai con cá bơi ngược chiều 20/2 – 20/3

Bốn nhóm Hoàng Đạo và ngôi sao chiếu mệnh của từng cung

Vòng tròn Hoàng đạo chia thành 12 cung, phân ra bốn nguyên tố đã tạo ra của thế giới theo quan niệm cổ phương Tây: đất, lửa, nước, khí. Cứ ba cung là được xếp vào một nhóm nguyên tố, những cung cùng chung nhóm luôn tương hợp nhau nhất. Tuy nhiên, không phải hai cung khác nhóm lúc nào cũng kị nhau. Điển hình là nhóm Đất có thể kết hợp hài hòa cùng nhóm Nước và nhóm Lửa tương đối thích hợp với nhóm Khí.

Đầu mùa Giữa mùa Cuối mùa Đặc điểm
Nguyên tố Lửa Bạch Dương Sư Tử Nhân Mã Tính cách người nhóm lửa đặc biệt nồng cháy, đam mê, nông nổi nhưng gan dạ.
Nguyên tố Đất Ma Kết Kim Ngưu Xử Nữ Những người nhóm đất rất chung thủy, cần cù, ôn hòa và khoan thai.
Nguyên tố Khí Thiên Bình Bảo Bình Song Tử Nhóm này yêu tự do, thông minh, tính tình phóng khoáng, tư tưởng cấp tiến.
Nguyên tố Nước Cự Giải Hổ Cáp Song Ngư Người nhóm nước thường nhạy cảm, dễ bị tổn thương, có thiên hướng nghệ thuật.

Sao chiếu mệnh các cung

12 cung tương ứng với 12 ngôi saohành tinh, bao gồm cả Diêm Vương Tinh đã bị loại khỏi danh sách các hành tinh của hệ Mặt Trời:

  1. Cung Bạch Dương được Hỏa Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần chiến tranh Mars trong thần thoại La Mã (Ares của thần thoại Hi Lạp).
  2. Cung Kim Ngưu được Kim Tinh bảo hộ, tượng trưng cho nữ thần Venus (Aphrodite của thần thoại Hi Lạp.)
  3. Cung Song Tử được Thủy Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần đưa tin Mercury (Hermes).
  4. Cung Cự Giải được Mặt Trăng bảo hộ, tượng trưng cho nữ thần hôn nhân gia đình Junon (Hera trong thần thoại Hi Lạp)
  5. Cung Sư Tử được Mặt Trời bảo hộ, tượng trưng cho thần mặt trời Helios, sự trung trực, uy quyền và sức mạnh.
  6. Cung Xử Nữ được Thủy Tinh bảo hộ, tượng trưng cho trí tuệ, lòng chung thủy nhưng quá cầu toàn nguyên tắc.
  7. Cung Thiên Bình được Kim Tinh bảo hộ, cung này biểu tượng cho sắc đẹp, sự quyến rũ, công bằng. Tượng trưng cho nữ thần Venus.
  8. Cung Hổ Cáp Diêm Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho Pluto (Hades), thần cai quan âm phủ.
  9. Cung Nhân Mã được Mộc Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần sấm sét Jupiter (Zeus).
  10. Cung Ma Kết được Thổ Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần thời gian Saturn (Cronos).
  11. Cung Bảo Bình được Thiên Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần bầu trời Uranus.
  12. Cung Song Ngư được Hải Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần biển Neptune (Poseidon).

Mẫu hình người chồng lý tưởng cho người nữ ở 12  cung Hoàng Đạo

Mẫu hình người chồng lý tưởng mà người nữ thích chọn làm chồng ở 12 cung Hoàng Đạo ?

Bạch Dương

Bạch Dương có cá tính vô tư và trẻ con nên nàng sẽ dễ bị thu hút bởi mẫu đàn ông cứng rắn, chủ động và nổi bật. Ấy thế nhưng khi chọn đức lang quân tương lai, Bạch Dương lại thiên về những người trưởng thành, có chủ kiến và thông minh. Nàng Bạch Dương trẻ thơ sẽ muốn dành trọn đời bên người có thể chăm sóc và quan tâm nàng. Những chàng trai nổi bật hay ham chơi có thể thu hút nàng khi còn trẻ nhưng người nàng chọn làm chồng sẽ là người tinh tế, có sự lãng mạn và mạnh mẽ trong tính cách.

Kim Ngưu

Kim Ngưu thường phải lòng các chàng trai lớn tuổi hơn mình rất nhiều. Khi yêu, Kim Ngưu hướng đến mẫu đàn ông lãng mạn và mơ mộng. Ấy thế nhưng đức lang quân mà nàng kiếm tìm lại là người thật chắc chắn, vững chãi và có thể làm chỗ dựa cho nàng. Đó sẽ là người có phong thái, cổ điển, truyền thống và có địa vị trong xã hội. Người chồng tương lai của Kim Ngưu là người có thể dang rộng vòng tay bảo vệ che chở nàng và gia đình nàng.

Song Tử

Song Tử quảng giao và quen biết nhiều có thể có nhiều mối quan hệ lãng mạn khi còn trẻ. Ấy thế nhưng nói về đức lang quân của nàng đó phải là một người thông minh, dí dỏm, thú vị và đặc biệt. Đó là người có vốn kiến thức sâu rộng và có thể chia sẻ với nàng mọi điều trong cuộc sống. Đó phải là người có thể tùy cơ ứng biến, linh hoạt, sắc bén và có khả năng đối đáp với nàng và cuộc hội thoại của nàng.

Cự Giải

Cự Giải dễ phải lòng các chàng trai nhạy cảm, trầm tính và ngọt ngào. Thế nhưng tiêu chuẩn để người đàn ông ấy trở thành chồng của nàng và chia sẻ cuộc đời với nàng thì lại hoàn toàn khác. Đó phải là một người đàn ông mạnh mẽ, nồng nhiệt, có khả năng bảo vệ bản thân và gia đình. Chàng có thể trông trầm tính nhưng trái tim của chàng phải luôn nóng ấm, và bên trong chàng phải thật mạnh mẽ để có thể làm chủ gia đình và bảo đảm hạnh phúc cho nàng Cự Giải nhỏ bé.

Sư Tử

Ban đầu khi yêu, Sư Tử sẽ dễ bị hút bởi một quý ông lịch lãm, bảnh bao và tự tin. Chàng trai có thể làm trái tim Sư Tử rung rinh hẳn sẽ là một người đàn ông danh giá, kiêu hãnh và vô cùng thu hút. Ấy thế nhưng để nàng Sư Tử lựa chọn là người bạn đời thì chàng trai lại phải có sự thông minh và ngọt ngào nhất định trong tính cách. Sư Tử chọn chồng qua hành động chứ chẳng phải qua vẻ ngoài ban đầu mà anh ấy thể hiện. Chồng tương lai của Sư Tử sẽ là người biết tôn trọng người khác, biết nói lời ngọt ngào với nàng và không tiếc lời ca ngợi nàng mỗi ngày.

Xử Nữ:

Điều cô gái Xử Nữ quan tâm là bản chất thật của một chàng trai. Nếu ban đầu bạn xuất hiện gọn gàng, lịch sự và giản dị thì bạn sẽ dễ dàng ghi điểm trong mắt Xử Nữ. Thế nhưng tiêu chuẩn chọn chồng của Xử Nữ thì cao hơn thế nhiều. Đó phải là một chàng trai nhiệt tình, tinh tế, khoan dung, rộng lượng, tỉ mỉ và cẩn thận trong mọi việc. Xử Nữ thực tế kiếm tìm những chàng trai có năng lực, tử tế và có thể chăm sóc nàng cũng như đem lại cho nàng một cuộc sống hoàn hảo.

Ghi chú

  1. ^ Lịch Gregory được xây dựng để làm thỏa mãn các giám mục trong Công đồng Nicaea I. Ngày xuân phân được định là ngày 21 tháng 3, tuy nhiên không thể giữ xuân phân cố định vào một ngày trong điều kiện có sự tồn tại của ngày 29 tháng 2.
  2. ^ Xem Jean Meeus, Astronomical Tables of the Sun, Moon, and Planets, 1983, xuất bản bởi Willmann-Bell, Inc., Richmond, Virginia. Ngày có thể sẽ khác đi nếu xét ở các múi giờ khác.
  3. Để thực hiện Âm Dương đối lịch cần nắm vững tiết khí Đông chí

    Đông chí

    xem Đông Chí Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
    Hai mươi tư tiết khí
    Kinh độ Tiết khí Dương lịch
    Xuân
    315° Lập xuân 45/2
    330° Vũ thủy 1819/2
    345° Kinh trập 56/3
    Xuân phân 2021/3
    15° Thanh minh 45/4
    30° Cốc vũ 2021/4
    Hạ
    45° Lập hạ 56/5
    60° Tiểu mãn 2122/5
    75° Mang chủng 56/6
    90° Hạ chí 2122/6
    105° Tiểu thử 78/7
    120° Đại thử 2223/7
    Thu
    135° Lập thu 78/8
    150° Xử thử 2324/8
    165° Bạch lộ 78/9
    180° Thu phân 2324/9
    195° Hàn lộ 89/10
    210° Sương giáng 2324/10
    Đông
    225° Lập đông 78/11
    240° Tiểu tuyết 2223/11
    255° Đại tuyết 78/12
    270° Đông chí 2122/12
    285° Tiểu hàn 56/1
    300° Đại hàn 2021/1

    Tiết Đông chí, theo lịch Trung Quốc cổ đại, là tiết khí khởi đầu bằng điểm giữa của mùa đông, nó là một trong hai mươi tư tiết khí trong nông lịch. Theo định nghĩa này, điểm bắt đầu của nó trùng với điểm đông chí (tiếng Anh: Winter solstice) tại Bắc bán cầu theo quan điểm của khoa học phương Tây. Tuy nhiên, theo khoa học phương Tây thì nó là điểm bắt đầu của mùa đông tại Bắc bán cầu và tương ứng là bắt đầu mùa hèNam bán cầu, thời điểm mà Mặt Trời xuống tới điểm thấp nhất về phía nam trên bầu trời để sau đó bắt đầu quay trở lại phía bắc.

    Theo quy ước, tiết đông chí là khoảng thời gian bắt đầu từ khoảng ngày 21 hay 22 tháng 12 khi kết thúc tiết đại tuyết và kết thúc vào khoảng ngày 5 hay 6 tháng 1 trong lịch Gregory theo các múi giờ Đông Á khi tiết tiểu hàn bắt đầu.

    Theo thuật ngữ thiên văn học phương Tây, đó là thời điểm có liên quan đến vị trí của hành tinh trên quỹ đạo quanh Mặt Trời. Nó là lúc kinh độ Mặt Trời bằng 270 độ ở Bắc bán cầu.

    Trên Trái Đất

    Định nghĩa một: Tại Bắc bán cầu, ngày đông chí là ngày mà khoảng thời gian ban ngày ngắn nhất và thời gian ban đêm dài nhất. Thời gian này thông thường rơi vào ngày 21 tháng 12 hoặc 22 tháng 12. Khi đó tại Nam bán cầu thì khoảng thời gian ban ngày lại là dài nhất. Tuy nhiên cách định nghĩa này có phần không rõ ràng do độ nghiêng lớn nhất của trục quay Trái Đất là xấp xỉ 23,45° nên đối với những người quan sát ở các vĩ độ cao hơn 66,55° vĩ bắc sẽ thấy thời gian ban đêm trong những ngày cận kề trước và sau ngày đông chí ở nửa bán cầu này có thể kéo dài đến 24 h (Xem thêm ban đêm vùng cực để biết thêm chi tiết). Ngược lại, ở Nam bán cầu, đối với những người quan sát ở các vĩ độ cao hơn 66,55° vĩ nam sẽ thấy thời gian ban ngày trong những ngày cận kề với ngày đông chí ở Bắc bán cầu có thể kéo dài đến 24 h (Xem thêm ban ngày vùng cực để biết thêm chi tiết). Do vậy không thể biết chính xác ngày nào là ngày hạ chí theo kiểu định nghĩa này.

    Sự chiếu sáng của Mặt Trời cho Trái Đất vào ngày Đông chí ở Bắc bán cầu

    Định nghĩa hai: Ngày đông chí là ngày chứa điểm đông chí tính theo múi giờ địa phương. Theo quan điểm của người Trung Hoa và các dân tộc chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc cổ đại thì ngày Đông chí là phù hợp với các tính toán của thiên văn học đối với Bắc bán cầu. Xem thêm tiết khí. Ngày Đông chí là một yếu tố quan trọng để xác định ngày Tết Nguyên Đán cũng như xác định tháng nhuận trong âm lịch Trung Quốc v.v.

    Quy tắc đó là: Ngày Đông chí của bất kỳ năm âm lịch nào cũng phải rơi vào tháng 11 (là tháng một hay tháng Tý) của âm lịch.

    Giữa mùa đông là khoảng thời gian quanh ngày Đông chí đối với nhiều nước, tuy có ngoại lệ như Mỹ thì Đông chí lại là ngày bắt đầu mùa đông. Có nhiều lễ hội truyền thống được tổ chức vào ngày Đông chí như Lễ hội Yule của đạo Wicca, một trong tám lễ hội Sabbat của những người theo đạo đa thần giáo kiểu mới (neopagan) này. Rất nhiều nền văn hóa khác cũng tổ chức lễ hội vào ngày này hoặc xung quanh ngày này như lễ hội lễ hội Yalda, lễ hội Saturnalia, lễ Giáng Sinh, Hanukkah, lễ hội Festivus, lễ hội Kwanzaalễ hội HumanLight.

    Xem thêm

    Ghi chú

Tham khảo

  1. ^ Mayo (1979), tr. 35. (cần dẫn nguồn đầy đủ)
  2. ^ Baird, Penny; Baird, Penelope (2007). Hidden Zodiac: The Perfect Design for Gods and Heroes – A Study of the Formula of Astrology’s Twelve Houses and Great Narratives in European Civilisation. Janus Publishing Company. tr. 2. ISBN 9781857566918.
  3. ^ Nam Việt; Khánh Linh (2009). 12 cung hoàng đạo – Một cách nhìn về đời người. Hà Nội: Nhà xuất bản Thời đại. tr. 32.
  4. ^ Hugh Thurston, Early Astronomy, (New York: Springer-Verlag, 1994), tr. 135–137.
  5. ^ Rogers, John H. “Origins of the ancient constellations: I. The Mesopotamian traditions.” Journal of the British Astronomical Assoc. 108.1 (1998): 9–28. Astronomical Data Service.
  6. ^ Rogers, John H. “Origins of the ancient constellations: II. The Mesopotamian traditions.” Journal of the British Astronomical Assoc. 108.2 (1998): 79–89. Astronomical Data Service.
  7. ^ Saliba, George, 1994. A History of Arabic Astronomy: Planetary Theories During the Golden Age of Islam. New York: New York University Press. ISBN 978-0-8147-8023-7. tr. 67.

Liên kết ngoài

Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về Hoàng Đạo
Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Các cung chiêm tinh học phương Tây
Hoàng Đạo
Chiêm tinh học | Cung Hoàng Đạo
Bạch Dương Kim Ngưu Song Tử Cự Giải Sư Tử Xử Nữ Thiên Bình Hổ Cáp Nhân Mã Ma Kết Bảo Bình Song Ngư
Aries.svg Taurus.svg Gemini.svg Cancer.svg Leo.svg Virgo.svg Libra.svg Scorpio.svg Sagittarius.svg Capricorn.svg Aquarius.svg Pisces.svg
Thiên văn học | Các chòm sao của đường Hoàng Đạo
Bạch Dương Kim Ngưu Song Tử Cự Giải Sư Tử Thất Nữ Thiên Xứng Thiên Hạt Xà Phu Nhân Mã Ma Kết Bảo Bình Song Ngư